Thuật Ngữ Kinh Tế

A B C D E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Z Tất cả

Robbins, Lionel / (1898-1984)

Là nhà kinh tế học người Anh và là một nhân vật có nhiều ảnh hưởng, là giáo sư kinh tế tại trường Kinh tế London từ năm 1929 đến năm 1961. Trong thời gian này, Robbins có ảnh hưởng to lớn đối với cả sinh viên lẫn chính phủ, là người đi đầu trong việc hồi sinh tư duy kinh tế "tự do". Ông nhấn mạnh sự cần thiết về mặt lý thuyết và thực tế giữa kinh tế học CHUẨN TẮC và THỰC CHỨNG. Trong tác phẩm Luận bàn về bản chất và ý nghĩa của khoa học kinh tế (1953), nhấn mạnh đến khía cạnh sự khan hiếm trong mọi hành vi kinh tế. Câu nói nổi tiếng của Robbins đã tóm lại quan điểm này và trở thành một định nghĩa chuẩn về phạm vi nghiên cứu của kinh tế học:"Khoa học nghiên cứu hành vi của con người dựa trên cơ sở mối quan hệ giữa những mục tiêu và công cụ khan hiếm với những công dụng khác nhau".

Equity Contract Notes / Giấy Nợ Cho Hợp Đồng Vốn

Thuật ngữ này dùng để chỉ: Giấy nợ hay giấy nợ không có thế chấp bảo đảm (Debenture) do ngân hàng hay công ty chủ quản ngân hàng phát hành, là giấy nợ có thể chuyển đổi sang chứng khoán thường với giá chuyển đổi ấn định vào thời điểm trong tương lai.Nó còn được gọi là giấy nợ vốn. Giấy nợ vốn với điều khoản khả hoán quy định (Mandatory Convertible), quy định nhà phát hành sẽ đổi giấy nợ ra cổ phần chứng khoán thường, có đủ tiêu chuẩn là vốn cấp hai (Tier 2 capital) theo quy định vốn có rủi ro (Risk- based capital) được cơ quan lập pháp ngân hàng chấp nhận.

Rival / Tính Hữu Tranh; Tính Cạnh Tranh (Trong Tiêu Dùng)

Khi sự tiêu dùng của một cá nhân về một hàng hoá làm giảm số lượng hàng hoá đó mà những người khác có thể tiêu dùng.

Equity Commitment Notes / Giấy Nợ Cam Kết Về Vốn

Đây là giấy nợ vốn do ngân hàng hay công ty chủ quản ngân hàng phát hành.Quy định một lúc nào đó sẽ được thu hồi trước ngày đáo hạn bằng số tiền thu được từ số chứng khoán thường mới phát hành. Đây là loại trái phiếu được xem như là nợ trên quan điểm kế toán, nhằm chi trả cho tiền lãi được khấu trừ vào thuế và tính vào tỷ lệ quy định vốn / tài sản của nhà phát hành.

Risky Financial Asset / Tài Sản Tài Chính Rủi Ro

Tài sản tài chính rủi ro là loại tài sản có chứa sự bất trắc trong tương lai về nguồn lợi tức có thể được sinh ra từ tài sản: Cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp, trái phiếu "rác", chứng chỉ quỹ đầu tư,...

Equity Collar / Vòng Đệm Cổ Phiếu

Vòng đệm cổ phiếu là một kĩ thuật giao dịch cổ phiếu, kết hợp giữa một hợp đồng quyền chọn mua và một hợp đồng quyền chọn bán, giúp nhà đầu tư tạo ra một biên an toàn cho cổ phiếu của mình. Nhà đầu tư, sở hữu một loại cổ phiếu nào đó, có thể tạo ra một  vòng đệm cho nó bằng cách mua một hợp đồng quyền chọn bán với giá thực hiện thấp hơn hoặc bằng giá thị trường, đồng thời bán một hợp đồng quyền chọn mua với giá thực hiện cao hơn giá thị trường vào thời điểm hiện tại. Việc mua hợp đồng quyền chọn bán giúp nhà đầu tư tự bảo vệ mình trước sự giảm giá của cổ phiếu xuống dưới giá thực hiện (giá kích phát). Ngược lại khi nhà đầu tư bán cho một nhà đầu tư khác quyền chọn mua cổ phiếu với mức giá cao hơn cũng có nghĩa là anh ta chấp nhận khả năng buộc phải bán số cổ phiếu đó khi giá thị trường lên đến giá kích phát của hợp đồng quyền chọn mua. Bằng việc tạo ra một vòng đệm, cổ phiếu của nhà đầu tư được giữ an toàn trong một khoảng nhất định chừng nào các hợp đồng quyền chọn còn hiệu lực. Tuỳ vào tình hình thị trường mà phí quyền chọn mua và quyền chọn bán có thể khác nhau, nhưng nhà đầu tư thường cố gắng làm sao để chúng có thể bù đắp được cho nhau. Trong trường hợp đó nhà đầu tư đã tạo ra một vòng đệm an toàn cho cổ phiếu của mình mà không mất một chi phí nào. Người ta gọi đó là một "vòng đệm miễn  phí" - zero cost collar. Ví dụ: Một nhà đầu tư sở hữu 100.000 cổ phiếu X, với giá thị trường hiện tại là $50/cp. Nhà đầu tư không muốn bán cổ phiếu này ngay (cũng có thể là không được phép bán do một qui định nào đó). Để tránh nguy cơ mất giá quá nhiều của cổ phiếu này mà không mất số tiền mua một hợp đồng quyền chọn bán nhà đầu tư đã cùng lúc tham gia vào 2 hợp đồng quyền chọn. Anh ta mua một hợp đồng quyền chọn bán kiểu Châu Âu thanh toán chênh lệch bằng tiền mặt, kì hạn 2 năm từ ngân hàng New York với giá kích phát là $45 đồng thời bán một hợp đồng quyền chọn mua tương tự cho chính ngân hàng đó với giá kích phát $65. Phí quyền chọn của 2 hợp đồng quyền chọn mua vừa đủ bù đắp phí quyền chọn của hợp đồng quyền chọn bán nên nhà đầu tư không mất thêm chi phí gì. Như vậy nhà đầu tư đã tạo ra một vòng đệm giá $45 - $65 cho cổ phiếu của mình. Hãy xem vòng đệm này hoạt động như thế nào: 2 năm sau, khi hợp đồng quyền chọn đến hạn. Nếu giá cổ phiếu giảm xuống 40, thấp hơn giá kích phát của hợp đồng quyền chọn bán, ngân hàng New York sẽ thanh toán cho nhà đầu tư số tiền chênh lệch 45-40 = $5/cp. Như vậy số lỗ của nhà đầu tư bị giới hạn ở mức đúng  50 - 45 =$5/cp Nếu giá cổ phiếu lên đến $75/cp, cao hơn giá kích phát của hợp đồng quyền chọn mua, vậy nhà đầu tư sẽ phải thanh toán chênh lệch 75 - 65 = $15/cp. Nhà đầu tư lúc này sẽ có lãi nhưng mức lãi của anh ta sẽ dừng lại ở đúng 65 - 50 = $15/cp. Trường hợp thứ ba, giá cổ phiếu vẫn nằm trong khoảng ($45 - $65), cả hai hợp đồng quyền chọn sẽ trở thành vô giá trị, và nhà đầu tư vẫn giữ được số cổ phiếu của mình. Trong ví dụ trên, nếu nhà đầu tư không có ý định "đầu tư" lâu dài vào một cổ phiếu mà chỉ muốn giữ cổ phiếu để chờ việc kiếm lời từ việc biến động giá thì anh ta nên sử dụng hợp đồng quyền chọn kiểu Mỹ, hợp đồng cho phép thực hiện trước khi đáo hạn. Vòng đệm cổ phiếu đem lại rất nhiều lợi ích cho nhà đầu tư, anh ta sẽ được bảo vệ trước những biến động xấu của cổ phiếu, trong khi vẫn giữ được số cổ phiếu đó đồng thời không mất một khoản phí nào. Tuy vậy, hạn chế của chiến lược đầu tư này là nhà đầu tư cũng không thể tăng lợi nhuận của mình quá mức giới hạn được, dù cho giá cổ phiếu có tăng đến đâu. Ngoài ra, để áp dụng được chiến lược này thì thị trường chứng khoán phải thực sự phát triển, với nhiều công cụ phái sinh đa dạng (hợp đồng quyền chọn).

Risk-Return Tradeoff / Nguyên Tắc Cân Bằng Giữa Rủi Ro Và Tỷ Suất Sinh Lợi

Trong thế giới đầu tư, người ta định nghĩa rủi ro như là các khả năng mà tại đó tỷ suất sinh lợi nhận được từ đầu tư có thể khác với tỷ suất sinh lợi mong đợi. Một cách định lượng thì rủi ro thường được đo lườngbằng độ lệch chuẩn theo phương pháp thống kê. Rủi ro có nghĩa là khả năng bạn bị thua lỗ một phần hoặc thậm chí là tất cả các khoản đầu tư ban đầu. Một độ lệch chuẩn lớn hơn cho biết một mức rủi ro cao hơn và ngược lại. Là một nhà đầu tư bạn luôn luôn mong muốn một tỷ suất sinh lợi cao nhất với một mức rủi ro thấp nhất. Nguyên tắc cân bằng giữa rủi ro và tỷ suất sinh lợi nói cho chúng ta biết rằng: Một mức rủi ro thấp sẽ đi kèm với một tỷ suất sinh lợi thấp và ngược lại, mức rủi ro cao hơn sẽ đi kèm với tỷ suất sinh lợi cao hơn. Nói cách khác, nguyên tắc này cho thấy một khoản tiền đầu tư chỉ có thể đạt được mức sinh lợi cao khi bạn cũng có đủ khả năng chấp nhận một khả năng thua lỗ tương ứng. Theo nguyên tắc cân bằng, nhà đầu tư phải nhận thức rõ khả năng chịu đựng rủi ro của mình trước khi chọn danh mục đầu tư. Bạn phải biết chấp nhận rủi ro khi bước chân vào thị trường. Không thể có cơ hội đầu tư nào cho bạn kiếm tiền mà có rủi ro bằng 0. Điều quan trọng là bạn hiểu rõ nguyên tắc cân bằng này: Rủi ro cao- tỷ suất sinh lợi cao và ngược lại. Tuy nhiên quyết định mức độ rủi ro mà bạn có thể chịu đựng được là một câu hỏi không dễ trả lời và khác nhau với từng người. Câu trả lời thay đổi tùy theo mục tiêu của bạn, hoàn cảnh cá nhân và nhiều yếu tố khác nữa.

Equity Carve-Out / Bán Cổ Phần Khơi Mào

Hoạt động bán cổ phần khơi mào, còn gọi là chia tách một phần, xảy ra khi công ty mẹ tiến hành bán ra công chúng lần đầu một lượng nhỏ (dưới 20%) cổ phần của công ty con mà nó nắm hoàn toàn quyền sở hữu. Thương vụ này không chỉ cho phép công ty mẹ huy động được lượng vốn cần thiết mà còn giúp họ giữ lại quyền kiểm soát với công ty con. Thông thường, sau khi bán bớt một phần nhỏ cổ phần của công ty con ra công chúng, công ty mẹ sẽ bán nốt số còn lại vào một thời điểm sau đó. Việc bán khơi mào một lượng cổ phần nhỏ có thể coi là bước khởi đầu cho quá trình chia tách công ty. Các tập đoàn đa ngành khi phát triển đến một mức độ nhất định, hoặc trong những điều kiện kinh tế không thuận lợi có xu hướng sắp xếp lại (streamline) hoạt động của họ cho hợp lý hơn. Một trong các lựa chọn là bán bớt những công ty con phát triển không tốt lắm hoặc ít liên quan đến lĩnh vực kinh doanh cốt lõi của công ty, thông qua việc phát hành cổ phiếu công ty ra thị trường chứng khoán. Tuy nhiên, các công ty thường không bán hết ngay 100% số cổ phần của công ty con này ngay sau khi phát hành mà chỉ bán khơi mào một số lượng nhỏ vì một số lý do sau: trước khi phát hành cổ phiếu ra thị trường, các công ty con này thường thuộc quyền sở hữu 100% của công ty mẹ, và ít được thị trường biết đến. Việc bán khơi mào một lượng nhỏ cổ phần ra thị trường chứng khoán giúp công ty con này được các nhà đầu tư quan tâm hơn và nó có thể giúp giá cổ phiếu tăng dần lên sau một thời gian. Như cách một nhà phân tích nói là nó giúp " khai phá giá trị tiềm ẩn của những công ty con", hay đó thực chất là quá trình công ty mẹ marketing cho cổ phiếu trước khi bán nó. Tuy nhiên, không phải mọi cổ phiếu sau khi bán khơi mào đều được bán hết sau đó. Nếu công ty mẹ công bố rõ ràng ý định bán hoàn toàn cổ phần của công ty con trong tương lai thì giá cổ phiếu mới tăng, trường hợp ngược lại cổ phiếu của công ty con này thường không hấp dẫn nhà đầu tư bằng.

Risk-Free Interest Rate / Lãi Suất Phi Rủi Ro

Lãi suất phi rủi ro là lãi suất được giả định bằng cách đầu tư vào các công cụ tài chính mà không bị rủi ro vỡ nợ (default risk). Tuy nhiên, những công cụ tài chính có thể gặp phải những loại rủi ro khác, ví dụ rủi ro thị trường (lãi suất thị trường thay đổi), rủi ro về tính lỏng (công cụ không thể được bán để lấy một khoản tiền mặt nhất định)... Mặc dù tài sản Phi rủi ro chỉ tồn tại trong lý thuyết, thực tế các chuyên gia và ngành giảng dạy đều sử dụng những trái phiếu chính phủ ngắn hạn của một loại tiền tệ nhất định để phân tích. Đối với các khoản đầu tư bằng USD, Tín phiếu kho bạc Mỹ thường được sử dụng; đối với các khoản đầu tư bằng EUR thì Kỳ phiếu chính phủ Đức hoặc Lãi suất liên ngân hàng Châu âu Euribor được sử dụng. Các loại tài sản đó được coi như là không có rủi ro vì thông thường khả năng chính phủ không trả được nợ là cực kì thấp, và bởi vì khoảng thời gian đáo hạn ngắn sẽ bảo vệ các nhà đầu tư khỏi các rủi ro về lãi suất, điều mà thường xảy ra đối với những trái phiếu có lãi suất cố định (nếu lãi suất ngân hàng tăng sau khi Kỳ phiếu được mua, nhà đầu tư sẽ bị thua thiệt một khoản lãi). Nếu lãi suất này không chứa rủi ro, người ta ngầm hiểu rằng nếu nhà đầu tư đầu tư vào một loại tài sản  chịu rủi ro thì lãi suất của loại tài sản đó phải lớn hơn lãi suất phi rủi ro (hoặc phải có chính sách thuế ưu đãi, một vài loại trái phiếu chính phủ Mỹ còn ban hành lãi suất thấp hơn mức lãi suất phi rủi ro). Ví dụ trái phiếu công ty phải có mức trái suất cao hơn trái suất của Trái phiếu chính phủ do nó có độ rủi ro cao hơn. Một lời giải thích cho giả định rằng các công cụ vay nợ của Chính phủ không có Rủi ro thanh toán bắt nguồn từ bản chất của các khoản nợ của Chính phủ. Ví dụ, đối với tiền Fiat money, chính phủ sẽ in đủ lượng tiền để thanh toán các khoản nợ. Trong trường hợp này, Vỡ nợ là điều không thể xảy ra, bởi vì Chủ nợ luôn luôn được trả nợ, nhưng có thể được trả bằng đồng tiền có giá trị thấp hơn. Điều này không xảy ra đối với đồng Euro bởi vì không một chính phủ riêng lẻ nào có quyền để in tiền. Nhưng các quốc gia lại có biện pháp đối phó khác. Một lời giải thích khác là, không có một loại đầu tư nào trên thực tế không có rủi ro, những chính phủ nổi tiếng về ổn định cũng không thoát khỏi vỡ nợ, nên đơn giản là đừng trông cậy vào những vụ mua công cụ nợ của Chính phủ. Một người Đức mua Trái phiếu của chính phủ vào năm 1904 không thể dự đoán được rằng siêu lạm phát sẽ xảy ra sau cuộc Chiến tranh thế giới thứ I.

Risk-Free Interest Rate / Lợi Suất Phi Rủi Ro

Lợi suất phi rủi ro là lãi suất được giả định sẽ thu về được khi đầu tư vào một tài sản tài chính không có rủi ro vỡ nợ. Trên thực tế sẽ không có tài sản nào không có rủi ro vỡ nợ, khái niệm này chỉ là giả định. Người ta thường sử dụng trái phiếu kho bạc (thường là 10 năm) thay cho tài sản này và sử dụng lãi suất của trái phiếu đó làm lợi suất phi rủi ro. Lý do cơ bản cho việc dùng loại trái phiếu này là vì Nhà nước ít khi bị vỡ nợ.Tất nhiên, một tài sản tài chính dù không có rủi ro vỡ nợ vẫn có thể phải đối mặt với nhiều loại rủi ro khác như rủi ro thị trường (rủi ro thay đổi lãi suất chung toàn thị trường), rủi ro thanh khoản (rủi ro không bán được tài sản nhanh với chi phí thấp),...

Equity / Vốn Sở Hữu

Equity có thể được hiểu theo các cách sau: 1. Là cổ phần hoặc bất cứ loại chứng khoán nào khác đại diện cho tỷ lệ sở hữu của cổ đông. 2. Trên bảng cân đối Kế toán, Equity là lượng tiền được cổ đông đóng góp cộng với các khoản thu được (hoặc trừ đi khoản bị mất). 3. Trong nghiệp vụ mua bán Chứng khoán, là giá trị của chứng khoán trong tài khoản trừ đi khoản vay từ công ty môi giới. 4. Trong Bất động sản, Equity là sự chênh lệch giữa giá trị hiện tại trên thị trường của tài sản và phần nợ chủ sở hữu loại tàn sản ấy phải trả cho chủ nợ do đã đem tài sản đó đi thế chấp. Vì vậy Equity sẽ là phần chủ sở hữu nhận được sau khi bán đi tài sản đó và trả hết phần nợ thế chấp. Tóm lại, Equity có rất nhiều nghĩa phụ thuộc vào ngữ cảnh sử dụng. Nhìn chung có thể hiểu là phần sở hữu của chủ tài sản đối với bất cứ loại tài sản nào sau khi số nợ liên quan đến tài sản đó đã được trả hết. Ví dụ, một chiếc ôtô hay một ngôi nhà không bị mang ra cầm cố, thế chấp hay mang đi trả nợ thì sẽ được coi là Equity của chủ sở hữu nếu anh có thể bán nó lấy tiền. Cổ phần là vốn sở hữu-equity bởi vì nó đại diện cho tỷ lệ sở hữu của cá nhân trong công ty, nhưng Trái phiếu thì lại được coi là nợ bởi vì nó đại diện cho nghĩa vụ trả nợ của công ty (vì công ty phát hành trái phiếu để huy động vốn cũng chính là nợ chủ sở hữu trái phiếu một khoản tiền hay tài sản nhất định).

Equity có thể được hiểu theo các cách sau: 1. Là cổ phần hoặc bất cứ loại chứng khoán nào khác đại diện cho tỷ lệ sở hữu của cổ đông. 2. Trên bảng cân đối Kế toán, Equity là lượng tiền được cổ đông đóng góp cộng với các khoản thu được (hoặc trừ đi khoản bị mất). 3. Trong nghiệp vụ mua bán Chứng khoán, là giá trị của chứng khoán trong tài khoản trừ đi khoản vay từ công ty môi giới. 4. Trong Bất động sản, Equity là sự chênh lệch giữa giá trị hiện tại trên thị trường của tài sản và phần nợ chủ sở hữu loại tàn sản ấy phải trả cho chủ nợ do đã đem tài sản đó đi thế chấp. Vì vậy Equity sẽ là phần chủ sở hữu nhận được sau khi bán đi tài sản đó và trả hết phần nợ thế chấp. Tóm lại, Equity có rất nhiều nghĩa phụ thuộc vào ngữ cảnh sử dụng. Nhìn chung có thể hiểu là phần sở hữu của chủ tài sản đối với bất cứ loại tài sản nào sau khi số nợ liên quan đến tài sản đó đã được trả hết. Ví dụ, một chiếc ôtô hay một ngôi nhà không bị mang ra cầm cố, thế chấp hay mang đi trả nợ thì sẽ được coi là Equity của chủ sở hữu nếu anh có thể bán nó lấy tiền. Cổ phần là vốn sở hữu-equity bởi vì nó đại diện cho tỷ lệ sở hữu của cá nhân trong công ty, nhưng Trái phiếu thì lại được coi là nợ bởi vì nó đại diện cho nghĩa vụ trả nợ của công ty (vì công ty phát hành trái phiếu để huy động vốn cũng chính là nợ chủ sở hữu trái phiếu một khoản tiền hay tài sản nhất định).

Equities / Cổ Phần

Còn được gọi là cổ phiếu thường, là những cổ phiếu ở dạng vốn phát hành của một công ty.

Equipment Trust Certificate / Chứng Chỉ Uỷ Thác Trang Thiết Bị

Thuật ngữ này dùng để chỉ trái phiếu thường được công ty vận chuyển phát hành như: công ty đường sắt công ty vận chuyển tàu biển, trái phiếu dùng để chi trả cho trang thiết bị mới. Chứng chỉ cho phép trái chủ được quyền đầu tiên đối với trang thiết bị trong trường hợp vốn và lãi không được trả khi đáo hạn. Quyền sở hữu tài sản đối với trang thiết bị được lưu giữ theo tên của người thụ uỷ thường là ngân hàng, cho đến khi trái phiếu được hết.

Equilibrium Rate Of Inflation / Tỷ Lệ Lạm Phát Cân Bằng

Tỷ lệ lạm phát được hoàn toàn dự báo trước. Tỷ lệ lạm phát giá cả mà tại đó các kỳ vọng có thể trở thành hiện thực.

Equilibrium Level Of National Income / Mức Cân Bằng Của Thu Nhập Quốc Gia

Equilibrium Level Of National Income là mức cân bằng của thu nhập không gian không biểu hiện các xu hướng thay đổi.

Equilibrium Error / Sai Số Cân Bằng

Khi một nhóm các biến số được liên kết với nhau trong một mô hình HỒI QUY là đồng liên kết thì thành phần nhiễu được gọi là sai số cân bằng.

Equilibrium / Cân Bằng

Một cụm thuật ngữ mượn từ môn vật lý để miêu tả tình huống, trong đó các tác nhân kinh tế hay tổng tác nhân kinh tế như thị trường, không có động lực gì để thay đổi hành vi kinh tế của mình.

Equalization Grants / Các Khoản Trợ Cấp Để Cân Bằng

Các quỹ do một chính phủ cấp cho các chính quyền địa phương với mục đích giảm mức độ không cân bằng trong thu nhập hay doanh thu do chính quyền địa phương thu được.

Equal Sacrifice Theories / Thuyết Hy Sinh Ngang Nhau

Sự hy sinh cùng độ thỏa dụng của những người trả thuế. Trong thuyết khả năng thanh toán, mỗi người trả thuế hy sinh cùng một mức độ thỏa dụng mà người đó có được do thu nhập của mình. Có ba định nghĩa về sự hy sinh ngang nhau: - Hy sinh tuyệt đối ngang nhau.- Hy sinh theo tỷ lệ ngang nhau.- Hy sinh biên (hay tổng tối thiểu) ngang nhau. Theo định nghĩa thứ nhất, mỗi người trả thuế hy sinh một lượng thỏa dụng tuyệt đối như nhau mà người đó có được từ thu nhập của mình. Theo định nghĩa thứ hai, mỗi người từ bỏ một độ thỏa dụng như nhau mà người đó nhận được từ thu nhập. Theo định nghĩa thứ ba, mỗi người hy sinh nộp thuế độ thỏa dụng như nhau từ đơn vị thu nhập cuối cùng được hy sinh. Việc thuế thu nhập là thuế lũy tiến hay lũy thoái, hay tỷ lệ thuận hay là không phụ thuộc vào định nghĩa nào được sử dụng và giả định nào được đưa ra về độ dốc của đồ thị độ thỏa dụng thu nhập biên. Nếu cho rằng, độ dốc của đồ thị độ thỏa dụng giảm thì chỉ có định nghĩa hy sinh biên ngang nhau là không đủ sức thuyết phục đối với thuế thu nhập lũy tiến. xét về hai định nghĩa kia, kết quả phụ thuộc vào độ giảm của đồ thị độ thỏa dụng biên. Việc một định nghĩa ưu việt hơn so với định nghĩa khác chủ yếu thuộc vào đánh giá chủ quan. Toàn bộ phương pháp phụ thuộc vào sự so sánh về độ thỏa dụng giữa các cá nhân không có trong kinh tế học phúc lợi hiện tại.

Equal Sacrifice Theories / Lý Thuyết Hy Sinh Ngang Nhau; Lý Thuyết Hy Sinh Bình Đẳng

Sự hy sinh cùng độ thỏa dụng của những người trả thuế.

Sách Combo 4 Cuốn : Tư Duy Ngược + Tư Duy Mở + Biến Mọi Thứ Thành Tiền Chuột không dây Ugreen M751 với con lăn vô cực Máy chơi game retro Powkiddy X55