Thuật Ngữ Kinh Tế

A B C D E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Z Tất cả

European Fund / Quỹ Châu Âu

HIỆP ƯỚC TIỀN TỆ CHÂU ÂU được hội đồng OEEC thông qua vào năm 1955, cho phép quỹ Châu Âu giúp tài trợ thâm hụt CÁN CÂN THANH TOÁN tạm thời phát sinh từ quyết định của các nước thành viên làm cho đồng tiền của mình có khả năng chuyển đổi với đồng Đôla.

Finance Corporation For Industry / Công Ty Tài Chính Công Nghiệp

Một tổng công ty cổ phần được lập vào năm 1973 từ Công ty Tài chính Công nghiệp (FCI) và Công ty Tài chính Công nghiệp và Thương mại (ICFC), FCI và ICFC được thành lập năm 1946 bởi Ngân hàng Anh, các ngân hàng thanh toán bù trừ London và các Ngân hàng Scotland nhằm cung cấp các khoản vay cho trung và dài hạn cho các công ty đang gặp khó khăn trong việc tăng số vốn từ các nguồn khác.

Finance / Tài Chính

Tài chính được hiểu theo một số nghĩa sau. Thứ nhất, đó là một ngành nghề. Thứ hai, đó là một lượng tiền hoặc tương đương với tiền, được sử dụng trong hoạt động kinh doanh. Thứ ba, đó là một ngành học và lĩnh vực hoạt động nghiên cứu. Tài chính là một nghề. Tài chính là công việc có mặt ở mọi nơi, từ các cơ quan hành chính cho tới doanh nghiệp. Nhưng đông nhất là ở khối doanh nghiệp, nơi tài chính đóng vai trò cung cấp "máu" cho cơ thể doanh nghiệp đủ dinh dưỡng để tồn tại và phát triển. Nghề tài chính liên quan tới các công việc cụ thể: Kế toán, kiểm toán, đảm bảo thanh toán, đảm bảo nguồn vốn, cố vấn-tư vấn cho các quyết định đầu tư, đầu tư, tính toán hiệu suất nguồn vốn, xây dựng chiến lược phát triển (trong đó nguồn vốn đóng vai trò cực kỳ quan trọng), mua-bán và sát nhập doanh nghiệp, cấu trúc lại các cơ cấu quản lý-sở hữu, hạn chếxung đột lợi ích tài chính, vay nợ và thuê mua, tài trợ thương mại, thế chấp-tín thác, bảo hiểm, nghiệp vụ ngân hàng, v.v.. và nhiều dịch vụ tài chính khác. Có thể nói đây là một nghề có phạm vi hoạt động rất rộng rãi, và cũng là một trong những nghề sớm được biết đến trong xã hội. Nghề tài chính trong các xã hội hiện đại có thu nhập tốt và bản chất nghề nghiệp thách thức. Đòi hỏi chuyên môn nghề tài chính cũng rất khắt khe, trong đó kiến thức chỉ là một phần, cho dù là rất quan trọng. Chẳng hạn như Goldman Sachs khi tuyển dụng chuyên viên tài chính thì ngoài các kiểm tra về mặt trình độ chuyên môn, hiểu biết kinh doanh còn có bài kiểm tra fitting (thường là qua phỏng vấn trực tiếp và đo cảm xúc) để biết một chuyên viên tương lai có phù hợp với nghề nghiệp hay đồng nghiệp hay không. Các vị trí tài chính chủ chốt trong doanh nghiệp thường gẫn gũi với Ban lãnh đạo do tầm quan trọng của tài chính trong tổng thể vận hành chung. Chức vụ cao nhất của tài chính trong doanh nghiệp thường là CFO (Chief Financial Officer), ngày càng phổ biến ở Việt Nam. Đây cũng là vị trí khó tuyển dụng trong những năm đầu thế kỷ 21 ở Việt Nam. Một sai lầm phổ biến ở Việt Nam là nhầm lẫn giữa nghề tài chính và nghề kế toán. Các Khoa ở các trường đại học cũng góp phần thêm cho sai lầm này bằng cách đặt ngành học là Tài chính-Kế toán. Do tính truyền thống và phổ biến của kế toán nên ngành Tài chính-Kế toán thường xuyên bị kế toán lấn át, do đó có xu hướng coi tài chính cũng là kế toán. Rất nhiều người có cơ sở kiến thức kế toán tốt đã nỗ lực chuyển nghề sang làm tài chính theo các phạm trù hiện đại, nhưng hầu hết đều thất bại, do 2 lĩnh vực này đòi hỏi các hệ thống tư duy khác khác biệt. Có thể nói tài chính sử dụng ngôn ngữ chung là "kế toán" nhưng không phải là kế toán. Trong quan niệm chung, Giám đốc tài chính nghe sang trọng hơn Kế toán trưởng. Điều này cũng không đúng, vì như trên đã nói, đây là hai công việc khác nhau, không thể so cam với táo. Tài chính là tiền. Tài chính dùng như danh từ còn có thể hiểu là một lượng tiền trong thế giới kinh doanh hiện đại. Tài chính được sử dụng vào nhiều việc trong doanh nghiệp: Thanh toán, đầu tư, mua bán tài sản, đảm bảo an toàn vốn, cung cấp nguồn lực cho chiến lược dài hạn, góp vốn kinh doanh, v.v.. Do thực tế là một doanh nghiệp không phát triển cũng có nghĩa là doanh nghiệp sắp từ giã thị trường, nên tài chính luôn quan trọng vì các doanh nghiệp không ngừng đầu tư mới, mua sắm mới, và triển khai các kế hoạch-chiến lược mới. Tất cả những điều này không thể diễn ra nếu thiếu "tài chính." Ở nghĩa này, tài chính có thể là: Tiền có nguồn gốc từ vốn góp, từ vốn vay, từ vốn chiếm dụng, và thu về từ các công cụ tài chính có bản chất hoặc góp vốn hoặc vay nợ. Để có được các nguồn tài chính cho hoạt động kinh doanh, rất nhiều loại thị trường (ngoại hối, vàng bạc, chứng khoán, ngân hàng, mua bán nợ, factoring...), định chế (ngân hàng, bảo hiểm, công ty đầu tư, công ty tín thác, ngân hàng đầu tư, môi giới tài chính, tái bảo hiểm...) và công cụ tài chính (trái phiếu, thương phiếu, kỳ phiếu, CDs, cổ phiếu, phái sinh chứng khoán, futures, options, swaps, swoptions, real options...) đã ra đời. Tất cả cũng chỉ đều nhằm đảm bảo nguồn cung tài chính cho các doanh nghiệp cần tới nó cho kinh doanh. Tài chính là ngành học-nghiên cứu. Tài chính là một ngành học và nghiên cứu rất lớn, và cũng là một trong những nhánh phức tạp nhất của kinh tế học hiện đại. Tài chính bậc cao có xu hướng toán học hóa mạnh mẽ, và thứ thế kỷ 19, người ta đã biết rằng các định luật tài chính có mối liên hệ vô cùng chặt chẽ với các định luật vật lý và qui tắc toán học. Tài chính hiện đại còn được gọi bằng cái tên kỳ lạ là econophysics, ghép từ economics (kinh tế học) và physics (vật lý học). Nhà bác học vĩ đại của loài người về vật lý Stephen Hawking trong cuốn "Vũ trụ trong vỏ hạt dẻ" có nói rằng thực ra hiện tượng lạm phát cần được xem như một hiện tượng của vật lý! Điều này cũng không quá đáng. Khoảng thập niên 1980, khi nghiên cứu lạm phát ở Anh quốc (một lĩnh vực của tài chính) hai nhà khoa học kinh tế-tài chính là Robert Engle và Clive Granger đã tìm ra định luật về hiệu ứng GARCH trong các dãy thống kê lạm phát (định luật biểu diễn Granger). Sau đó, hiệu ứng này đã nhanh chóng được ứng dụng trong toán học, vật lý, sinh học, xã hội học và tâm lý học... Ngành tài chính luôn thu hút được nhiều tài năng học thuật trên khắp các trung tâm nghiên cứu-đào tạo danh tiếng của thế giới. Wall Street và các trung tâm chứng khoán-tài chính lớn là nơi tiêu thụ các sản phẩm con người được đào tạo tốt có kỹ năng tốt về tài chính. Chúng ta cũng sẽ không ngạc nhiên nếu thấy tỉ lệ rất lớn các nhà chuyên môn tài chính thường có cơ sở học thuật về toán học và vật lý vững vàng. Số người chuyển từ ngành vật lý plasma, vật lý nguyên tử, vật lý năng lượng cao, hay vật lý lý thuyết... sang làm nghề tài chính rất đông, và thường họ cũng rất thành công. Nghề tài chính thường đòi hỏi các kiến thức quan trọng: * Kinh tế vi mô;* Kiến thức toán học; và,* Kỹ năng lập trình ứng dụng trên máy tính.

European Free Trade Association / Hiệp Hội Mậu Dịch Tự Do Châu Âu

Được thành lập năm 1960 sau Hiệp định Stockholm, được Áo, Đan mạch, Nauy. Bồ Đào Nha, Thuỵ Điển, Thuỵ Sĩ, Anh thông qua. Hiệp hội đạt được các mục tiêu ban đầu của mình là thiết lập buôn bán hàng hoá công nghiệp tự do giữa các mục tiêu ban đầu của mình là thiết lập buôn bán hàng hoá công nghiệp tự do giữa các thành viên và đàm phán một hiệp ước thương mại toàn diện với cộng đồng châu Âu (EC).

European Economic Community / Cộng Đồng Kinh Tế Châu Âu

Cộng đồng Kinh tế Châu Âu được chính thức thành lập ngày 25-3-1957 theo hiệp ước Rome do chính phủ các nước Bỉ, Hà Lan, Cộng hoà liên bang Đức, Italia, Lucxămbua. Hiệp ước này đưa lại sự phát triển tự do liên minh thuế quan, loại bỏ mọi rào cản đối với sự vận động tự do của VỐN, LAO ĐỘNG và DỊCH VỤ và hình thành các chính sách vận tải và nông nghiệp giữa các nước thành viên.

Cộng Đồng Kinh Tế Châu Âu (European Economic Community) là thuật ngữ tài chính mô tả cơ chế, quy trình hoặc chỉ báo dùng trong thực tiễn thị trường và quản trị doanh nghiệp. Ví dụ cụ thể phụ thuộc ngữ cảnh (đầu tư, kế toán, quản trị rủi ro…). Ứng dụng: chuẩn hóa giao tiếp chuyên môn, hỗ trợ lập báo cáo, thẩm định và ra quyết định. Khi áp dụng cần xem bối cảnh pháp lý, điều kiện thị trường và đặc thù ngành để diễn giải chính xác.

Final Product / Sản Phẩm Cuối Cùng

(Còn được gọi là tổng sản phẩm quốc nội) Tất cả các loại hàng hoá và dịch vụ được người cuối cùng mua. Tổng sản lượng của một nền kinh tế sau khi trừ đi SẢN PHẨM TRUNG GIAN.

Final Offer Arbitration / (Phương Án) Trọng Tài Ra Quyết Định Cuối Cùng

Sự can thiệp vào TRANH CHẤP LAO ĐỘNG của một bên thứ ba độc lập và công bằng, bên thứ ba này xem xét các lý lẽ của hai bên và đề xuất ý kiến cuối cùng, quan điểm cuối cùng của một trong các bên tranh chấp sẽ được thực hiện.

European Community Budget / Ngân Sách Cộng Đồng Châu Âu

Một ngân sách do các nước thành viên của cộng đồng Châu Âu đóng góp nhằm tài trợ cho các hoạt động của cộng đồng. Các khoản đóng góp từ các thành viên ở dạng 90% là doanh thu từ thuế NÔNG NGHIỆP và BIỂU THUẾ QUAN CHUNG và dưới 1% doanh thu từ thuế GIÁ TRỊ GIA TĂNG được tính cho mực đích làm hài hoà thuế giữa các nước thành viên.

Ngân Sách Cộng Đồng Châu Âu (European Community Budget) là thuật ngữ tài chính mô tả cơ chế, quy trình hoặc chỉ báo dùng trong thực tiễn thị trường và quản trị doanh nghiệp. Ví dụ cụ thể phụ thuộc ngữ cảnh (đầu tư, kế toán, quản trị rủi ro…). Ứng dụng: chuẩn hóa giao tiếp chuyên môn, hỗ trợ lập báo cáo, thẩm định và ra quyết định. Khi áp dụng cần xem bối cảnh pháp lý, điều kiện thị trường và đặc thù ngành để diễn giải chính xác.

Final Goods / Hàng Hoá Cuối Cùng

Những hàng hoá được sử dụng cho mục đích tiêu dùng chứ không dùng như là ĐẦU VÀO trong quá trình sản xuất ở các công ty. Do đó hàng hoá cuối cùng khác với SẢN PHẨM TRUNG GIAN.

Hàng Hoá Cuối Cùng (Final Goods) là một thuật ngữ quan trọng trong tài chính – kinh tế, mô tả cơ chế, quy trình hoặc khái niệm liên quan đến đầu tư, quản trị và phân tích dữ liệu tài chính. Ví dụ: Hàng Hoá Cuối Cùng (Final Goods) thường được dùng trong phân tích báo cáo tài chính, lập kế hoạch đầu tư hoặc đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh. Ứng dụng: hỗ trợ lập kế hoạch tài chính, quản lý rủi ro và ra quyết định chiến lược. Khi sử dụng, cần lưu ý ngữ cảnh và mục tiêu để đảm bảo hiểu đúng và áp dụng chính xác.

European Community / Cộng Đồng Châu Âu

Một tên gọi chung của 3 tổ chức: Cộng đồng Than và thép Châu Âu, Cộng đồng kinh tế Châu Âu và cộng đồng năng lượng nguyên tử Châu Âu.

Liên minh kinh tế được thành lập vào năm 1957 bởi Bỉ, Pháp, Ý, Đức, Luxembourg và Hà Lan để thúc đẩy mậu dịch và hợp tác giữa các quốc gia thành viên. Thành viên được mở rộng thêm Đan Mạch, Anh và Ireland vào năm 1973, sau đó là Hy Lạp (1981), Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha (1986). Hàng rào thuế quan và kiểm soát về luân chuyển tiền tệ giữa các quốc gia thành viên bị chính thức bãi bỏ vào năm 1992, tạo ra “đồng Euro không biên giới”, một liên minh tiền tệ thực sự và một đồng tiền chung, gọi là đồng Euro. Trụ sở chính đặt tại Brussel, Bỉ. Với sự phê chuẩn Hiệp ước Maastricht về Liên Minh Châu Âu vào năm 1993, Cộng đồng Châu Âu đã bỏ tên gọi trước đây- Cộng đồng Kinh tế Châu Âu (EEC). Cộng đồng Châu Âu được đồng hóa chặt chẽ với Liên minh Châu Âu, tập hợp chính sách kinh tế xã hội mà nó là một bộ phận.

Cộng Đồng Châu Âu (European Community) là thuật ngữ tài chính mô tả cơ chế, quy trình hoặc chỉ báo dùng trong thực tiễn thị trường và quản trị doanh nghiệp. Ví dụ cụ thể phụ thuộc ngữ cảnh (đầu tư, kế toán, quản trị rủi ro…). Ứng dụng: chuẩn hóa giao tiếp chuyên môn, hỗ trợ lập báo cáo, thẩm định và ra quyết định. Khi áp dụng cần xem bối cảnh pháp lý, điều kiện thị trường và đặc thù ngành để diễn giải chính xác.

Filtering / Quá Trình Lọc

Một cụm thuật ngữ được sử dụng trong KINH TẾ HỌC ĐÔ THỊ để mô tả quá trình thay đổi về chất lượng nhà ở, nhìn chung là diễn ra thông qua việc chuyển nhà ở của nhóm người có thu nhập cao sang nhóm người có thu nhập thấp hơn.

Filter / Bộ Lọc

Tên gọi của một công thức hay một phương thức nhằm loại bỏ những biến động không mong muốn của số liệu.

Fiduciary Issue / Tiền Không Được Bảo Lãnh

Một bộ phận của tiền do ngân hàng Anh phát hành theo ĐẠO LUẬT QUY CHẾ NGÂN HÀNG của Huân tước Robert Peel năm 1844, có khả năng đổi lấy trái phiếu của chính phủ, và khác với tiền vàng (và tiền bạc trên một phạm vi nhất định) và thoi vàng.

European Coal And Steel Community / Cộng Đồng Than Và Thép Châu Âu

Tổ chức thực hiện và quản lý thị trường chung về than & thép giữa 6 nước thành viên sáng lập của cộng đồng Châu Âu.

Fictitious Capital / Tư Bản Giả

Tư bản giả là tư bản không có giá trị hiện thực, chỉ có danh nghĩa về thu nhập, có quyền hưởng thu nhập. Tư bản giả tồn tại dưới hình thức chứng khoán có giá (cổ phiếu, kỳ phiếu và trái phiếu, công trái, giấy cầm đồ của ngân hàng cầm cố) và tạo khả năng cho những người có chứng khoán thu được giá trị thặng dư dưới hình thức lợi tức cổ phần hoặc lợi tức cho vay. Khác với tư bản thực tế bỏ vào sản xuất (công xưởng, nhà máy, hầm mỏ, v.v...) tư bản giả không có giá trị độc lập và không hoạt động trong quá trình sản xuất tư bản chủ nghĩa. Chứng khoán có giá chỉ là bằng chứng về đầu tư tư bản hoặc về cung cấp tiền vay. Thu nhập hàng năm của người có cổ phiếu gọi là lợi tức cổ phần, còn người có trái khoán nhận được thu nhập đều đặn dưới hình thức lợi tức. Chứng khoán có giá được đem ra mua bán ở sở giao dịch chứng khoán. Từ năm 1840 ông chủ ngân hàng Anh ở Yorkshire đã có nhận xét như sau: "... không thể xác định được trong số kỳ phiếu đó, phần nào do những công việc kinh doanh thực tế tạo ra (thí dụ như do có mua bán thực sự) và phần nào đã được sinh ra một cách giả tạo (fictitions) và chỉ gồm những kỳ phiếu giả, tức là kỳ phiếu phát ra đề rút về trước kỳ hạn một kỳ phiếu khác đang lưu hành, thành thử tạo ra một tư bản giả bằng cách chỉ tạo ra những phương tiện lưu thông đơn thuần mà thôi". Cách phát hành các kỳ phiếu để tạo nên một hệ thống các quan hệ vay mượn nhằng nhịt đã làm cho tư bản giả tăng lên ghê gớm. Ví dụ, hôm nay tôi gửi ở ngân hàng A một triệu đồng, thì mai lượng tiền đó sẽ được ngân hàng A chi ra và hình thành số tiền gửi ở ngân hàng B. Ngày kia nó lại có thể được ngân hàng B chi ra và hình thành một số tiền gửi ở ngân hàng C... Và cứ thế tiếp tục diễn ra, như vậy cái triệu đồng kia sau một loạt chuyển dịch, trao đổi từ ngân hàng này sang ngân hàng khác, từ tay người này sang tay người khác, nó có thể tăng lên mãi. Sự mua đi bán lại các cổ phiếu cũng diễn ra tương tự. Trong kinh tế học thị trường người ta cũng đã phân tích rằng các ngân hàng thương mại tiến hành kinh doanh tiền tệ, làm cho đồng tiền quay vòng và sinh sôi nảy nở, nghĩa là hệ thống ngân hàng, trong quá trình vay và cho vay đã tạo ra tiền mà không phải in thêm, tỷ lệ giữa tiền sinh sôi này nở này với cơ sở tiền tệ gọi là số nhân về tiền (hay còn gọi là hệ số khuếch đại tiền). Việc đầu cơ ở sở giao dịch chứng khoán (mà có nhà kinh tế đã từng phát biểu rằng "kinh doanh và đầu cơ nhiều khi gắn chặt với nhau đến nỗi khó mà nói được rằng tới mức nào thì thôi không còn là kinh doanh nữa và bắt đầu từ đâu là đầu cơ") dẫn đến phân phối lại tư bản tiền tệ giữa các nhà tư bản, nó là công cụ của bọn tư bản lớn cướp đoạt những người có ít chứng khoán, đồng thời làm tăng số tư bản giả lên. Cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất, các quan hệ kinh tế trở nên đa dạng và rất phức tạp, tư bản giả cũng tăng lên rất nhanh so với tư bản tồn tại thực tế. Sự tăng lên quá mức về tư bản giả so với tư bản thực tế đã gây ra trong lịch sử thế giới nhiều cuộc khủng hoảng chu kỳ gây tác hại ghê gớm. Lịch sử đã chứng kiến tình trạng mất giá khủng khiếp của các chứng khoán nhà nước và các cổ phiếu trong cuộc khủng hoảng tiền tệ xảy ra năm 1847. Từ đó đến nay, không thập niên nào là không có một vài cuộc khủng hoảng tiền tệ lớn nhỏ khác nhau. Sau cuộc khủng hoảng tiền tệ ở Mê hi cô (năm 1994) thì gần đây nhất là vào những tháng cuối năm của năm 1997 cuộc đại khủng hoảng tiền tệ bắt đầu từ Thái Lan, Hồng Kông đã làm chấn động cả thế giới. Riêng ở Mỹ ngày 27/10/1997 chỉ số Dow Jones đã giảm tới 594,26 điểm, thấp hơn 7,2% so với mức sụt giảm kỷ lục (508 điểm) cách đây 10 năm. Một trong số các nguyên nhân cơ bản của hiện tượng trên là đại đa số dân Mỹ (ước tính 3/4 dân số) đều đem một phần tài sản của mình đầu tư vào thị trường chứng khoán, với hy vọng thu lợi tức cổ phần và lãi vốn. Lợi tức cổ phần thì phụ thuộc vào hoạt động cụ thể của từng công ty, còn lãi vốn là khoản chênh lệch thu lại do dự đoán chính xác về biến động trong trị giá cổ phiếu. Việc công chúng Mỹ đổ xô vào đầu cơ cổ phiếu đã tạo nên cái gọi là "hiệu ứng của cải". Suốt 15 năm nay nạn đầu cơ, đặc biệt là đầu cơ giá lên (dự đoán giá lên và quyết định mua cổ phiếu vào để sau một thời gian bán ra để thu lãi) đã đẩy giá chứng khoán tăng lên quá cao so với tư bản thực tế. Và khi có một chấn động nhỏ ở nơi nào đó, gây ra tâm lý muốn bán tống bán tháo các cổ phiếu đi thì lập tức sẽ đẩy giá chứng khoán xuống dốc. Người ta đã thống kê được rằng số lượng chứng khoán có giá phát hành từ năm 1919 đến năm 1929 (trong vòng 10 năm) đã tăng lên 300%, trong khi cùng thời gian đó, sản xuất công nghiệp chỉ tăng lên 43%. Và những năm cuối của thế kỷ 20 này số lượng tư bản giả đã tăng lên con số khủng khiếp, gấp 30 lần số lượng tư bản thực tế. Một trong những nguyên nhân làm cho tư bản giả tăng nhanh với gia tốc ngày một lớn là số xí nghiệp cổ phần tăng, thị giá cổ phiếu cao vọt vì lợi nhuận độc quyền tăng lên và tỷ suất lợi tức giảm xuống, số nợ của nhà nước tăng thêm. Tiếp đến là do các quan hệ tiền tệ phát triển đã làm cho quá trình quốc tế hóa các nền kinh tế, quá trình xã hội hóa sản xuất phát triển nhanh, dẫn đến sự hình thành một thị trường thế giới, việc mua bán, đầu cơ cá chứng khoán, kỳ phiếu càng trở nên rộng lớn hơn. Nhưng rút cục các nước nghèo vẫn bị các nước giàu chèn ép và bóc lột bằng chính ngay các thủ đoạn đầu cơ tiền tệ bẩn thỉu... Tính chất xã hội hóa cao của lực lượng sản xuất cộng với bản chất cái vỏ bọc nhỏ hẹp của chế độ sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa làm cho tư bản giả tăng lên là biểu hiện tính chất ăn bám của chủ nghĩa tư bản ngày càng tăng. Song sự phát triển cao độ của quá trình quốc tế hóa các nền kinh tế, cộng với sự mở rộng thị trường chứng khoán cả chiều rộng lẫn chiều sâu đã làm thay đổi một cách căn bản các quan hệ xã hội. Nghĩa là sự hình thành những nhà máy của các cổ đông, những nhà máy hợp tác tạo nên một kiểu sản xuất mới là "sản xuất tư nhân không có sự kiểm soát của quyền sở hữu tư nhân"... Và điều này đúng như những dự doán khoa học của các nhà kinh điển mác xít rằng "những sự đối kháng giữa tư bản và lao động đã được xóa bỏ trong phạm vi những nhà máy hợp tác đó, mặc dầu buổi đầu nó chỉ được xóa bỏ bằng cách biến những người lao động liên hiệp thành nhà tư bản đối với chính bản thân mình, nghĩa là cho họ có thể dùng tư liệu sản xuất để bóc lột lao động của chính họ". Tính chất hai mặt của các quan hệ tín dụng, tiền tệ dưới chủ nghĩa tư bản đã làm cho chúng, như C.Mác đã khái quát, "vừa là những kẻ lừa đảo, lại vừa là những vị tiên tri".

European Central Bank / ECB / Ngân Hàng Trung Ương Châu Âu

Ngân hàng trung ương Châu Âu là một trong những ngân hàng trung ương quan trọng nhất trên thế giới, chịu tách nhiệm ban hành chính sách tiền tệ cho 15 nước thành viên trong khu vực Châu Âu. Ngân hàng trung ương Châu Âu được thành lập bởi Liên Minh Châu Âu (EU) vào năm 1998, trụ sở ở Frankfurt, Đức. ECB có độc quyền ấn định các mức lãi suất cho khu vực Châu Âu. Mục tiêu cơ bản của ECB là duy trì giá cả ổn định trong khu vực Châu Âu, nói cách khác là kiềm chế lạm phát. Mục tiêu hiện tại của ECB là giữ tỉ lệ lạm phát gần 2%. ECB còn tiến hành các nghiệp vụ trên thị trường ngoại hối và thúc đẩy hoạt động trôi chảy của hệ thống thanh toán ngân hàng. ECB độc quyền phát hành đồng tiền chung Châu Âu. Các nước thành viên được phép phát hành tiền xu euro nhưng lượng tiền phát hành phải được ECB cho phép trước. Trong chức năng duy trì ổn định của hệ thống tài chính, ECB đã can thiệp vào cuộc khủng hoảng tín dụng dưới chuẩn ở Mỹ 2007, bơm vào hệ thống tài chính hàng tỉ euro. Tháng 12/2007 ECB đã kết hợp với Fed thành lập ra chương trình cho vay Term Auction Facilitynhằm cải thiện tính thanh khoản của đồng đôla trong khu vực Châu Âu và ổn định thị trường tiền tệ.

Feudalism / Chủ Nghĩa Phong Kiến

Một dạng hệ thống chính trị và kinh tế thống trị ở Châu Âu thời kỳ trung cổ. Chủ nghĩa phong kiến được đặc trưng bởi một tháp xã hội bắt đầu từ người nông dân lệ thuộc thông qua các chúa đất và tước hầu ở "thái ấp" lên đến tận nhà vua.

Feedback / Entrapment Effects / Tác Động Phản Hồi/Bẫy

Giả thiết cho rằng những điều kiện trong thị trường lao động thứ cấp (cấp hai) làm cho công nhân có những thói quen lao đông xấu.

Federal Trade Commission Act / Đạo Luật Về Hội Đồng Thương Mại Liên Bang

Đạo luật này được ban hành ở Mỹ vào năm 1914, nhằm thiết lập một hội đồng (FTC) có khả năng trong các công việc kinh doanh để điều tra "việc tổ chức, chỉ đạo kinh doanh, thủ tục và quản lý" của các công ty hoạt động thương mại giữa các tiểu bang và chống lại "các phương pháp cạnh tranh không công bằng". FTC cũng có nhiệm vụ chống lại "các hoạt động hoặc thủ tục không công bằng, dối trá hoặc có liên quan đến thương mại".

European Bank For Reconstruction And Development / Ngân Hàng Tái Thiết Và Phát Triển Châu Âu

Được thành lập năm 1991 với số vốn 10 tỷ đơn vị tiền tệ Châu Âu nhằm thúc đẩy sự phát triển ở các nước thuộc khối Đông Âu.

Ngân hàng phát triển được thành lập vào năm 1990 bởi mười hai quốc gia thành viên của cộng đồng Châu Âu, để tái tư bản hóa các quốc gia nằm trong khối Xô Viết trước đây ở Đông và Trung Âu. Các quốc gia đóng góp quỹ bao gồm cả Mỹ và Nhật. Cũng được biết đến như Ngân hàng Phát triển Châu Âu.

Sách Combo 4 Cuốn : Tư Duy Ngược + Tư Duy Mở + Biến Mọi Thứ Thành Tiền Chuột không dây Ugreen M751 với con lăn vô cực Máy chơi game retro Powkiddy X55