Quantity Theory Of Money / Lý Thuyết Số Lượng Tiền Tệ
Đây là lý thuyết cho rằng lượng cung tiền tệ và mức giá chung trong nền kinh tế có mối quan hệ trực tiếp với nhau. Iriving Fisher là người đầu tiên đưa ra phương trình thể hiện mối quan hệ này. Phương trình Fisher có dạng: MV = PT Trong đó M là khối lượng tiền tệ, V là tốc độ lưu thông tiền tệ (số lần bình quân mỗi đồng tiền được trao tay để thanh toán các giao dịch trong một năm) , P là mức giá chung (thường tính bằng chỉ số giá IP), và T là khối lượng giao dịch hay tổng giá trị hàng hoá và dịch vụ cung ứng. Mối quan hệ trên đúng theo định nghĩa, vì tổng chi tiêu bằng tiền để mua hàng hoá và dịch vụ trong một thời kì (MV) phải bằng giá trị của hàng hoá và dịch vụ do người bán cung cấp, và bốn yếu tố M, V, P, T sẽ được xác định theo cách làm cho biểu thức này luôn đúng. Người ta có thể chuyển phương trình trên về dạng phương trình có khả năng kiểm định được bằng cách giả định rằng tốc độ lưu chuyển tiền tệ là một hằng số hoặc chỉ thay đổi nhẹ, không đáng kể. Phương trình chuyển đổi này có tên là phương trình Cambridge, có dạng : V= Y/M Trong đó V là bình quân số lần tiền được chuyển từ tay người này sang người khác để mua hàng hoá và dịch vụ cuối cùng (Y). Ví dụ nếu tổng sản phẩm quốc dân Y của một nước bằng 5 tỷ đôla và khối lượng tiền tệ bình quân M trong một năm là 1 tỷ đôla thì khi đó V=5. Do không thể quan sát trực tiếp được tốc độ lưu thông tiền tệ nên người ta phải xác định nó thông qua Y và M các chỉ tiêu có thể thu thập từ thống kê của nhà nước.Khái niệm V trong phương trình Cambridge không giống với khái niệm V trong lý thuyết số lượng tiền tệ truyền thống của Fisher. Nếu biến đổi phương trình của Fisher chúng ta được : V = PT/M Số lần giao dịch T trong một thời kì bao gồm toàn bộ các vụ giao dịch hiện vật về hàng hoá, dịch vụ và các giao dịch về tài chính. Trong phương trình Cambridge, PT (mức giá bình quân) được thay bằng Y một đại lượng không bao gồm tất cả mọi giao dịch, mà chỉ bao gồm các giao dịch đem lại thu nhập cuối cùng. Các nhà kinh tế cổ điển lập luận rằng tốc độ lưu thông là một hằng số vì người tiêu dùng có những thói quen tiêu dùng tương đối cố định và do vậy vòng quay của tiền tệ nằm trong trạng thái dừng. Những người ủng hộ lý thuyết số lượng hiện nay không quả quyết rằng tôc độ lưu thông tiền tệ cố định, nhưng họ lập luận rằng tốc độ lưu thông có thể thay đổi chậm chạp theo thời gian do những đổi mới trong lĩnh vực tài chính, chẳng hạn việc sử dụng rộng rãi tài khoản ngân hàng, thanh toán qua thẻ tín dụng và séc. Họ cũng chỉ ra rằng trong nền kinh tế toàn dụng lao động thì khối lượng giao dịch T sẽ bị quy định bởi những cân nhắc từ phía cung, ví dụ xu thế tăng năng suất lao động. Nếu V và T cố định hoặc thay đổi một cách chậm chạp, mức giá sẽ được xác định chủ yếu bằng mức cung tiền tệ (M). Mọi sự gia tăng trong khối lượng tiền tệ sẽ trực tiếp làm tăng nhu cầu hàng hoá và dịch vụ. Từ đó có thể kết luận rằng nếu cung ứng tiền tệ và tổng cầu tăng nhanh hơn khả năng cung ứng hàng hoá và dịch vụ của nền kinh tế thì mức giá chung sẽ tăng, tức là sẽ có lạm phát xảy ra. Trái lại, các nhà kinh tế học thuộc trường phái Keynes lập luận rằng tốc độ lưu thông không ổn định, có thể thay đổi nhanh chóng và trung hoà những ảnh hưởng của thay đổi trong cung ứng tiền tệ.
Lý Thuyết Số Lượng Tiền Tệ (Quantity Theory Of Money) là một thuật ngữ trong tài chính. Nó mô tả khái niệm, cơ chế hoặc quy trình cụ thể, được sử dụng trong phân tích, định giá, giao dịch và quản trị rủi ro. Ví dụ: Lý Thuyết Số Lượng Tiền Tệ (Quantity Theory Of Money) có thể dùng trong phân tích báo cáo tài chính hoặc định giá doanh nghiệp, tùy ngữ cảnh. Ứng dụng: hỗ trợ lập báo cáo, phân tích, thẩm định và ra quyết định tài chính. Khi áp dụng, cần lưu ý đến bối cảnh pháp lý và thị trường để hiểu đúng.
Quant Funds / Quỹ Quants
Các quỹ này được đặt tên như vậy là do cách đầu tư theo phương pháp tính toán thuần tuý - mục tiêu của họ là nhằm thu được lợi nhuận cao vượt trội so với các quỹ đầu tư theo chỉ số. Các quỹ này thường sử dụng phân tích thống kê toán theo mô hình để quyết định loại chứng khoán nào sẽ tối đa hoá hiệu quả đầu tư. Sau đó, thay vì mua tất cả các cổ phiếu trong bảng S&P 500, họ mua các cổ phiếu đã chọn mà số liệu thống kê từ các cổ phiếu này cho thấy mức lợi nhuận tiềm năng cao hơn. Một thị trường hiệu quả không phải là một thị trường hoạt động nhanh chóng hơn và thông minh hơn. Thay vì thế, nó phải là đối tượng của một phân tích liên tục, chuyên sâu và thông tin trên thị trường đó phải luôn luôn sẵn có ngay lập tức đối với tất cả mọi người. Trái lại, một thị trường không hiệu quả thường không được nhiều người quan tâm phân tích và thường mang lại những cơ hội lợi nhuận rất lớn cho các nhà quản lý quỹ sáng suốt theo đuổi chúng.
S&P/Asx 200 / Chỉ Số S&P / Asx 200
Là chỉ số mức vốn hóa được sử dụng nhiều nhất của Úc, được bắt đầu từ tháng 4 năm 2000. Nó đã thay thế chỉ số giá trị vốn hóa thị trường (All Ordinaries Index) trên sàn giao dịch chứng khoán Úc (Asx) để trở thành công cụ quan trọng nhất đánh giá hoạt động trên sàn giao dịch. Chỉ số được tạo bởi 200 cổ phiếu được lựa chọn bởi Ủy ban chỉ số S&P/ASX Australian, căn cứ theo tính thanh khoản và quy mô. Số lượng của các công ty luôn cố định ở con số 200. Khi một thành phần của chỉ số bị loại, nó sẽ ngay lập tức được thay thể bởi 1 công ty trong S&P/ASX 300, nhưng không nằm trong S&P/ASX 200. Tính thanh khoản của chỉ số hỗ trợ giao dịch các chứng khoán phái sinh và thành lập các quỹ, và đủ cao để hấp dẫn các nhà đầu tư quốc tế.Chỉ số S&P/ASX 200 được thiết lập bởi công ty Standard & Poor's. Đạt mức 6000 điểm lần đầu tiên vào thứ 3, ngày 15 tháng 1 năm 2006.
Quality Function Deployment / QFD / Triển Khai Chức Năng Chất Lượng
Triển khai chức năng chất lượng (QFD) là một kĩ thuật đưa ra quyết định nhóm toàn diện và linh hoạt được sử dụng trong việc phát triển các sản phẩm và dịch vụ, tiếp thị thương hiệu và quản lý sản phẩm. QFD có thể có tác dụng rất lớn trong việc giúp một tổ chức tập trung vào các đặc điểm bị phê phán của một sản phẩm, dịch vụ mới hoặc sẵn có với những quan điểm khác nhau của các phân khúc thị trường khách hàng, công ty hay yêu cầu phát triển công nghệ. Kết quả của kĩ thuật này mang lại những ma trận và đồ thị rõ ràng có thể tái sử dụng cho việc phát triển các dịch vụ, sản phẩm sau này. QFD đã được chấp nhận bởi một số doanh nghiệp và tổ chức. Ví dụ, Viện QFD là một tổ chức phi lợi nhuận thành lập cho sự phổ biến và phát triển của QFD qua các hoạt động R&D đang diễn ra, các công cụ và thực hành tốt nhất, các chương trình đào tạo QFD. Lịch sử QFD được phát triển ban đầu bởi Tiến sĩ Yoji Akao và Shigeru Mizuno trong những năm đầu 1960. House of Quality (Nhà chất lượng) xuất hiện lần đầu tiên năm 1972 trên mẫu thiết kế thùng dầu của Mitsubishi Heavy Industries. Như những gì Akao đã lặp đi lặp lại rất nhiều lần, House of Quality không phải là QFD, nó chỉ là một công cụ. Các công cụ khác phân tích những yếu tố khác ngoài chất lượng như giá thành, công nghệ, độ tin cậy, chức năng, sản xuất và việc triển khai dịch vụ. Thêm vào đó, cùng 1 kĩ thuật có thể mở rộng phương pháp đến các hệ thống con, cấu hình, sự lắp ráp, các bộ phận của sản phẩm hợp thành. Từ những thành phần chi tiết, những biểu đồ QFD quy trình tương tự có thể được phát triển để hỗ trợ những kĩ thuật điều khiển quy trình thống kê (statistical process control). Kĩ thuật QFD chuyển những nhu cầu của khách hàng (tiếng nói khách hàng- Voice of the customer [VOC]) thành những đặc tính kĩ thuật (và các phương pháp thử nghiệm thích hợp) của sản phẩm, dịch vụ, ưu tiên từng đặc tính sản phẩm, dịch vụ trong khi đồng thời đặt ra những mục tiêu phát triển cho việc phát triển sản phẩm và dịch vụ. Một kĩ thuật khá gần nữa, gọi là Pugh Concept Selection có thể được sử dụng cùng với QFD để lựa chọn một cấu hình sản phẩm dịch vụ hứa hẹn nhất. QFD được ứng dụng trong rất nhiều loại dịch vụ, sản phẩm tiêu dùng, phục vụ quân đội và các sản phẩm công nghệ đang nổi. Kĩ thuật cũng được sử dụng để nhận dạng và cung cấp tài liệu chiến lược và mưu kế markering cạnh tranh. QFD được coi là chìa khóa của Desing for Six Sigma (DFSS). Nó cũng được bao gồm trong tiêu chuẩn ISO 9000:2000 tập trung vào sự thỏa mãn khách hàng. Thu nhận ý kiến khách hàng bằng cách lắng nghe tiếng nói khách hàng (VOC), sắp xếp nhu cầu và thứ tự ưu tiên chúng (sử dụng những kĩ thuật như Analytic Hierarchy Process) là những nhiệm vụ ban đầu trong QFD. Theo truyền thống, đến với Gemba (một mảnh đất thực nơi giá trị được xây dựng cho khách hàng) là nơi những nhu cầu của khách hàng được chứng minh và biên tập. Được sử dụng khá sớm ở Mỹ, QFD ban đầu được đón nhận khá hứng khởi nhưng sau đó mất dần sự phổ biến sau khi phát hiện ra rằng có thể phí phạm rất nhiều thời gian nếu thực hiện những kĩ thuật đưa ra quyết định nhóm kém cỏi. Văn hóa công ty cũng có ảnh hưởng đến khả năng thay đổi các quá trình nhân sự trong tổ chức và đến tính ổn định của những thay đổi đó. Cụ thể, nếu một công ty có những quy tắc văn hóa mạnh mẽ và nhiều những giả định ngầm ngăn cản việc thảo luận khách quan về quá trình lịch sử của hành động, QFD có thể sẽ bị chống đối bởi khả năng phơi bày những giả định ngầm và những quy định không nói ra. Kết quả phân tích QFD đã được áp dung ở Nhật Bản trong việc triển khai các nhân tố kiểm soát được có ảnh hưởng lớn trong việc lập kế hoạch chiến lược và quản lý chiến lược (còn được gọi là Hoshin Kanri, Lập kế hoạch Hoshin, hay triển khai chính sách). Kĩ thuật này về mặt nào đó gần giống Management by objectives (MBO), nhưng thêm một thành tố quan trọng trong quá trình thiết lập mục tiêu, được gọi là "catchball". Việc sử dụng những kĩ thuật Hoshin của những công ty Mỹ như Hewlett&Packard đã rất thành công trong việc tập trung và điều chỉnh các tài nguyên của công ty để theo sát các mục tiêu chiến lược đã đặt ra thông qua một hệ thống cấp bậc của công ty. Mặc dù ban đầu được phát triển cho ngành công nghiệp sản xuất, các ý tưởng xây dựng trên QFD còn được sử dụng trong ngành phát triển phần mềm. Kể từ khi được giới thiệu, kĩ thuật QFD đã được phát triển để giảm thiểu thời gian và những nỗ lực cần bỏ ra.
Ex Post / Từ Sau; Sau Đó
Sau khi xảy ra một sự kiện nào đó hoặc sau một quyết định thực hiện một việc gì đó.
S&P 500 / Chỉ Số S&P 500
Một chỉ số bao gồm 500 loại cổ phiếu được lựa chọn từ 500 công ty có mức vốn hóa thị trường lớn nhất của Mỹ. Chỉ số S&P 500 được thiết kế để trở thành một công cụ hàng đầu của thị trường chứng khoán Mỹ và có ý nghĩa phản ánh những đặc điểm rủi ro/lợi nhuận của các công ty hàng đầu. Các công ty được lựa chọn để đưa vào chỉ số được lựa chọn ra bởi Ủy ban Chỉ số S&P, một nhóm các nhà phân tích và nhà kinh tế của Standard & Poor. Chỉ số S&P 500 là chỉ số đo giá trị thị trường - giá trị của mỗi cổ phần trong chỉ số cân xứng với giá trị thị trường của nó. Chỉ số S&P 500 là một trong những chuẩn đánh giá thông thường nhất dành cho thị trường chứng khoán Mỹ. Chỉ số trung bình công nghiệp Dow Jones đã từng là chỉ số nổi tiếng nhất cho các cổ phiếu ở Mỹ, nhưng vì nó chỉ chứa 30 công ty, vì vậy hầu hết mọi người tin rằng S&P 500 sẽ phản ánh thị trường tốt hơn và đầy đủ hơn. Trên thực tế, nhiều người coi nó là định nghĩa của thị trường. Những chỉ số phổ biến khác của Standard & Poor là S&P 600, một chỉ số của những công ty có giá trị vốn hóa thị trường nhỏ từ 300 triệu - 2 tỉ đôla, và S&P 400, một chỉ số của các công ty có mức vốn hóa thị trường trung bình từ 2 - 10 tỉ đôla. Một số các sản phẩm dựa trên chỉ số S&P 500 có sẵn trên thị trường dành cho các nhà đầu tư, bao gồm các quỹ chỉ số và ETFs. Tuy nhiên, việc các nhà đầu tư cá nhânmua được chỉ số là rất khó, bởi vì để làm điều này buộc phải mua cả 500 cổ phiếu của các công ty khác nhau.
Qualitative Choice Models / Mô Hình Lựa Chọn Định Tính
Đây là các mô hình đã được đưa ra để giải quyết những dữ liệu phản ứng không liên tục, chẳng hạn như quyết định mua hay không mua xe ô tô, thay đổi việc làm, hoặc đi học đại học.
Quadratic Utility Function / Hàm Thoả Dụng Bậc Hai
Một HÀM THOẢ DỤNG mà dạng đại số của nó là dạng của một PHƯƠNG TRÌNH BẬC HAI.
Ex Ante / Từ Trước; Dự Tính; Dự Định
Là mức độ đã được dự tính, dự định hay mong muốn của một hoạt động nào đó.
Quadratic Equation / Phương Trình Bậc Hai
Một phương trình chứa bình phương của một biến số như luỹ thừa cao nhất.
Phương Trình Bậc Hai (Quadratic Equation) là một thuật ngữ trong tài chính. Nó mô tả khái niệm, cơ chế hoặc quy trình cụ thể, được sử dụng trong phân tích, định giá, giao dịch và quản trị rủi ro. Ví dụ: Phương Trình Bậc Hai (Quadratic Equation) có thể dùng trong phân tích báo cáo tài chính hoặc định giá doanh nghiệp, tùy ngữ cảnh. Ứng dụng: hỗ trợ lập báo cáo, phân tích, thẩm định và ra quyết định tài chính. Khi áp dụng, cần lưu ý đến bối cảnh pháp lý và thị trường để hiểu đúng.
Fiscal Drag / Sức Cản Của Thuế Khoá
Ảnh hưởng của Lạm phát đối với thuế suất hữu hiệu hay trung bình.
Ex Ante / Ex-Ante / Ex Ante
Thuật ngữ này có nguồn từ tiếng latinh, có nghĩa là "trước khi xảy ra". Exante thường được sử dụng trong lĩnh vực thương mại, khi kết quả của một hành động, hoặc một chuỗi hành động, được dự đoán từ trước. Ngược lại với ex ante là ex post. Ví dụ, trong thế giới tài chính, Ex-ante Return là lợi nhuận kỳ vọng của một doanh mục đầu tư được tính toán theo tỷ lệ các tài sản hợp thành. Để tính toán lợi nhuận này, kết quả giả định cho mỗi lợi nhuận kỳ vọng phải được tính toán càng chính xác càng tốt sao cho lợi nhuận ex ante sát với lợi nhuận thực. Một ví dụ khác trong việc áp dụng thuật ngữ là trong ngành công nghiệp tuyển dụng. Ex-ante thường được sử dụng để dự đoán các yêu cầu về nguồn lực đối với các dự án lớn. Khi thuật ngữ ex-ante được sử dụng người ta hiểu rằng đó phải là những người có năng lực chuyên môn cực lớn. Điều này là cực kì quan trọng đối với các dự án xây dựng và kiến trúc lớn, nơi mà sự chính xác là điều sống còn. Bằng cách sử dụng phương pháp ex-ante, các công việc sẽ được cân nhắc chính xác kĩ càng khi lập kế hoạch, vì vậy đảm bảo rằng các nguồn lực luôn có mặt đúng lúc khi cần. Một sự sơ sẩy nhỏ nhất trong chất lượng chuyên môn và tiêu chuẩn cũng gây ra những hậu quả khôn lường đối với các công việc kinh doanh liên quan.
First-Mover Advantage / Lợi Thế Gia Nhập Đầu Tiên
Lợi thế gia nhập đầu tiên là một dạng của lợi thế cạnh tranh mà một công ty có được khi là doanh nghiệp đầu tiên thâm nhập vào một thị trường cụ thể hoặc một ngành công nghiệp nào đó. Đứng ở vị trí đầu tiên cho phép thương hiệu của doanh nghiệp được công nhận rộng rãi và doanh nghiệp đó chiếm được lòng trung thành của khách hàng. Công ty cũng sẽ có nhiều thời gian hơn để hoàn thiện sản phẩm hoặc dịch vụ của mình. Lợi thế này có thể đạt được bằng nhiều cách, chẳng hạn như những cơ hội đầu tiên tiếp cận với tài nguyên (và nếu đó là một nguồn lực đặc biệt khan hiếm, một công ty khác khó có thể có được cơ hội cạnh tranh), thu hút nhiều sự đầu tư từ những cá nhân quan tâm, hoặc bằng cách phát triển các công nghệ mới mà các công ty khác không có quyền tiếp cận. Mặc dù có được loại lợi thế này sẽ mang lại rất nhiều tiềm năng cho doanh nghiệp, song một số bất lợi có thể phát sinh như khả năng nghiên cứu và bắt chước các sản phẩm và kỹ thuật từ công ty gia nhập đầu tiên của các công ty mới gia nhập. Ví dụ về những công ty gia nhập đầu tiên bao gồm eBay và Coca-Cola. eBay là công ty đầu tiên có những quá trình đấu giá trực tuyến hoạt động vào năm 1995. Coca-Cola là nhà sản xuất cola đầu tiên, và bắt đầu bán sản phẩm của mình cho công chúng vào năm 1886, nó đã trở thành một đại gia lâu năm trong ngành công nghiệp nước giải khát. Những công ty gia nhập đầu tiên thường có rất nhiều đối thủ cạnh tranh cố gắng tận dụng thành công của họ. Tuy nhiên, đến giai đoạn này thì những doanh nghiệp gia nhập đầu tiên thường đã tích lũy đủ thị phần, tính chuyên nghiệp và lòng trung thành của khách hàng nên họ vẫn chiếm vị trí số một.
Eviews / Phần Mềm Phân Tích Dữ Liệu
Là một phần mềm bao gồm các chương trình phân tích dữ liệu trên máy với Hệ điều hành Windows. Chương trình phần mềm này chủ yếu được sử dụng để phân tích các thuật toán kinh tế. Chương trình được phát triển dựa trên phần mềm Quantitative Micro Software (QMS) (*cần dịch ra tiếng Việt thuật ngữ này*). Phiên bản 1.0 ra đời năm 1994, và thay thế cho phần mềm MicroTSP. Phiên bản cũ của EViews là 5.1 ra đời năm 2005. Và gần đây nhất là EViews 6. Điểm mới ở Eviews 6:+ Giao diện mới+ Công cụ phân tích cực mạnh+ Quản lí dữ liệu tinh vi+ Dùng để thuyết trình rất hiệu quả+ Dòng lệnh truyền thống và giao diện lập trình+ Dung lượng và các yêu cầu về hệ thống để có thể cài đặt. Phần mềm EViews kết hợp các bảng tính và công nghệ cơ sở dữ liệu liên quan với những nhiệm vụ được lập trình sẵn trong phần mềm số liệu, và sử dụng một giao diện đồ hoạ 'chỉ chuột-và-nhấn' (point-and-click GUI). Chương trình được kết hợp với một ngôn ngữ lập trình rất mạnh. EViews có thể được sử dụng để phân tích các số liệu chung, nhưng nó thường rất hữu dụng trong phân tích các thuật toán kinh tế, ví dụ phân tích cross-section (*cần dịch nghĩa ra tiếng Việt thuật ngữ này*), phân tích nhóm dữ liệu, và dự đoán chuỗi thời gian (time series). Nó hỗ trợ các định dạng file từ Excel, SPSS, SAS, Stata, RATS, TSP, và truy cập vào cơ sở dữ liệu ODBC.
First Order Condition / Điều Kiện Đạo Hàm Bậc I
Nhìn chung, điều kiện này nói rằng các đạo hàm bậc nhất của HÀM MỤC TIÊU theo BIẾN LỰA CHỌN phải bằng 0 để xác định GIÁ TRỊ CỰC TRỊ.
First Difference / Vi Phân Bậc I
Hiệu số giữa một biến và giá trị trễ một bậc về thời gian của nó.
First Call Date / Ngày thu hồi đầu tiên
Ngày sớm nhất mà người phát hành trái phiếu có thể mua lại tất một phần hoặc tất cả của đợt phát hành, với mức giá được quy định trong cam kết. Ngày thu hồi thực hiện đầu tiên được ghi trong bản chào trái phiếu. Trái phiếu được bảo đảm bằng thế chấp có thể thu hồi, nếu vốn gốc giảm xuống một mức nhất định, ngay cả không thể truy cập thu hồi. Việc phát hành có thể được thu hồi sớm hơn nếu phần trăm số tiền thu được, thí dụ 80%, không được tái đầu tư vào tài sản thế chấp trong kì hạn hai năm. Mục đích là để giữ cho tài trợ thế chấp trừ thuế không bị phân loại như là kinh doanh kinh doanh chênh lệch giá, và mất khoản miễn trừ thuế trên lãi. Xem YIELD TO CALL; YIELD TO MATURITY.
Evidence-Based Management / Ra Quyết Định Quản Lý Dựa Trên Căn Cứ Thực Tế
Evidence-based Management là tên gọi của phương pháp đưa ra các quyết định quản lý dựa trên các bằng chứng xác thực. Phương pháp này có nguồn gốc từ phương pháp tiếp cận Evidence-based Medicine trong Y học-một hệ thống quy trình từ xử lý thông tin đến việc đưa ra các quyết định tốt nhất nhằm điều trị cho bệnh nhân. Phương pháp tiếp cận Evidence-based Management (EBM) yêu cầu các quyết định quản lý và hoạt động của tổ chức phải dựa trên những bằng chứng đáng tin cậy và có tính thuyết phục nhất. Giống như phương pháp tương tự trong Y học và Giáo dục, việc đưa ra các quyết định EBM đòi hỏi phải cân nhắc kĩ tất cả các tình huống và cả nội quy của tổ chức. Tuy nhiên, trái với EBM trong Y học và Giáo dục, EBM trong quản lí hiện tại vẫn chỉ mang tính lý thuyết. Các nhà quản lý và nhà sư phạm hiện tại sử dụng rất ít những bằng chứng khoa học về hành vi trong việc đưa ra các biện pháp quản lý hiệu quả. Những nỗ lực nhằm đẩy mạnh việc sử dụng EBM gặp phải một khó khăn chưa từng xảy ra đối với việc áp dụng phương pháp này trong các ngành khác. Đơn giản, Quản lí không phải là một "nghề." Không có một hệ thống luật pháp nào hay những yêu cầu về văn hóa nào đề cập đến trình độ hay kiến thức bắt buộc để một người có thể trở thành một nhà quản lý. Những nhà quản lý có nền tảng kiến thức rất khác nhau. Một tấm bằng đại học là yêu cầu để có thể học MBA, nhưng không phải để trở thành một nhà quản lí. Việc không có một khung chuẩn nào miêu tả các yêu cầu để trở thành nhà quản lí làm cho việc gây ra áp lực buộc phải sử dụng bằng chứng hầu như không tạo ra hiệu quả đối với những nhà quản lý không thích sử dụng nó. Việc bất đồng về ngôn ngữ, hoặc sự tồn tại của các thuật ngữ chuyên ngành làm cho các nhà quản lí khó có thể tổ chức các buổi thảo luận liên quan đến việc sử dụng bằng chứng. Không có sự chia sẻ nào liên quan đến việc làm thế nào mà các nhà quản lí đạt được trình độ chuyên môn. Hơn thế nữa, phương pháp này không phải là không liên quan đến các vấn đề tranh cãi xung quanh việc học tập và giảng dạy môn quản lý. Đặc biệt, người ta đã phê bình việc coi 'bằng chứng' và 'phương pháp khoa học' chỉ là những công cụ mang tính trung lập. Nhưng quản lí không chỉ đơn thuần là một thứ gì đó tốt đẹp, nó thường bao gồm cả việc lạm dụng quyền hành, và khai thác kẻ khác, nhưng những bằng chứng trong phương pháp EBM thường bỏ qua những khía cạnh đó. Hiện nay, trên thế giới có một số nơi như Mỹ (Học viện Quản lý), và Canada (CHERF-Canadian Health Education and Research Foundation) đã bắt đầu xây dựng những mô hình nhằm đẩy mạnh việc sử dụng EBM.
Firm, Theory Of The / Lý Thuyết Về Hãng
Lý thuyết về hãng là chủ đề quan trọng trong KINH TẾ HỌC VI MÔ đề cập đến việc giải thích và dự đoán hành vi của hãng, đặc biệt là trên phương diện các yếu tố quyết định giá cả và sản lượng.
Firm Quote / Báo Giá Cố Định
Thuật ngữ này là danh từ ngành chứng khoán liên quan đến giá đặt mua lố tròn hay giá cung ứng chứng khoán do người tạo thị trường (market maker) đưa ra và không đồng nhất với bản định giá danh nghĩa (hay định giá tạm thời) (nominal quote-subject quote). Theo luật lệ thực hiện của National Association of Securitises Dealer's (NASD), các bản định giá cần thương thảo hay xem xét lại nhiều hơn để đồng nhất với bản định giá danh nghĩa.






