Thuật Ngữ Kinh Tế

A B C D E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Z Tất cả

Federal Reserve System / Hệ Thống Dự Trữ Liên Bang

Hệ thống ngân hàng trung ương tại Mỹ, "Fed", được Đạo luật dự trữ Liên bang năm 1913 thành lập và, bao gồm 12 Ngân hàng dự trữ Liên bang khu vực và 24 văn phòng chi nhánh, Ủy ban các thống đốc của Dự trữ liên bang đặt trụ sở tại Washington, D.C, Ủy ban của Thị trường mở Liên bang, Ủy ban tư vấn Liên bang, và các ngân hàng thành viên sở hữu cổ phiếu tại một trong 12 ngân hàng Dự trữ Liên bang. Những ngân hàng quốc gia được pháp luật yêu cầu sở hữu cổ phiếu trong Ngân hàng Dự trữ Liên bang tại khu vực của chúng. Những ngân hàng được tiểu bang cấp phép có quyền lựa chọn trở thành ngân hàng thành viên, mặc dù chỉ khoảng 1,100 ngân hàng được tiểu bang cấp phép và thực hiện như vậy. Như tên gọi thì Hệ thống dự trữ Liên bang là ngân hàng trung ương liên bang, với trách nhiệm vận hành chia sẻ giữa ủy ban Thống độc và 12 Ngân hàng khu vực. Hệ thống dự trữ Liên bang điều tiết chi phí và khả năng tín dụng ngân hàng thông qua những quyết định chính sách tiền tệ của ủy ban Thị trường mở Liên bang; thiết lập lãi suất triết khấu mà ngân hàng sẽ trả khi vay từ Ngân hàng dự trữ Liên bang; chấp nhận những việc sáp nhập ngân hàng liên tiểu bang; giám sát những công ty cổ phần ngân hàng, và giám sát các hoạt động ngân hàng quốc tế thông qua thỏa thuận với ngân hàng trung ương khác.  Xem FEDERAL RESERVE BANK; FEDERAL RESEVER BOARD; FEDERAL WIRE.

Federal Reserve Note / Chứng Nợ Của Cục Dự Trữ Liên Bang

Tiền tệ lưu thông được Ngân hàng dự trữ Liên bang phát hành để đáp ứng nhu cầu theo mùa công chúng. Tín phiếu dự trữ Liên bang là do là những giấy tờ không chịu lãi suất được phát hành dưới nhiều mệnh giá từ $1 đến $100, và là giấy tờ pháp lí để thanh toán nợ. Các tín phiếu phải mang tên Ngân hàng Dự trữ Liên bang phát hành.

European Agricultural Guidance And Guaranted Fund / Quỹ Bảo Đảm Và Hướng Dẫn Nông Nghiệp Châu Âu

Một quỹ đặc biệt của cộng đồng Châu Âu được thành lập năm 1962 nhằm tài trợ vốn cho chính sách nông nghiệp chung của cộng đồng.

Federal Reserve (Fed) / Cục Dự Trữ Liên Bang Mỹ

Cục dự trữ liên bang Mỹ, gọi tắt là FED, là Ngân hàng trung ương của nước Mỹ. Trong vai trò của một Ngân hàng trung ương, FED là ngân hàng của các ngân hàng và là ngân hàng của Chính phủ liên bang. FED được xây dựng để đảm bảo duy trì cho nước Mỹ một chính sách tiền tệ linh hoạt hơn, an toàn hơn, và ổn định hơn. Trong quá trình tồn tại và phát triển cùng với lịch sử nước Mỹ, FED ngày càng chứng mình được vai trò vô cùng quan trọng của nó trong hệ thống ngân hàng cũng như trong nền kinh tế Mỹ. Được thành lập ngày 23/12/1913 theo đạo luật mang tên "Federal Reserve Act"  do tổng thống Woodrow Wilson kí, FED là một mạng lưới gồm 12 Ngân hàng dự trữ liên bang và một số chi nhánh khác. Về mặt quản lý, FED chia nước Mỹ làm 12 khu vực, được gọi là các "Quận" (District), mỗi ngân hàng Dự trữ liên bang đại diện cho một quận và được đặt tên theo tên thành phố mà nó đặt trụ sở, đó là Boston, New York, Philadelphia, Cleveland, Richmond, Atlanta, Chicago, St. Louis, Minneapolis, Kansas City, Dallas, San Francisco, trong đó Ngân hàng dự trữ New York có vai trò nổi bật hơn một chút so với các ngân hàng còn lại. Lãnh đạo FED là Ban thống đốc (Board of Governors) gồm có 7 thành viên do Tổng thống bổ nhiệm và Thượng viện phê chuẩn. 7 thành viên của Ban thống đốc đóng vai trò như là đa số trong Uỷ ban thị trường mở Hoa Kì (FOMC), là cơ quan quyết định tất cả các chính sách tiền tệ của Mỹ. 5 thành viên còn lại của FOMC là chủ tịch của Ngân hàng dự trữ liên bang New York và 4 chủ tịch ngân hàng dự trữ liên bang khác. Nhiệm kì của mỗi thành viên Ban thống đốc kéo dài 14 năm, và các thành viên chỉ có thể được tái bổ nhiệm nếu nhiệm kì trước của ông ta không phải là một nhiệm kì trọn vẹn. Tổng thống tiếp tục bổ nhiệm Chủ tịch và phó Chủ tịch Ban thống đốc, hai người này giữ chức trong vòng 4 năm và có thể được tái bổ nhiệm không hạn chế chừng nào họ còn là thành viên của Ban thống đốc. Chủ tịch của FED hiện nay là Ben Bernanke, người đã thay thế Alan Greenspan vào ngày 01/01/2006. Alan Greenspan đã từng phục vụ ở cương vị Chủ tịch FED từ năm 1987. FED có một số nhiệm vụ chính như: Thực thi những chính sách tiền tệ quốc gia để duy trì mức việc làm, giá cả ổn định và lãi suất tương đối thấp. Giám sát và quản lý các thể chế ngân hàng để đảm bảo đó là những nơi an toàn để gửi tiền và để bảo vệ quyền lợi tín dụng của người dân. Cung cấp các dịch vụ tài chính cho các tổ chức tín dụng, Chính phủ Mỹ và Ngân hàng trung ương các nước khác như thanh toán bù trừ, thanh toán điện tử, phát hành tiền... Ngoài ra FED còn tiến hành các nghiên cứu về nền kinh tế Mỹ cũng như kinh tế các bang, cung cấp thông tin về nền kinh tế thông qua các ấn phẩm, hội thảo giáo dục và qua website. Với vai trò là Ngân hàng trung ương của nền kinh tế mạnh nhất thế giới, mỗi quyết định của FED đều gián tiếp ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế toàn cầu. Người ta hay nói vui rằng "một cái hắt hơi sổ mũi của chủ tịch FED" cũng đủ làm chao đảo nền kinh tế thế giới, xét về mặt nào đó cũng không phải là không có lý. Vậy FED đã tác động đến nền kinh tế toàn cầu như thế nào? Thứ nhất các quyết định về tăng giảm lãi suất của FED tác động trực tiếp đến sức mạnh của đồng USD, qua đó ảnh hưởng mạnh đến các đối tác thương mại của Mỹ. Nếu FED tăng lãi suất đồng USD nhằm kiềm chế lạm phát, vô hình chung làm tăng sức mạnh của đồng USD trên thị trường tiền tệ quốc tế, làm tăng nhập khẩu, giảm xuất khẩu, giảm đầu tư vào Mỹ. Thứ hai, FED còn trực tiếp can thiệp vào việc xác lập giá trị đồng USD thông qua hoạt động mua bán USD và các ngoại tệ khác. Ví dụ, nếu Mỹ bán đồng Yen ra đồng thời mua vào USD thì giá trị của USD sẽ tăng, trong khi giá trị Yen giảm xuống, dẫn đến tỉ giá USD/Yen tăng. Chính vì vậy những chuyên tham gia vào thị trường tài chính, tiền tệ quốc tế không bao giờ bỏ qua những diễn biến của FED.

Euronext / Sàn Giao Dịch Chứng Khoán Euronext

Euronext là sàn giao dịch chứng khoán của nhiều nước châu  Âu, đặt trụ sở ở Paris và có chi nhánh tại Bỉ, Pháp, Hà Lan, Bồ Đào Nha và Anh. Ngoài vai trò là một thị trường giao dịch cổ phiếu, trái phiếu và các chứng khoán phái sinh, Euronext còn cung cấp các dịch vụ thanh toán bù trừ và dịch vụ thông tin. Theo con số vào 31/1/2006, tổng giá trị vốn hoá thị trường của các công ty niêm yết trên Euronext là 2900 tỷ USD, đứng thứ 5 toàn cầu. Niêm yết trên Euronext có nhiều công ty thuộc vào nhóm những công ty hàng đầu thế giới như Total, Royal Dutch Shell Amsterdam, France Telecom... Euronext được thành lập ngày 22/9/2000 sau vụ sáp nhập của Amsterdam Stock Exchange, Brussels Stock Exchange, và Paris Bourse, để tận dụng lợi thế từ sự nhất quán của thị trường tài chính EU. Tháng 12/2001 Euronext mua lại cổ phiếu của Sàn giao dịch hợp đồng quyền chọn và hợp đồng tương lai London (LIFFE), sàn giao dịch hiện nay vẫn hoạt động dưới sự điều hành của bản thân nó. Năm 2002 tập đoàn này tiếp tục sáp nhập thêm sàn giao dịch chứng khoán Bồ Đào Nha, Bolsa de Valores de Lisboa e Porto (BVLP) sau đó đổi tên sàn này thành Euronext Lisbon. 22/6/2006 Euronext đã ký hợp đồng sáp nhập vào NYSE với giá 10.2 tỷ USD, cho dù đối thủ của NYSE là sàn Deutsche Börse của Đức đã trả Euronext  11 tỷ USD. Và vào 28/3/2007 NYSE chính thức thâu tóm thành công Euronext để trở thành sàn giao dịch chứng khoán toàn cầu đầu tiên trên thế giới dưới cái tên mới NYSE Euronext, cho phép giao dịch các loại chứng khoán và công cụ phái sinh trong suốt khoảng thời gian 21 giờ mỗi ngày.

Federal Nation Mortgage Association (FNMA) / Hiệp Hội Cầm Cố Quốc Gia Liên Bang

Một tổ chức do chính phủ Mỹ thành lập năm 1938, nhằm trợ giúp thị trường đối với các tài sản cầm cố được chính phủ tài trợ.

Federal Home Loan Bank System (Fhlbs) / Hệ Thống Ngân Hàng Cho Vay Nội Bộ Của Liên Bang

Cơ quan của chính phủ Mỹ sử dụng quyền lực của mình trên thị trường tiền tệ để cung cấp các khoản thanh khoản cho Hiệp hội tiết kiệm và cho vay.

Federal Funds Rate / Fed Funds Rate / Tỉ Lệ Lãi Suất Cho Vay Nhằm Đáp Ứng Yêu Cầu Dự Trữ Bắt Buộc

Mặc dù các ngân hàng đều muốn cho vay tất cả số tiền họ có, nhưng Cục Dự Trữ Liên Bang yêu cầu tất cả các ngân hàng luôn phải giữ một lượng tiền mặt nhất định (yêu cầu dự trữ) ở chi nhánh của Cục dự trữ liên bang. Federal funds rate là tỉ lệ lãi suất các ngân hàng cho nhau vay trong khoảng thời gian 1 ngày để có được số tiền bằng đúng yêu cầu dự trữ bắt buộc. Mỗi tháng, Fed thông qua Ủy Ban Thị Trường Mở Liên Bang, xác định một mức Federal Funds Rate nhất định. Mức lãi suất này ảnh hưởng trực tiếp tới tỉ lệ lãi suất ngắn hạn, như tiền gửi, các khoản vay ngân hàng, tỉ lệ lãi suất thẻ tín dụng, và vay thế chấp có điều chỉnh. Tỉ lệ lãi suất dài hạn bị ảnh hưởng gián tiếp. Fed funds rate làm việc như thế nào? Tỉ lệ Fed funds cao hơn đồng nghĩa với các ngân hàng ít có thiện chí đi vay để giữ mức dự trữ bắt buộc. Điều này có nghĩa rằng họ sẽ vay ngoài ít hơn, và rằng lãi suất họ cho vay cũng sẽ cao hơn bởi vì bản thận họ cũng phải trả tỉ lệ lãi suất cao hơn khi đi vay. Khi các khoản vay trở nên khó khăn và đắt đỏ hơn các ngành kinh doanh sẽ phát triển chậm lại, ảnh hưởng lên toàn nền kinh tế. Thêm vào đó, vay thế chấp có điều chỉnh cũng trở nên "đắt" hơn, và vì vậy người mua nhà chỉ có thể vay những khoản nhỏ, và khiến ngành bất động sản phát triển chậm lại. Giá nhà đất giảm xuống, vì vậy những người chủ sở hữu ngôi nhà có cảm giác mình nghèo đi. Nếu Fed cắt 1/4 tỉ lệ, việc này không những khiến nền kinh tế phát triển nhanh hơn, và còn gửi đến những tín hiệu vui mừng cho thị trường. Tuy nhiên, nếu phát triển nhanh quá cũng sẽ dẫn đến lạm phát. Tăng tỉ lệ lãi suất lên 1/4 sẽ kiềm chế được lạm phát, nhưng cũng sẽ làm kinh tế phát triển chậm lại. Những thay đổi và mức cắt giảm tỉ lệ lãi suất của Fed (1990 – nay) Change(basis points) Date Increase Decrease Level(percent) 2008       January 30 ... 50 3.00 January 22 ... 75 3.50 2007       December 11 ... 25 4.25 October 31 ... 25 4.50 September 18 ... 50 4.75 2006       June 29 25 ... 5.25 May 10 25 ... 5.00 March 28 25 ... 4.75 January 31 25 ... 4.50 2005       December 13 25 ... 4.25 November 1 25 ... 4.00 September 20 25 ... 3.75 August 9 25 ... 3.50 June 30 25 ... 3.25 May 3 25 ... 3.00 March 22 25 ... 2.75 February 2 25 ... 2.50 2004       December 14 25 ... 2.25 November 10 25 ... 2.00 September 21 25 ... 1.75 August 10 25 ... 1.50 June 30 25 ... 1.25 2003       June 25 ... 25 1.00 2002       November 6 ... 50 1.25 2001       December 11 ... 25 1.75 November 6 ... 50 2.00 October 2 ... 50 2.50 September 17 ... 50 3.00 August 21 ... 25 3.50 June 27 ... 25 3.75 May 15 ... 50 4.00 April 18 ... 50 4.50 March 20 ... 50 5.00 January 31 ... 50 5.50 January 3 ... 50 6.00 2000       May 16 50 ... 6.50 March 21 25 ... 6.00 February 2 25 ... 5.75 1999       November 16 25 ... 5.50 August 24 25 ... 5.25 June 30 25 ... 5.00 1998       November 17 ... 25 4.75 October 15 ... 25 5.00 September 29 ... 25 5.25 1997       March 25 25 ... 5.50 1996       January 31 ... 25 5.25 1995       December 19 ... 25 5.50 July 6 ... 25 5.75 February 1 50 ... 6.00 1994       November 15 75 ... 5.50 August 16 50 ... 4.75 May 17 50 ... 4.25 April 18 25 ... 3.75 March 22 25 ... 3.50 February 4 25 ... 3.25 1992       September 4 ... 25 3.00 July 2 ... 50 3.25 April 9 ... 25 3.75 1991       December 20 ... 50 4.00 December 6 ... 25 4.50 November 6 ... 25 4.75 October 31 ... 25 5.00 September 13 ... 25 5.25 August 6 ... 25 5.50 April 30 ... 25 5.75 March 8 ... 25 6.00 February 1 ... 50 6.25 January 9 ... 25 6.75 1990       December 18 ... 25 7.00 December 7 ... 25 7.25 November 13 ... 25 7.50 October 29 ... 25 7.75 July 13 ... 25 8.00

Federal Funds Rate / Lãi Suất Liên Bang

Lãi suất liên bang là loại lãi suất dành cho nội bộ hệ thống các ngân hàng thương mại vay mượn nhau “qua đêm” để đạt được lượng dự trữ bắt buộc theo quy định của Ngân hàng trung ương. Những ngân hàng có cân đối dự trữ vượt yêu cầu có thể sử dụng khoản vượt này để cho các ngân hàng bị hụt vay tạm. Các khoản cho vay "tình thế" này tại Mỹ thường được thực hiện với số tiền tương đối lớn, từ một triệu USD trở lên. Tuy các khoản nợ này luôn luôn được thực hiện trên cơ sở một ngày đáo hạn xác định, chúng có thể được gia hạn thêm. Do Ngân hàng Trung ương kiểm tra rất chặt chẽ các khoản dự trữ bắt buộc, lãi suất liên bang được xem là một hàn thử biểu quan trọng về chính sách tiền tệ của nhà nước và chiều hướng tương lai của các loại lãi suất khác. Các nhà phân tích tài chính theo dõi sát sao diễn biến nhạy cảm trong lĩnh vực này để có thể đưa ra dự đoán về những thay đổi sắp xảy ra trên các thị trường tín dụng. Lãi suất liên bang sụt giảm có thể cho thấy là Ngân hàng Trung ương đã quyết định kích thích nền kinh tế bằng cách nới lỏng các khoản dự trữ áp dụng cho cả hệ thống ngân hàng. Tuy nhiên, các nhà tài chính khuyến cáo ta nên thận trọng khi sử dụng chỉ số này, và khi sử dụng cần kết hợp các chỉ số khác để xác định. Đây là loại lãi suất có biến động nhiều nhất trong các loại lãi suất. Nó thay đổi hằng ngày để phản ánh nhu cầu vốn cần điều chuyển qua lại giữa các ngân hàng cho hoạt động tín dụng của mình.

Eurodollar / Eurodollar

Đây là các khoản tiền gửi bằng đôla Mỹ tại các ngân hàng nước ngoài hoặc các chi nhánh của ngân hàng Mỹ tại nước ngoài. Bằng cách này thì những đồng eurodollar có thể tránh được các quy định của cục dự trữ liên bang. Sau chiến tranh thế giới II lượng đôla Mỹ ở nước ngoài tăng lên rất nhanh. Đây là hậu quả của kế hoạch Marshall và việc nhập khẩu quá mức vào Mỹ_thị trường tiêu thụ lớn nhất thế giới sau khi hoà bình được tái thiết ở châu Âu. Chính vì vậy, một lượng lớn đồng đôla Mỹ được nắm giữ bởi các ngân hàng ngoài Mỹ. Một vài quốc gia trong đó có Liên Bang Xô Viết đã có tài khoản đôla tại các ngân hàng của Mỹ và được đảm bảo bằng các giấy chứng nhận. Trong suốt thời kì chiến tranh lạnh, đặc biệt là sau cuộc xâm lược Hungary vào năm 1956, Liên Xô lo sợ rằng tài khoản của mình ở ngân hàng Bắc Mỹ có thể bị phong toả. Do đó họ đã quyết định chuyển một phần tài khoản sang ngân hàng Moscow Narodny_ngân hàng của Liên  Xô có sự hỗ trợ của Anh. Sau đó ngân hàng Anh đã gửi số tiền này sang ngân hàng của Mỹ. Như vậy sẽ không có lý do gì để tịch thu số tiền này vì nó thuộc về ngân hàng của Anh chứ không trực tiếp thuộc Liên Xô. Ngày 28 tháng 2 năm 1957 tổng số tiền được chuyển đã lên tới 800.000USD và đây là những đồng eurodollar đầu tiên. Ban đầu các tài khoản tiền gửi bằng đôla hầu hết nằm tại các ngân hàng châu Âu, vì thế mới có tên là Eurodollar. Ngày nay mặc dù các tài khoản này chủ yếu vẫn nằm tại ngân hàng châu Âu song cũng còn được lưu giữ ở các quốc gia khác như Bahamas, Canada, Cayman Islands, Hong Kong, Japan, Netherlands Antilles, Panama, và Singapore. Vì thị trường eurodollar tương đối thông thoáng và không bị ràng buộc bởi các điều luật nên các ngân hàng thường hoạt động với biên lợi nhuận thấp hơn các ngân hàng tại Mỹ. Do đó, thị trường cho đồng eurodollar đã được phát triển mạnh mẽ và là một cách để tránh các chi phí có liên quan đến các trung gian tài chính. Các tài khoản thường từ 1.000.000USD trở lên trong đó chủ yếu là tài khoản của một định chế tài chính gửi tại một tổ chức tài chính khác. Các giao dịch với đồng eurodollar rất phổ biến và linh hoạt, đặc biệt thời hạn có thể từ 1 ngày cho tới 6 tháng, rất hiếm các giao dịch kéo dài tới 5 năm. Mặc dù được nắm giữ ở nhiều nơi trên thế giới song lãi suất của eurodollar chủ yếu bị ảnh hưởng bởi tình hình kinh tế của Mỹ. Nhìn chung, khi cục dữ trữ liên bang quản lý chặt hoặc có dấu hiệu sẽ tiến hành quản lý chặt chẽ các tài khoản tiền gửi thì lãi suất eurodollar sẽ tăng, và ngược lại. Thêm vào đó, mức lãi suất này cũng thay đổi tuỳ theo từng thời điểm trong ngày, tuân theo quan hệ cung cầu. Vì vậy nếu sử dụng lãi suất này làm điểm tham chiếu thì sẽ không phù hợp. Thay vào đó có thể sử dụng lãi suất LIBOR và các lãi suất khác.

Federal Fund Market / Thị Trường Tiền Quỹ Liên Bang

Thị trường ở Mỹ, trong đó "những khoản tiền có thể được sử dụng ngay lập tức" được đem cho vay hay đi vay, chủ yếu là qua đêm giữa các Ngân hàng thành viên của HỆ THỐNG DỰ TRỮ LIÊN BANG, các thể chế tài chính chủ yếu khác các chi nhánh và cơ quan của các ngân hàng không phải của Mỹ.

Federal Deposit Insurance Corporation (Fdic) / Công Ty Bảo Hiểm Tiền Gửi Liên Bang

Một công ty ở Mỹ có trách nhiệm bảo hiểm các khoản tiền gửi trong các NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI và các hiệp hội tiết kiệm và cho vay lên tới 100.000 đôla trong một tài khoản tại một thể chế.

Featherbedding / Bảo Hộ, Bảo Vệ, Tạo Việc Làm (Nhồi Lông Nệm)

Những cách tạo việc làm bằng cách dùng quá nhiều sức lao động và/ hoặc không dùng công nghệ tiên tiến.

Feasible Portfolio / Danh Mục Đầu Tư Khả Thi

Một danh mục đầu tư mà nhà đầu tư có thể xây dựng được dựa trên các loại tài sản tài chính sẵn có trên thị trường. Thông thường, trước khi bỏ tiền đầu tư vào chứng khoán, các nhà đầu tư thường sử dụng nhiều phương pháp để xây dựng nên một danh mục đầu tư với mức độ rủi ro và lợi nhuậnphù hợp bao gồm một hoặc một vài lớp tài sản khác nhau. Tuy nhiên, không phải danh mục đầu tư nào cũng có thể xây dựng được trong thực tế. Ví dụ: nếu trong danh mục đầu tư của một nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán Việt Nam dự kiến sẽ có mặt một vài công cụ phái sinh như hợp đồng quyền chọn hoặc hợp đồng tương lai, thì danh mục này chưa chắc đã có thể xây dựng được với tình trạng thị trường chứng khoán phái sinh hầu như chưa phát triển ở Việt Nam hiện nay. Vì vậy, một danh mục đầu tư khả kiến, trong khi xây dựng phải tính đến các loại chứng khoán sẵn có trên thị trường.

Eurocurrency Market / Thị Trường Tiền Tệ Châu Âu

Một thị trường quốc tế ở nước ngoài của các đồng tiền của các nước công nghiệp lớn (phương Tây).

Một thị trường quốc tế ở nước ngoài của các đồng tiền của các nước công nghiệp lớn Phương Tây. Thị trường này mở cửa vào cuối những năm 1950 với danh nghĩa là thị trường đồng đôla Mỹ được giữ trong các ngân hàng ở các trung tâm tài chính của Châu Âu, nhưng từ đó đã được mở rộng để bao quát tất cả các đồng tiền chính và có các địa điểm ở bên ngoài châu Âu như Nam Mỹ, Viễn Đông. Nét nổi bật của thị trường này là việc vay và cho vay một đồng tiền nào đó diễn ra ở bên ngoài quốc gia có đơn vị tiền tệ này. Đồng đôla vẫn là đồng tiền quan trọng nhất, chiếm khoảng 80% các vụ giao dịch, trong khi dó Châu Âu vẫn là trung tâm quan trọng với 40% - 50% công việc kinh doanh. Thị trường này phát triển nhanh chóng kể từ khi bắt đầu hoạt động: tổng doanh số đã tăng từ 20 tỷ đô la năm 1964 lên 4.920 tỷ năm 1989. Rất ít các ngân hàng Châu Âu làm được như vậy, vì thị trường bao gồm chủ yếu các chi nhánh hoặc các bộ phận của các ngân hàng hiện tại, các ngân hàng này có thông tin điện tử với những người tham gia thị trường. Khoảng 70% số giao dịch là giữa các ngân hàng, nên tổng quy mô của thị trường này phóng đại khả năng cho vay của nó tới người vay cuối cùng. Những người gửi tiền và vay tiền trong thị trường này là cùng một chủng loại và gồm các ngân hàng trung ương và các cơ quan tài chính quốc tế, các xí nghiệp công nghiệp và công thương và một vài cá nhân riêng rẽ. Thời hạn vay có thể từ một ngày đến 10 năm và lãi suất được tính theo LIBOR (lãi suất cho vay liên ngân hàng ở London). Chênh lệch giữa lãi suất gửi và vay thấp vì các giao dịch đều có giá trị cao, các khoản chi phí của ngân hàng nhỏ. Từ năm 1968 thị trường tiền tệ Châu Âu đã được bổ sung thêm Thị trường trái khoán Châu Âu, mà giờ đây là bộ phận quan trọng nhất của thị trường cốn quốc tế. Một trái khoán Châu Âu do liên hiệp các ngân hàng quốc tế hay các hãng chứng khoán khác bảo lãnh và được bán ở các nước không phải là nước phát hành ra những đồng tiền đó.

Fast Market / Thị Trường Giao Dịch Nhanh

Thị trường giao dịch nhanh là thị trường trong đó các giao dịch diễn ra với tốc độc rất cao khiến cho hệ thông thông tin điện tử không cập nhật kịp các dữ liệu mới nhất về các giao dịch cũng như tình trạng thị trường, đặc biệt hay được sử dụng trong thị trường hợp đồng quyền chọn. Đặc điểm của thị trường này là khối lượng giao dịch lớn và biến động giá rất mạnh. Thị trường giao dịch nhanh thường là kết quả của các tình trạng lệnh giao dịch mất cân đối trên thị trường, ví dụ như khi có rất nhiều lệnh bán mà không có lệnh mua nào. Có rất nhiều kiểu sự kiện có thể kích phát một thị trường giao dịch nhanh, ví dụ một vụ IPO được kỳ vọng lớn, một thông báo quan trọng của một công ty lớn hay khuyến cáo của một chuyên gia phân tích.. Thị trường giao dịch nhanh hàm chứa rất nhiều rủi ro. Mức giá niêm yết có thể không chính xác khi mà giá thị trường biến động quá nhanh so với khả năng cập nhật của hệ thống. Khi đó, có thể sẽ có chênh lệch rất lớn giữa giá niêm yết tại hai thời điểm ngay sát nhau, giá niêm yết không phản ánh được những biến động đang xảy ra trên thị trường. Tương tự như vậy, khối lượng niêm yết cũng thay đổi nhanh chóng mặt.

Eurobond / Trái Phiếu Châu Âu

Trái phiếu Châu Âu là trái phiếu được phát hành bởi các chính phủ, tổ chức tài chính, công ty bằng đồng tiền khác với đồng tiền tại nước phát hành.Trái phiếu Châu Âu ghi bằng USD là hình thức phát hành phổ biến. Trong năm 1996, trái phiếu châu Âu ghi bằng USD chiếm 43,78% trên tổng số phát hành. Hầu hết các Eurobond được phát hành bởi những tổ chức có hệ số tín nhiệm cao, ví dụ hệ số AAA và AA chiếm tới gần 80% tổng số các đợt phát hành. Những nhà phát hành Eurobond tích cực nhất là các chính phủ, các tổ chức quốc tế như Ngân hàng thế giới, Ngân hàng đầu tư Châu Âu và các công ty đa quốc gia.Một số nhà phát hành Eurobond ghi bằng đồng tiền không được sử dụng vào mục đích cuối cùng, mà họ chuyển đổi sang đồng tiền cần thiết khác thông qua nghiệp vụ Swap. Mức lãi suất của Eurobond phụ thuộc vào: điều kiện thị trường và hệ số tín nhiệm của nhà phát hành.Trái phiếu châu Âu được phát hành dưới nhiều dạng khác nhau, bao gồm: Dạng phổ thông nhất là trái phiếu có lãi suất cố định và gốc được thanh toán một lần tại thời điểm đến hạn (gọi là trái phiếu Straights) Trái phiếu có lãi suất thả nổi, tuy mới được áp dụng gần đây nhưng ngày càng được ưa chuộng; đây là trái phiếu châu Âu có mức lãi suất được điều chỉnh định kỳ 3 hay 6 tháng một lần trên cơ sở thay đổi mức lãi suất cơ bản, ví dự lãi suất LIBOR. Các ngân hàng ưu tiên đầu tư phần vốn nhàn rỗi vào các Eurrobond có lãi suất thả nổi. Trái phiếu chuyển đổi: cho phép người nắm giữ trái phiếu quyền chuyển đổi trái phiếu thành cổ phiếu thường của công ty phát hành, theo mức giá đã được ấn định từ trước, tại một thời điểm nhất định trong tương lai. Một đặc điểm nữa mà Eurobond hấp dẫn người đầu tư là họ không phải trả thuế thu nhập từ lãi suất.

Trái phiếu chính phủ hoặc trái phiếu công ty mệnh giá theo một đồng tiền, không phải là đồng tiền quốc gia của bên phát hành. Những trái phiếu này thường được phát hành dưới hình thức trái phiếu vô danh bởi nhưng doanh nghiệp đoàn quốc tế của các ngân hàng thương mại và ngân hàng đầu tư bỏ thầu trên những chứng khoán đã chào bán thông qua Nhóm Bỏ Thầu. Trái phiếu Châu Âu có thể được phát hành theo hình thức một đồng tiền duy nhất, hình thức đa đồng tiền hoặc một đơn vị tài khoản như Đơn Vị Tiền Tệ Châu Âu. Là nguồn vốn quan trọng cho các công ty đa quốc gia, nhưng trái phiếu Châu Âu được thanh toán và thỏa thuận thông qua Euroclear và Cedel, hai cơ quan thanh toán bù trừ do ngân hàng sở hữu. Vay tiền trong thị trường trái Châu Âu thường có thể nhận được nguồn tài chính với mực lãi suất thấp hơn. Xem SAMURAI BOND; YANKEE BOND; YEN BOND.

Family-Unit Agriculture / Nông Nghiệp Theo Đơn Vị Gia Đình

Hệ thống nông nghiệp phổ biến ở các vùng chậm phát triển dựa trên cơ sở gia đình.

Eurobond / Trái Phiếu Phát Hành Bằng Ngoại Tệ

Eurobond là loại trái phiếu được phát hành bằng một đồng tiền khác với đồng nội tệ hay khác với đồng tiền của nước mà tại đó nó được phát hành. Thông thường eurobond do các tập đoàn quốc tế phát hành và được phân loại theo đồng tiền mà nó ghi mệnh giá. Ví dụ: một công ty tại Mỹ muốn phát hành trái phiếu sang Pháp, bằng đồng Franc. Trái phiếu đó chính là một loại eurobond. Lý do các công ty lớn phát hành eurobond rất đa dạng, nhưng chủ yếu là để tìm nguồn vốn với chi phí thấp hơn, hoặc để thoát khỏi những qui định ràng buộc phát hành trái phiếu của quốc gia họ. Eurobond là công cụ tài chính hết sức hấp dẫn với các công ty phát hành vì nó cho phép họ có khả năng linh hoạt trong việc lựa chọn quốc gia, lựa chọn đồng tiền mà nó muốn phát hành. Các nhà đầu tư cũng ưa chuộng loại trái phiếu này vì nó thường có mệnh giá thấp và tính thanh khoản cao. Dưới đây là một số loại Eurobond phổ biến trên thị trường tài chính quốc tế: Eurodollar bond, loại trái phiếu ghi mệnh giá bằng USD, do một công ty ngoài nước Mỹ phát hành và do một công ty khác ngoài cả 2 quốc gia trên nắm giữ. Cụm từ này xuất phát từ thuật ngữ Eurodollar, chỉ lượng USD do các ngân hàng trung ương ngoài FED nắm giữ. Đó là một nguồn huy động vốn quan trọng của các tập đoàn đa quốc gia và chính phủ các nước khác Mỹ.Ví dụ: trái phiếu ghi mệnh giá USD do một công ty Nhật phát hành, được một công ty Australia nắm giữ thì gọi là Eurodollar bond. Ưu điểm của Eurodollar bond chính là ở chỗ nó chịu rất ít qui định ràng buộc, không phải đăng kí với Uỷ ban Chứng khoán và Ngoại hối Hoa Kỳ, và có thể được phát hành với lãi suất thấp hơn trái phiếu phát hành tại Mỹ. Bulldog bond, trái phiếu ghi mệnh giá bằng đồng Bảng Anh do một công ty ngoài Anh Quốc phát hành trên thị trường London. Sở dĩ nó có tên như vậy vì Bull dog (chó Bull) chính là biểu tượng của nước Anh. Samurai bond, gắn với biểu tượng của nước Nhật, là trái phiếu ghi mệnh giá bằng đồng Yen do một công ty ngoài Nhật phát hành trên thị trường Tokyo.

Family Expenditure Survey / Điều Tra Chi Tiêu Gia Đình

Một cuộc điều tra chọn mẫu hàng năm về xu hướng chi tiêu của các hộ gia đình do chính phủ Anh tiến hành.

Sách Combo 4 Cuốn : Tư Duy Ngược + Tư Duy Mở + Biến Mọi Thứ Thành Tiền Chuột không dây Ugreen M751 với con lăn vô cực Máy chơi game retro Powkiddy X55