E-Tranferring / Chuyển Tiền Điện Tử
Bạn có thể dùng điện thoại hoặc máy tính để uỷ thác việc chuyển tiền giữa các tài khoản của bạn hoặc để chuyển các khoản tiền từ tài khoản của mình phục vụ việc thanh toán hoá đơn. Các ví dụ về chuyển tiền điện tử là gửi tiền lương và thanh toán an toàn xã hội. Ngày càng nhiều các quỹ đầu tư tương hỗ, công ty môi giới, ngân hàng, công ty tiện ích và doanh nghiệp bán lẻ phát triển thêm các công cụ điện tử cho bạn sử dụng.
E-Stockbroker / Môi Giới Chứng Khoán Trên Mạng
Môi giới chứng khoán trên mạng là một nghề khá đặc biệt đem lại lợi nhuận lớn không kém gì đầu tư chứng khoán, trong khi không cần phải có vốn lớn. Đây là nghề đòi hỏi trí tuệ và sự nghiên cứu đặc biệt của các nhà môi giới có kiến thức về thị trường tài chính, đồng thời phải có khả năng thuyết phục khách hàng. Thành công của những nhà môi giới chứng khoán trên mạng trong những năm qua đã giúp thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển của thị trường chứng khoán thế giới. Họ là những người ngồi trước máy tính, tận dụng ưu thế của công nghệ thông tin và hệ thống giao dịch chứng khoán điện tử để giúp khách hàng đặt lệnh mua bán chứng khoán. Những nhà đầu tư gọi họ bằng cái tên “e-customer’s man” hay “e-stockbroker”. Cũng như những nhà môi giới chứng khoán thông thường, các e-stockbroker đại diện cho khách hàng để thu xếp giao dịch rồi sau đó hưởng hoa hồng. Người môi giới trên mạng không mua bán chứng khoán cho mình, họ chỉ là người nối kết và giúp thực hiện yêu cầu của nhà đầu tư. Chứng khoán và tiền được chuyển dịch qua lại từ khách bán sang khách mua. Trong quá trình đó, nhà môi giới không đứng tên chứng khoán. Khi cung cấp những lời hướng dẫn hoặc tư vấn cho khách hàng qua mạng trong việc đầu tư chứng khoán hoặc liên quan đến việc mua bán cổ phiếu niêm yết, vai trò của một nhà môi giới là rất quan trọng. Đầu tiên, các e-stockbroker phải gửi thông báo cho khách hàng về dịch vụ nhận lệnh qua mạng Internet, trong thông báo đó họ nêu rõ địa vị pháp lý của mình và các dịch vụ mà mình được phép tiến hành. Nếu các e-stockbroker không phải là người quản lý hay bảo quản tài khoản của khách hàng, họ sẽ nêu rõ các thông tin về mình nhằm đảm bảo các chức năng hoạt động cho tài khoản của khách hàng. Trước khi thực hiện các dịch vụ đầu tiên qua mạng Internet, các e-stockbroker sẽ: Đảm bảo lời mời chào của họ trong trường hợp gửi đến các nhà đầu tư cư trú ở nước ngoài tuân thủ đúng các quy định luật pháp của nước đó. Trước khi nhận lệnh của một khách hàng hoàn toàn mới đối với mình, các e-stockbroker phải yêu cầu khách hàng gửi cho mình một bản sao hộ chiếu hay chứng minh thư, bản kê khai ngân hàng và một giấy chứng nhận về nơi cư trú. Ghi rõ ràng, cụ thể trong hợp đồng dịch vụ với khách hàng các phương thức công nhận chứng cứ riêng đối với việc nhận lệnh mua, bán chứng khoán qua Internet. Đảm bảo rằng khách hàng của mình sẽ nhận được thông tin một cách có hệ thống qua hình thức truy cập Internet hay qua thư bảo đảm. Các e-stockbroker còn đảm bảo rằng khách hàng sẽ nhận được thông tin khi các giao dịch chứng khoán diễn ra khác với các giao dịch mà họ vẫn thường xuyên thực hiện. Khi các e-stockbroker là người quản lý tài khoản, họ phải có hệ thống kiểm soát tự động đối với các tài khoản của khách hàng. Trong trường hợp không đủ khả năng kiểm soát mọi tài khoản, hệ thống này phải đảm bảo sự phong tỏa các lệnh vào mạng, thông báo cho khách hàng qua hệ thống màn hình và mời họ cùng giải quyết tình hình. Ngoài ra, pháp luật cũng yêu cầu các e-stockbroker phải trang bị hệ thống kiểm tra tự động sự liên kết giữa các lệnh đặt mua và bán. Một trong những công việc quan trọng khác của các e-stockbroker trước khi thực hiện bất kỳ lệnh nào của khách hàng là phải xác nhận với khách hàng rằng đã nhận được lệnh do khách hàng chuyển đến. Khách hàng được yêu cầu xác định lại quyết định giao dịch của mình và khi đó các e-stockbroker chịu trách nhiệm về việc thực hiện tốt lệnh của khách hàng. Về vấn đế an ninh kỹ thuật, các e-stockbroker phải trang bị hệ thống thông tin hóa và các thiết bị đi kèm (điện thoại, fax...) phù hợp với tầm quan trọng của khách hàng. Đồng thời, các e-stockbroker cũng phải đảm bảo rằng, hệ thống này hoàn toàn an toàn theo đúng các quy định hiện hành về an ninh trong hệ thống giao dịch chứng khoán trực tuyến. Trong trường hợp hoạt động có trục trặc, các e-stockbroker phải thông báo cho khách hàng theo những điều kiện tốt nhất về bản chất và thời gian kéo dài dự kiến của tình hình trục trặc đó. Hợp đồng dịch vụ giữa các e-stockbroker với khách hàng cũng phải nêu rõ các thiết bị đi kèm kết nối từ phía khách hàng trong trường hợp có sự cố lâu dài của hệ thống. E-stockbroker không tiếp xúc trực tiếp với khách hàng mà phải thường xuyên thu thập và cập nhật thông tin liên lạc đến khách hàng. Nếu khách hàng từ chối việc cung cấp thông tin, các e-stockbroker sẽ cố gắng bằng cách khác thu thập cho được thông tin của khách hàng. Trường hợp thông tin thu thập được từ khách hàng không đủ để đánh giá mức độ rủi ro của khách hàng hoặc không thể đưa ra những hướng dẫn phù hợp với khách hàng, e-stockbroker phải từ chối việc nhận đăng ký làm khách hàng.
Fama And French Three Factor Model / Mô Hình 3 Nhân Tố Fama Và French
Đây chính là mô hình nhân tố mở rộng từ mô hình CAPM bằng cách thêm vào các yếu tố giá trị trong các yếu tố rủi ro thị trường của CAPM. Mô hình này xem thực tế các cổ phiếu có mức vốn hóa nhỏ thường có mức thể hiện tốt hơn thị trường là một yếu tố cơ bản xuyên suốt mô hình. Bằng việc thêm vào hai nhân tố, mô hình đã điều chỉnh nhằm phụ vụ tốt hơn cho khuynh hướng thể hiện tốt hơn thị trường. Do đó mô hình này được xem là một công cụ tốt hơn để định giá khả năng thể hiện của các nhà quản trị quỹ. Fama và French cố gắng để đo lường tốt hơn tỷ suất sinh lợi của thị trường và thông qua các nghiên cứu, hai ông đã phát hiện ra các cổ phiếu giá trị thường có mức thể hiện tổt hơn các cổ phiếu tăng trưởng, tương tự, các cổ phiếu có mức vốn hóa thấp thường có mức thể hiện tốt hơn các cổ phiếu có mức vốn hóa lớn. Bởi vì đây một mô hình định giá, nên mức thể hiện của các danh mục có số lượng lớn các cổ phiếu có mức vốn hóa thấp hoặc cổ phiếu giá trị sẽ bị định giá thấp hơn so với kết quả của CAPM, do mô hình 3 nhân tố đã điều chỉnh thấp xuống đối với sự thể hiện của các cổ phiếu có mức vốn hóa thấp và các cổ phiếu giá trị.Có rất nhìêu tranh luận về vấn đề liệu rằng khuynh hướng thể hiện tốt hơn thị trường trong thị trường hiệu quả hay thị trường không hiệu quả. Trường phái tranh luận ủng hộ tính hiệu quả của thị trường thì cho rằng, cũng dễ hiểu thôi, mức thể hiện tốt hơn thị trường chính là phần thưởng cho nhà đầu tư khi đầu tư vào các cổ phiếu có mức vốn hóa thấp và các cổ phiếu giá trị với mức rủi ro cao hơn, chi phí sử dụng vốn cao hơn và rủi ro kinh doanh cao hơn. Trường phải ủng hộ tính ko hiệu quả của thị trường thì cho rằng: sở dĩ có sự thể hiện tốt hơn này chính là các nhà đầu tư tham gia thị trường đã định giá không đúng giá trị của những công ty này, do đó đã tạo thêm phần tỷ suất sinh lợi cao hơn hơn, trong dài hạn giá trị của chúng sẽ bị điều chỉnh.
Estimator / Phương Thức Ước Lượng; Ước Lượng
Một công thức hay một quy trình ước lượng các con số thống kê (chẳng hạn như trung bình hay phương sai của một biến số) hoặc các tham số của một phương trình nhân được từ số liệu.
Falling Knife / Dao Rơi
Đây là thuật ngữ được dùng trong lĩnh vực chứng khoán hoặc một ngành kinh doanh để chỉ giá cả hoặc giá trị tại thời điểm hiện tại giảm đáng kể chỉ trong một thời gian ngắn. Chứng khoán ở thời điểm dao rơi có thể bật lên lại hoặc có thể mất hết giá trị của nó. Chẳng hạn như trong trường hợp công ty bị phá sản. Những cổ phiếu khi ấy sẽ không còn giá trị gì cả.Tình huống dao rơi có thể xuất hiện từ hậu quả của việc kinh doanh thực tế (chẳng hạn như sụt giảm nghiêm trọng về thu nhập ròng) hoặc vì sự gia tăng những cảm xúc tiêu cực của các nhà đầu tư. Theo thuật ngữ này, mua vào khi thị trường có những sự tuột dốc mạnh có thể rất nguy hiểm. Nếu thời gian được tính toán hoàn hảo, mua ở đáy là tốt nhất, cả về khía cạnh tài chính lẫn về cảm xúc cá nhân nhưng rủi ro là rất cao. Những ví dụ về thị trường chứng khoán tụt thẳng xuống dốc là rất nhiều; cổ phần được nắm giữ nhiều có thể trượt thẳng đứng như quyền sở hữu các tài sản cầm cố có thể tụt giảm và biến mất hẳn.
Estimation / Sự Ước Lượng
Sự xác định mang tính định lượng các tham số trong các mô hình kinh tế thông qua các số liệu thông kê.
Fallen Angel / Thiên Thần Rơi
Thuật ngữ này dùng để chỉ: 1. Một trái phiếu đã từng được xếp hạng đầu tư, nhưng đã rơi vào tình trạng suy giảm uy tín 2. Một cổ phiếu đã bị giảm giá trầm trọng so với lúc đỉnh điểm Trên thực tế tồn tại những ranh giới rõ giữa các "thiên thần rơi" là những cổ phiếu có giá trị thực (nhưng vì lí do nào đó, có thể là do tình trạng chung của thị trường, mà suy giảm) và những cổ phiếu ít giá trị của các công ty sắp phá sản.
Estate Economy / Nền Kinh Tế Đồn Điền
Thuật ngữ nói về một khu vực hay toàn bộ nền kinh tế ở một nước chậm phát triển được sử dụng để sản xuất đại quy mô lớn nông sản xuất khẩu, thường do các thế lực nước ngoài sở hữu hoặc quản lý; nền kinh tế này rất phổ biến trong thời kỳ thuộc địa.
Fallacy Of Composition / Ngụy Biện Về Hợp Thể; 'Khái Niệm "Sai Lầm Do Gôm Gộp/ Tổng Hợp"
Ngụy biện về hợp thể; 'Khái niệm "sai lầm do gôm gộp/ tổng hợp".
Estate Duty / Thuế Di Sản (Thuế Tài Sản Thừa Kế)
Dạng chủ yếu của thuế của cải ở Anh trước khi nó được thay thế bằng thuế CHUYỂN GIAO VỐN năm 1974. Thuế này được dánh giá theo suất luỹ tiến vào các tài sản của người chủ khi người này qua đời. Thuế luỹ tiến được áp dụng cho toàn bộ tài sản chứ không chỉ cho lượng gia tăng của cải.
Fair Wages / Tiền Công Công Bằng
Nhìn chung, tiền công công bằng là tiền công được cố định theo LUẬT TIỀN CÔNG TỐI THIỂU quốc gia.
Establishing A Mutual Fund / Thành Lập Quỹ Tương Hỗ
Các quỹ tương hỗ thường do các công ty đầu tư (gọi là các công ty quỹ tương hỗ), các công ty môi giới và ngân hàng tạo dựng nên. Số lượng quỹ mà các nhà bảo trợ này cung cấp rất đa dạng, từ rất ít như 2, 3 quỹ đến số lượng lớn hơn 150 quỹ. Vào thời điểm công bố, đã từng có lúc có hơn 400 nhóm quản lý quỹ, vận hành nguồn lực của gần 8.000 quỹ. Mỗi quỹ mới đều có một nhà quản lý có trình độ chuyên môn tốt, một mục tiêu đầu tư, một kế hoạch hoặc chương trình đầu tư mà nó sẽ theo đuổi để có thể xây dựng portfolio riêng của quỹ. Các quỹ sẽ tiến hành tiếp thị hoạt động với các nhà đầu tư tiềm năng bằng cách đặt quảng cáo trên các báo tài chính, gửi thư quảng cáo trực tiếp, các thông cáo báo chí và thường là qua sự trợ giúp của các đại diện có đăng ký-những người sẽ thu được phí hoa hồng từ việc môi giới bán cổ phiếu quỹ trong tương lai. Các bước cơ bản khi tạo dựng một quỹ: Quỹ quyết định các phương pháp luận đầu tư - Phát hành bản cáo bạch - Bán cổ phiếu quỹ (còn gọi là chứng chỉ).
Escrow Account / Tài Khoản Bảo Chứng
Khi đã kết thúc/đóng một cuộc mua bán, bạn có thể có một tài khoản bảo chứng/giữ lại (escrow account hay impound account) với nơi cho vay. Đây là nơi khoản tiền trả hàng tháng, số tiền này có thể nhiều hơn số tiền cần phải trả cho gốc và tiền lời. Khoản trội này được giữ trong tài khoản trên để trả những thứ như thuế nhà và bảo hiểm nhà khi đến kỳ. Nơi cho vay sẽ chi trả các khoản này thay cho người thuê vay.
Fair Trading, Office Of / Văn Phòng Thương Mại Công Bằng
Được ra đời theo Đạo luật thương mại bình đẳng 1973, văn phòng này có trách nhiệm thu thập thông tin liên quan đến cơ cấu của các nghành và việc tiến hành kinh doanh.
Fair Trading Act 1973 / Đạo Luật Thương Mại Công Bằng 1973
Đạo luật này của Anh đã mở rộng chính sách cạnh tranh đối với các thị trường độc quyền, và trách nhiệm tập trung trong việc thực hiện luật độc quỳên và hoạt động hạn chế với văn phòng mới của Tổng giám đốc Văn phòng Thương mại Công bằng.
Fair Trade Law / Luật Thương Mại Công Bằng
Ở Mỹ đã có một số nỗ lực nhằm thiết lập các mức giá bán lẻ tối thiểu theo khuôn khổ pháp luật (các thoả thuận được duy trì mức giá bán lại) đối với các hàng hoá có nhãn hiệu và tên gọi.
Escalators / Điều Khoản Di Động Giá
Các điều khoản về phí sinh hoạt trong các ghi thoả thuận thương lượng tập thể. Các điều khoản là một cơ chế điều chỉnh định kỳ mức lương dựa trên những biến động của một chỉ số giá cả nhất định.
Fair Trade / Thương Mại Tương Nhượng/ Thương Mại Công Bằng
Thuật ngữ này được dùng trong ngành bán lẻ để chỉ một thỏa thuận giữa những nhà sản xuất và những người bán lẻ. Trong đó, các sản phẩm của nhà sản xuất sẽ được bán ở mức cao hơn hoặc bằng giá cả thỏa thuận. Ở một số nơi, những thỏa thuận này được hợp nhất và có được thi hành thông qua những đạo luật về thương mại tương nhượng.Thương mại tương nhượng là sự cộng tác mua bán dựa trên sự trao đổi, minh bạch và tôn trọng lẫn nhau để đạt được sự công bằng cao hơn trong thương mại quốc tế. Khi đó, những sản phẩm bị gọi là hàng thứ yếu cũng như quyền lợi của người lao động sẽ được bảo đảm. Khái niệm kinh doanh này áp dụng đối với những mặt hàng thô, các nguyên liệu nhằm khuyến khích viêc bảo vệ nguồn tài nguyên dồi dào. Đồng thời hình thức này nhấn mạnh đến sợ hợp tác, hỗ trợ các nước có nền kinh tế phát triển cao đối với các nước đang phát triển.
Fair Rate Of Return / Tỷ Suất Lợi Tức Công Bằng
Nguyên tắc chủ đạo trong việc điều tiết ngành công ích ở Mỹ là tỷ lệ thu lợi hợp lý đối với giá trị của vốn được sử dụng trong việc sản xuất các dịch vụ dân dụng.
Fair Market Value / Giá Thị Trường Hợp Lý
Đây là mức giá của một loại tài sản mà tại đó tài sản này có thể bán được trên thị trường dưới các điều kiện sau: Khách hàng tiềm năng và người bán có những hiểu biết hợp lý về tài sản này, họ hành động nhằm đạt được lợi ích lớn nhất cho mình, và không chịu sức ép phải tiến hành mua bán. Có một khoảng thời gian hợp lý để hoàn thành giao dịch. Với tất cả các điều kiện này thì giá thị trường hợp lý của một tài sản sẽ thể hiện giá trị thật của tài sản đó, hay nói cách khác tài sản đó được định giá một cách đúng đắn. Giá thị trường hợp lý được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực của thương mại. Ví dụ: thuế nhà đất của một quốc gia thường xác định dựa trên giá thị trường chuẩn của ngôi nhà hay mảnh đất đó. Mức giá này sẽ phụ thuộc vào khoảng thời gian mà người chủ của ngôi nhà đã sở hữu nó, chênh lệch giữa giá mua bán thực tế giữa các bên và giá thị trường chuẩn của ngôi nhà có thể là rất lớn. Giá thị trường chuẩn cũng là giá thường hay được các công ty bảo hiểm sử dụng, đặc biệt trong các tình huống cần đánh giá giá trị của tài sản thiệt hại để bồi thường cho người được bảo hiểm. Ví dụ: khi khách hàng khiếu nại về những thiệt hại anh ta phải chịu trong một vụ tai nạn xe hơi, công ty bảo hiểm sẽ bồi thường tổn thất cho người được bảo hiểm tới giá trị thị trường chuẩn của chiếc xe đó.






