Thuật Ngữ Kinh Tế

A B C D E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Z Tất cả

Fair Comparisons / So Sánh Công Đẳng

So sánh tiền công dựa trên cơ sở cho rằng công nhân làm những công việc gần tương tự như nhau phải được trả cùng mức tiền công.

Factors Of Production / Các Yếu Tố Sản Xuất

Các nguồn lực của xã hội được sử dụng trong quá trình sản xuất.

Factors Of Production / Các Nhân Tố Của Sản Xuất

Các nhân tố của sản xuất là các nguồn lực được sử dụng trong việc sản xuất ra hàng hóa và dịch vụ, bao gồm đất đai, lao động và vốn (tư bản). Đất đai hoặc tài nguyên thiên nhiên là đất đai và khoáng vật được sử dụng để tạo ra sản phẩm. Lao động là sức người được sử dụng trong quá trình sản xuất, bao gồm cả kĩ năng chuyên môn và marketing. Tiền được trả cho đội ngũ lao động được gọi là tiền lương. Tư bản (hay còn gọi là hàng hóa tư bản) là những phương tiện để sản xuất, được sử dụng trong quá trình sản xuất ra các hàng hóa khác, bao gồm máy móc, công cụ, và nhà cửa (xưởng sản xuất). Vốn (tư bản) lại được chia thành vốn cố định và vốn lưu động Vốn cố định biểu hiện ra thành tài sản cố định của doanh nghiệp: bao gồm máy móc, nhà xưởng, trang thiết bị, công nghệ... Vốn lưu động là biểu hiện thành tiền của tài sản lưu động: Bao gồm những hàng hóa thành phẩm hoặc bán thành phẩm sẽ được bán hoặc sẽ được hoàn thiện để bán trong tương lai gần, và các tài sản cần phải được sử dụng trong quá trình sản xuất, bao gồm: tiền lương, thuế, nguyên vật liệu...

Factors Influence Futures' Price / Những Nhân Tố Ảnh Hưởng Tới Giá Hợp Đồng Futures

Giá của hợp đồng futures chịu ảnh hưởng của các yếu tố tự nhiên và chính trị nhưng nó cũng bị ảnh hưởng bởi các tin tức kinh tế mà chính phủ tiết lộ, bởi thời gian hiệu lực của hợp đồng và bởi những gì người đầu cơ nói và làm. Thông thường thì hàng ngày, chính phủ sẽ công bố các dữ liệu kinh tế, bán trái phiếu Kho bạc dài hạn hoặc qui định các chính sách mới có thể ảnh hưởng đến giá của hợp đồng tương lai đối với cả các sản phẩm tự nhiên lẫn sản phẩm tài chính. Ví dụ thông tin về việc bán nhà mới, có thể sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến giá hợp đồng futures gỗ, khi cả những người hạn chế rủi ro lẫn những người đầu cơ đều cố gắng để hạn chế sự tăng hoặc giảm giá gỗ nhằm đáp ứng với yêu cầu của ngành xây dựng. Nếu một nhà sản xuất chấp nhận giữ lại sản phẩm của mình để giao hàng vào một thời điểm tương lai, hợp đồng sẽ phản ánh các khoản chi hàng ngày cho việc lưu kho, bảo hiểm và các công việc liên quan khác cho đến ngày phải giao hàng. Nói chung, càng xa ngày phải giao hàng, chi phí liên quan càng lớn. Mặc dù vậy, giá cả hiếm khi tăng lên đều đặn trong các tháng liên tiếp nhau. Khi giá tăng lên như vậy, mối quan hệ này được gọi là contango. Sự đầu cơ cũng ảnh hưởng đến giá sản phẩm. Cầu đột ngột đối với một hợp đồng - bị kích động do tin đồn, thông tin nội bộ hoặc các yếu tố khác - có thể khiến giá hàng hoá đó "cao đến tận mây xanh". Hoặc điều ngược lại có thể xảy ra khi có các tin đồn hoặc các sự kiện khiến nhà đầu tư do dự không muốn bán. Đầu tư vào các công cụ phái sinh chứng khoán futures và options khác với đầu tư vào cổ phiếu, trái phiếu và quỹ tương hỗ bởi vì thị trường futures và options là thị trường có tổng bằng 0 (zero-sum market).  Điều đó có nghĩa cứ mỗi đồng một người nào đó kiếm lãi được (trước khi trả phí hoa hồng) thì nhất định sẽ có một người khác mất một đồng. Hay nói một cách rõ ràng hơn, có nghĩa là mỗi khoản lãi một người kiếm được chính là từ chi phí của một người khác.

Escalation Price / Giá Leo Thang

Giá cả leo thang là thuật ngữ chỉ sự tăng lên đột biến về giá, vượt xa giá trị thực của hàng hóa đó theo thời gian, đặc biệt khi lạm phát xảy ra. Khi có lạm phát, giá sản phẩm tăng do chi phí đầu vào của quá trình sản xuất tăng như: thiết bị máy móc, nhiên liệu, nguyên liệu, giá nhân công..v.v. Giá leo thang gây ảnh hưởng xấu tới nền kinh tế:- Làm thiệt hại tới tiêu dùng, giá cả tăng quá cao khiến tiêu dùng giảm, người tiêu dùng bị thiệt hại.- Làm thiệt hại tới sản xuất: Giảm sản xuất do chi phí đầu vào tăng và tiêu dùng giảm.- Làm thiệt hại tới xã hội: giá cả leo thang trong thời kỳ lạm phát gây ảnh hưởng tới nhiều mặt. Sa thải bớt nhân công để giảm chi phí đầu vào làm thất nghiệp tăng. Làm giảm mức sống của người dân do với cùng một số tiền như trước kia họ sẽ mua được ít hàng hóa hơn...v.v.

Errors Variables / Sai Số Trong Biến Số (Hay Sai Số Trong Các Phép Đo)

Một bài toán kinh tế lượng, theo đó các biến giải thích trong phân tích HỒI QUY được đo một cách không hoàn hảo do giá trị thực tế của chúng không thể quan sát được, hay do sự không chính xác khi ghi chép.

Errors And Omisisons - EO / Sai Số Và Bỏ Sót

Bắt nguồn của sự ra đời thuật ngữ này là bởi sự sai số. Nguyên nhân của sai số xuất phát từ việc không thể theo dõi hết được các giao dịch trong và ngoài nước; việc trốn thuế khiến nhiều khoản không được phản ánh vào tài khoản vốn, rồi gian lận kê khai tình hình xuất nhập khẩu để giảm lợi nhuận thực tế; đến việc thanh toán chậm, thanh toán trước trong các giao dịch thương mại (ví dụ trường hợp hàng hóa được nhập khẩu nhưng việc thanh toán lại được hoãn lại chưa thực hiện, tuy nhiêu hàng nhập khẩu được cơ quan hải quan ghi nhận dẫn đến sai số) Theo đó, do rất nhiều vấn đề thống kê nảy sinh khi xử lý số liệu, nên phương trình OR = CA + KA không phải lúc nào cũng cân bằng. Và để xử lý vấn đề này người ta phải thêm vào khoản mục Sai số và bỏ sót (EO) để có thể xử lý các khoản chênh lệch giữa tổng khoản mục có và khoản mục nợ, nếu có.

Factor - Price Frontier / Giới Hạn Yếu Tố Sản Xuất - Giá Cả

Thuật ngữ này do PAUL SAMUELSON đưa ra, chỉ mối quan hệ tỷ lệ nghịch giữa mức tiền công và lợi nhuận trong lý thuyết tăng trưởng.

Factor-Price Equalization / Sự Cân Bằng Yếu Tố Sản Xuất - Giá Cả

Một định đề nảy sinh từ CÁCH TIẾP CẬN HECKSCHER - OHLIN VỀ THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ cho rằng với một số giả thiết hạn chế, THƯƠNG MẠI TỰ DO là sự thay thế hoàn hảo cho việc di chuyển yếu tố sản xuất và sẽ có tác dụng san bằng mức thanh toán cho bất kỳ một yếu tố sản xuất nào trên phạm vi toàn thế giới, chẳng hạn như mức tiền công của tất cả các nước phải bằng nhau.

Error Resolution / Giải Quyết Sai Sót

Thuật ngữ này chỉ tiến trình sửa chữa lại các giao dịch gây tranh cãi đối với tài khoản ngân hàng của người sử dụng. Một người tuyên bố rằng ngân quỹ đã bị một người không có thẩm quyền chuyển đi mà chưa có sự đồng ý trước hay giao dịch mua bán đã bị nhập vào không rõ ràng vì sai sót của kế toán ngân hàng thì người này có thể sửa lại sai sót bằng cách báo cho tổ chức giữ lại tài khoản đó. Một khi đã được thông báo, tổ chức tài chính có từ 10 đến 45 ngày để thẩm tra lời khiếu nại và ghi lại bên có số ngân quỹ đã ghi bên nợ vì sai sót.

Thủ tục điều chỉnh các giao dịch tranh chấp đối vời tài khoản ngân hàng của khách hàng theo Quy Định E của Dự trữ Liên bang. Khách hàng than phiền rằng tiền bị lấy ra khỏi tài khoản bởi một Giao Dịch Trái Phép của người khác mà không được thỏa thuận trước, hoặc giao dịch ghi không đủng do lỗi kế toán của ngân hàng, sai sót có thể được điều chỉnh bằng cách thông báo cho định chế tài chính đang nắm giữ tài khoản. Khi gửi thông báo thì các định chế tài chính có từ 10 đến 45 ngày để điều tra khiếu nại, và ghi lại vào các quỹ đã bị ghi nợ do sai sót. Tài khản nợ phải trả của khách hàng theo quy định bị giới hạn là $50 nếu ngân hàng được thông báo sai sót, trái lại có thể sai đến $500.

Rybczcynski Theorem / Định Lý Rybczcynski

Định lý, do nhà kinh tế Rybczcynski đưa ra, cho rằng nếu trong mô hình HECKSCHER-OHLIN, một trong hai yếu tố sản xuất được tăng để duy trì giá cả hàng hoá và các yếu tố sản xuất không đổi thì lượng hàng hoá dùng nhiều yếu tố sản xuất được tăng lên phải mở rộng sản lượng hàng hoá kia, dùng nhiều hơn trong yếu tố sản xuất không đổi phải giảm xuống.

Error Correction Models (Ecms) / Các Mô Hình Hiệu Chỉnh Sai Số; Các Mô Hình Sửa Chữa Sai Số

Trong phân tích và hồi quy một ECMs kết hợp các sự tác động qua lại ngắn hạn và dài hạn giữa các biến số.

Russell 3000 / Chỉ Số Russell 3000

Một chỉ số chứng khoán (trung bình trọng số của giá trị vốn hóa thị trường của các công ty) đưa ra bởi công ty Russell Investment Group với mục đích là chuẩn đánh giá của toàn bộ thị trường chứng khoán Mỹ. Cụ thể hơn, chỉ số này bao gồm các cổ phần được giao dịch của 3000 công ty lớn nhất của Mỹ, các công ty này đều là pháp nhân. Các cổ phiếu được tính trong chỉ số Russell 3000 được tính lại một năm một lần (vào khoảng tháng 5 hoặc tháng 6). Vào các quãng thời gian này, các công ty sẽ được xếp hạng lại dựa trên giá trị vốn hóa thị trường của họ trong năm đó. Hơn thế nữa, nếu một thành viên mà bị cho là không đủ tư cách để tiếp tục tham gia trong năm đó (như chuẩn bị chuyển thành công ty tư nhân, sắp bị thâu tóm, hoặc sắp phá sản), công ty thay thế sẽ không được công bố cho đến lần tính toán tiếp theo. Trong số 3000 cổ phần cấu thành chỉ số, có hai chỉ số phụ rất phổ biến được đi kèm để theo dõi sự tiến triển của thị trường. 1000 cổ phần lớn nhất trở thành chỉ số Russell 1000 (Large cap) và 2000 cổ phần còn lại cấu thành chỉ số Russell 2000 (small-cap).

Russell 2000 Index / Chỉ Số Russell 2000

Là một chỉ số của thị trường chứng khoán dùng để đo khả năng hoạt động của 2000 công ty có giá trị vốn hóa thị trường nhỏ nhất trong số 3000 công ty của chỉ số Russell 3000. Chỉ số Russell 2000 có chức năng là chuẩn đánh giá cho những cổ phiếu có giá trị vốn hóa thị trường nhỏ trên thị trường chứng khoán Mỹ. Giá trị vốn hóa thị trường (trung bình trọng số) của các công ty trong chỉ số Russell 2000 là khoảng 1 tỉ đôla Mỹ, và bản thân chỉ số được coi là chuẩn đánh giá đối với tất cả các quỹ tương hỗ có giá trị nhỏ.

Equivalent Income Scale / Thang/ Hệ Số/ Tỷ Lệ/ Qui Mô Qui Đổi Thu Nhập Tương Đương

Một hệ số bằng số áp dụng đối với mức thu nhập của các gia đình cần có để đạt tới mức sống nhất định.

Equivalent Commodity Scale / Thang/ Hệ Số/ Tỷ Lệ/ Qui Mô Qui Đổi Hàng Hoá Tiêu Dùng Tương Đương

Một hệ số biểu thị bằng số áp dụng cho mức tiêu dùng các hàng hoá nhất định của các giá đình trong các hoàn cảnh khác nhau để chỉ ra mức tiêu dùng mà mỗi gia đình cần có để đạt được mức sống nhất định.

Equivalance Scale / Thang / Hệ Số / Tỷ Lệ / Qui Mô Qui Đổi Mức Sống Tương Đương; Quy Mô Tương Đương

Một hệ số hoặc một "quyền số" được dùng để đánh giá mức thu nhập hoặc tiêu dùng mà các gia đình bắt buộc phải có trong các hoàn cảnh khác nhau để đạt được một "mức sống" nhất định.

Rule-Of-Thumb / Quy Tắc Tự Đặt

Một công thức hay thủ tục mà tạo cơ sở cho việc ra quyết định của các tác nhân kinh tế.

R-Squared / R-Bình Phương

Đây là một thước đo thống kê thể hiện cho thấy bao nhiêu phần trăm mức độ dao động trong tỷ suất sinh lợi của một quỹ hoặc một chứng khoán có thể được giải thích với sự dao động trong chỉ số danh mục chuẩn. Đối với các chứng khoán có thu nhập cố định, danh mục chuẩn là T-bill, còn đối với các cổ phiếu, vốn cổ phần thì danh mục chuẩn là S&P500 R-bình phương có giá trị từ 0 đến 100. R-bình phương bằng 100 có nghĩa là tất cả sự dao động của một chứng khoán hoàn toàn được giải thích bởi sự dao động của chỉ số danh mục chuẩn. R-bình phương càng lớn( 85-100) cho thấy tỷ suất sinh lợi của quỹ có tương quan rất cao với chỉ số danh mục chuẩn. Một quỹ có chỉ số R-bình phương thấp (70 hoặc dưới 70) thì sự biến động trong tỷ suất sinh lợi của nó không giống nhiều lắm với sự biến động của chỉ số danh mục chuẩn. Giá trị R-bình phương cao hơn sẽ cho thấy con số về beta có ý nghĩa hơn. Thí dụ, nếu một quỹ có R-bình phương gần với giá trị 100 nhưng có beta nhỏ hơn 1, điều đó gần như là cho thấy quỹ đang có một tỷ suất sinh lợi có điều chỉnh rủi ro cao hơn. Một chỉ số R-bình phương thấp có nghĩa là bạn cũng nên lờ đi ý nghĩa của beta.

Equity Risk Premium / Phần Bù Rủi Ro Vốn Cổ Phần

Phần tỷ suất sinh lợi vượt trội hơn tỷ suất sinh lợi phi rủi ro mà một chứng khoán riêng lẻ hoặc toàn bộ thị trường có thể đạt được gọi là phần bù rủi ro vốn cổ phần. Phần tỷ suất sinh lợi vượt trội này chính là phần thưởng cho các nhà đầu tư vì họ đã dám chấp nhận một mức rủi ro cao hơn khi đầu tư vào thị trường vốn cổ phần so với đầu tư vào trái phiếu phi rủi ro. Độ lớn của phần bù rất khác nhau bởi vì rủi ro của mỗi chứng khóan riêng biệt hoặc của tòan bộ thị trường chứng khóan luôn khác nhau. Thường thì các khoản đầu tư có rủi ro cao hơn sẽ có phần bù rủi ro cao hơn.Lý do đằng sau phần bù này chính là sự đánh đổi giữa rủi ro và tỷ suất sinh lợi. Nhà đầu tư chỉ chấp nhận các khoản đầu tư rủi ro hơn khi họ nhận được một tỷ suất sinh lợi cao hơn tương ứng. Tỷ suất sinh lợi phi rủi ro được niêm yết chính là lãi suất trái phiếu chính phủ. Trái phiếu chính phủ được xem là phi rủi ro bởi vì xác suất chính phủ bị mất khả năng thanh tóan cho người nắm giữ trái phiếu là rất thấp, hầu như bằng 0. Mặt khác, một khỏan đầu tư vào cổ phiếu thì có sự đảm bảo thấp hơn, các công ty thường xuyên làm ăn không hiệu quả hoặc là phá sản.Nếu tỷ suất sinh lợi của một cổ phiếu nào đó là 15% và lãi suất phi rủi ro của cùng giai đoạn đó là 7% thì phần bù rủi ro vốn cổ phần của cổ phiếu đó sẽ là 8% cho thời gian đó.
Sách Combo 4 Cuốn : Tư Duy Ngược + Tư Duy Mở + Biến Mọi Thứ Thành Tiền Chuột không dây Ugreen M751 với con lăn vô cực Máy chơi game retro Powkiddy X55