Firm Order / Đặt Hàng Cố Định
Thuật ngữ này được dùng trong trường hợp cung ứng để bán hàng hoá hay dịch vụ trong một giai đoạn quy định. Nếu người mua chấp nhận sự cung ứng trong thời gian quy định thì người bán buộc phải bán theo các điều khoản đã đưa ra. Ngược lại, nếu người mua không chấp nhận (trả lại) thì việc cung ứng của người bán không còn hiệu lực.
Evergreen Funding / Tài Trợ Vốn Liên Tục
Tài trợ vốn liên tục là một thuật ngữ xuất xứ từ Anh chỉ một hợp đồng tín dụng có tính chất quay vòng theo đó người vay, được phép sẽ được tái tục hợp đồng với các điều khoản như cũ theo định kì chứ không phải thanh toán ngay khi đến hạn. Ví dụ: Nếu ngân hàng X cho công ty A vay $1000.000 với kì hạn 2 năm, thì sau khoảng thời gian đó công ty A có trách nhiệm hoàn trả đầy đủ cả gốc lẫn lãi số tiền đã vay. Ngược lại, nếu đây là một hợp đồng tài trợ vốn quay vòng, thì cứ sau 2 năm nếu công ty A vẫ hoạt động tốt thì khoản nợ trên sẽ tự động được gia hạn thêm 2 năm nữa. Và 2 năm sau, quá trình sẽ lặp lại y như vậy. Theo cách hiểu thứ hai, tài trợ vốn liên tục là việc rót vốn một cách dần dần vào một công ty mới hoặc công ty mới cơ cấu lại vốn. Thông thường tổ chức tài chính đứng ra "tài trợ vốn liên tục" cho một công ty sẽ làm việc liên tục và sát sao với nó. Vốn được rót căn cứ vào những nhu cầu vốn của doanh nghiệp trong từng "pha" - từng giai đoạn phát triển cụ thể của doanh nghiệp trong kinh doanh. Việc sử dụng cái tên "Evergreen funding" xuất phát từ loài cây "thường xanh" (evergreen) - một loại cây họ thông, xanh lá suốt bốn mùa. Tương tự như vậy, người rót vốn cho công ty sẽ không cung cấp toàn bộ vốn một lần mà cung cấp từ từ, hợp lý, nhờ vậy họ có thể nắm rõ tính hình tài chính và hoạt động quản lý vốn của doanh nghiệp trong giai đoạn đầu mới hoạt động.
Firm Commitment / Cam Kết Chắc Chắn
Ngân hàng: 1. Thỏa thuận của bên cho vay cung cấp khoản vay thương mại, khoản vay trả góp, hoặc khoản vay thế chấp với lãi suất đưa ra cho một kì hạn cụ thể. Còn được gọi là thời hạn cố định lãi suất trong cho vay thế chấp. Thường có phí cam kết; và thường bị mất nếu bên vay không nhận khoản vay. 2. Trong thị trường thế chấp thứ cấp, thỏa thuận của người cho vay bán các các khoản vay cho người mua trong kì hạn tương lai cụ thể. Những người mua ở thị trường thứ cấp như Fannie Mae hoặc Freddie Mac, mua các khoản vay với thời hạn giao trước từ 60 đến 120 ngày. Xem GOING LONG; GOING SHORT. Chứng khoán: Chứng khoán được chào mời mà người bảo lãnh phát hành chấp nhận tất cả rủi ro, ngược với thỏa thuận với mọi nỗ lực trong đó người bảo lãnh phát hành hoạt động như đại lý của nhà phát hành.
Firewalls / Biện Pháp Phân Biệt
1. Những quy định để phân biệt hoạt động bảo lãnh phát hành chứng khoán của ngân hàng, và các hoạt động cho vay và nhận tiền kí gởi. Mục đich dự kiến của những quy định của Ủy ban Dự trữu liên bang bảo lãnh phát hành chứng khoán, là duy trì sự phân biệt chức năng của nghiệp vụ ngân hàng và thương mại. 2. Sự kết hợp phần cứng và phần mềm để phân biệt mạng máy tính với các hoạt động bên ngoài, chủ yếu là mạng internet.
Evergreen Fund / Ngân Quỹ Liên Tục
Thuật ngữ này được dùng khi đầu tư khởi đầu trong một công ty mới. Không giống như vốn đầu tư có tính rủi ro (mạo hiểm), ngân quỹ này được tiêm vào từng giai đoạn sau đầu tư ban đầu trong suốt những năm đầu tăng trưởng của công ty.
Fire-Sale / Bán Tống
Fire-sale là việc bán tống hàng hóa đi với mức chiết khấu cực lớn, đặc biệt khi người bán gặp phá sản hoặc những rủi ro nguy khốn khác. Thuật ngữ có thể xuất phát từ thuật ngữ bán tống hàng hóa với giá cực rẻ do bị ảnh hưởng từ các vụ hỏa hoạn (fire damage).
Evening Star / Mô Hình Sao Hôm
Đây là mô hình giá nến bao gồm ba loại nến thể hiện thị trường trong giai đoạn đi xuống, mang các đặc tính sau đây: Phần giá nến thứ nhất là giá nến màu trắng lớn, thể hiện xu hướng đi lên Phần ở giữa có ngọn nến nhỏ (màu đỏ hoặc trắng), gần sát và nằm phía trên ngọn nến thứ nhất. Phần cuối cùng có một ngọn nến màu đỏ lớn, nằm thấp hơn ngọn nến ở giữa và ngang gần với điểm giữa của phần giá nến thứ nhất. Ta có thể thấy rõ hơn thông qua đồ thị dưới đây. Mô hình này thường được các tay buôn chứng khoán sử dụng để phân tích và xem xét các dấu hiệu cho thấy thị trường có xu hướng đảo chiều đi xuống. Việc hình thành các "sao đêm" có thể sẽ rất hữu dụng trong việc tính toán sự thay đổi về xu thế của thị trường, đặc biệt khi sử dụng kết hợp với các chỉ số khác. Rất nhiều tay buôn chứng khoán sử dụng các phân tích dao động giá và đường xu thế để khẳng định lại mô hình giá nến một cách chắc chắn.
Fine - Tuning / Sự Điều Tiết Thuần
Sự điều tiết thuần là một phương pháp can thiệp ngắn hạn về kinh tế, sử dụng các biện pháp tài chính và thuế để kiểm soát các biến động trong tổng cầu, với mục đích tối thiểu hóa sự lệch hướng ra khỏi các mục tiêu của chính sách kinh tế vĩ mô. Tuy nhiên, sự áp dụng “sự điều tiết thuần” bị vây quanh bởi các vấn đề biến động báo trước một cách chính xác trong hoạt động kinh tế và trong việc đo độ lớn và lượng thời gian của các biện pháp trái chu kỳ.
Fincancial Services / Dịch Vụ Tài Chính
Dịch vụ tài chính là thuật ngữ chỉ những dịch vụ cung cấp bởi ngành tài chính. Các dịch vụ tài chính cũng là thuật ngữ được sử dụng để miêu tả những tổ chức làm công việc quản lý tiền, bao gồm các ngân hàng đầu tư (merchant bank), các công ty thẻ tín dụng, các công ty tài chính khách hàng, các doanh nghiệp được chính phủ đỡ đầu (GSE) và các công ty môi giới chứng khoán. Dịch vụ tài chính là ngành công nghiệp lớn nhất trên thế giới nếu tính theo tiền lãi. Trong năm 2004, ngành công nghiệp này chiếm đến 20% giá trị vốn hóa thị trường của chỉ số S&P 500.
Financial Year / Năm Tài Chính
Các cơ quan khác nhau sử dụng các năm tài chính khác nhau để hạch toán tài chính và không cần phải trùng hợp với năm lịch sử tiêu chuẩn.
Even Lot / Odd Lot Trading / Giao Dịch Tròn Lô, Không Tròn Lô
Trên thị trường chứng khoán, đặc biệt là thị trường tương lai, các hàng hoá giao dịch được niêm yết và giao dịch theo lô. Mỗi lô là một đơn vị giao dịch bao gồm một số lượng tiêu chuẩn các công cụ tài chính do sàn giao dịch hoặc cơ quan quản lý qui định. Với chứng khoán giao dịch trên sàn, một lô được hiểu là số lượng tối thiểu chứng khoán đó có thể mua bán, điều này được qui định nhằm tránh việc giao dịch với số lượng quá nhỏ làm chi phí giao dịch tăng cao một cách không cần thiết. Việc phân chứng khoán theo lô cho phép các thị trường tài chính tiêu chuẩn hoá việc yết giá. Ví dụ, mỗi hợp đồng quyền chọn mua/bán cổ phiếu cho phép nhà đầu tư mua hoặc bán 100 cổ phiếu phổ thông. Bằng việc tiêu chuẩn hoá như vậy, nhà đầu tư thường không mất thời gian thoả thuận lại mỗi lần giao dịch mà luôn biết chính xác số lượng cổ phiếu trong mỗi hợp đồng là bao nhiêu, nhờ vậy anh ta sẽ dễ dàng tính toán được mức giá mà anh ta phải trả cho mỗi cổ phiếu là bao nhiêu. Một lô tròn (even lot, round lot) thường bao gồm 100 chứng khoán cơ sở, lô có số lượng nhỏ hơn 100 được gọi là một lô không tròn (odd lot, uneven lot). Ở các thị trường chứng khoán phát triển cao như NYSE, người môi giới chứng khoán chỉ xử lý các lệnh giao dịch theo lô tròn. Trong trường hợp nhà đầu tư muốn mua bán cổ phiếu không tròn lô, người môi giới sẽ phải nhờ đến những người trung gian tiến hành thay mình. Khác với người môi giới, những trung gian này không hưởng hoa hồng theo % mà theo 1/8 "điểm" tức là 12.5 cent mỗi cổ phiếu giao dịch. Người mua chứng khoán không tròn lô thường là những nhà đầu tư cá nhân nhỏ lẻ, tiến hành giao dịch với số lượng ít. Trước đây có nhiều giả thuyết cho rằng các nhà đầu tư cá nhân là những người có khả năng chịu đựng rủi ro thấp, ít khi giữ cổ phiếu lâu dài, và thường đưa ra những quyết định sai. Vì vậy, khi khối lượng cổ phiếu bán không tròn lô tăng lên, tức là lúc các nhà đầu tư các nhân bán ra, đó là thời điểm tốt để mua vào. Tuy nhiên, giả thuyết như vậy sau này đã không thể đứng vững trong thị trường hoạt động hiệu quả.
Financial Times Industrial Ordinary Index / Chỉ Số Công Nghiệp Của Báo Financial Times
Trước khi xuất hiên chỉ số FT - SE 100 vào năm 1984, thì chỉ số này là chỉ số gái cổ phiếu được sử dụng phổ biến nhất với tư cách là chỉ tiêu tổng quát về tình hình của Thị trường chứng khoán của Anh.
Financial Times Actuaries Share Indices / Chỉ Số Giá Cổ Phiếu Thống Kê Của Báo Financial Times
Tập hợp các chỉ số giá và thu nhập trung bình và tiền lãi của các chứng khoán Anh trong sở giao dịch chứng khoán.
Financial Statements Audit / Kiểm Toán Tài Chính
Kiểm toán tài chính là hoạt động xác minh và bày tỏ ý kiến về các Bảng khai tài chính của các đơn vị do các kiểm toán viên chuyên nghiệp tiến hành theo hệ thống pháp lý hiện hành. Cách thức tiến hành kiểm toán: - Kiểm toán theo khoản mục - Kiểm toán theo chu trình Một số đặc điểm:- Chủ thể: chủ yếu là kiểm toán viên nhà nước và kiểm toán viên độc lập - Kết thúc kiểm toán: phát hành Báo cáo kiểm toán và Thư quản lý (nếu có) - Cơ sở pháp lý: Luật kế toán, Chuẩn mực kế toán, Chế độ kế toán hiện hành - Khách thể kiểm toán Khách thể bắt buộc: phải kiểm toán theo quy định của pháp luật (DN có vốn đầu tư nước ngoài, - Cty cổ phần niêm yết, Cty TNHH, Tổ chức tín dụng, tài chính, DN KD bảo hiểm, DN nhà nước…) Khách thể tự nguyện - Tính chất pháp lý của cuộc kiểm toán: phụ thuộc vào kiểm toán viên thực hiện cuộc kiểm toán.
Financial Statements Analysis: Activity / Chỉ Tiêu Tài Chính Với Hoạt Động Kinh Doanh
Các chỉ tiêu tài chính với hoạt động kinh doanh được xây dựng để đo lường hiệu quả quản lý và sử dụng tài sản của doanh nghiệp. Mức độ đầu tư vào tại sản của doanh nghiệp phụ thuộc nhiều yếu tố. Bởi vậy, ``mức độ đầu tư thế nào là phù hợp?'' trở thành câu hỏi quan trọng. Điểm hợp lý để bắt đầu tìm lời giải đáp là so sánh giá trị tài sản với doanh số thu về trong cùng thời gian đầu tư và sử dụng tài sản. Mục tiêu của việc này là xác định hiệu quả sử dụng tài sản để tạo ra doanh thu. Chỉ tiêu tổng doanh thu tài sản. Chỉ tiêu tổng doanh thu tài sản được xác định qua việc chia tổng doanh thu từ hoạt động kinh doanh trong kỳ kế toán cho bình quân tổng tài sản. Lưu ý: để đơn giản, có thể sử dụng giá trị tổng tài sản cuối kỳ để tính toán. Chỉ số này có xu hướng chỉ ra mức độ hiệu quả trong sử dụng tài sản của doanh nghiệp. Nếu chỉ số tổng doanh thu tài sản cao, có thể cho rằng doanh nghiệp đã sử dụng tài sản tạo ra doanh thu hiệu quả. Nếu chỉ số này thấp, doanh nghiệp chưa khai thác hết công suất các tài sản hiện có, do đó, cần tăng doanh số hoặc bán bớt tài sản. Một vấn đề thường gặp phải với chỉ số này là việc tận dụng tối đa các tài sản cũ bởi giá trị kế toán của các tài sản này luôn thấp hơn các tài sản mới và có cùng công năng sử dụng. Tuy vậy, cần lưu ý tới vấn đề công nghệ ở đây. Ngoài ra, cũng có những doanh nghiệp do đặc thù kinh doanh mà có mức độ đầu tư tương đối bé cho tài sản. Doanh nghiệp thương mại thường có chỉ số tổng tài sản doanh thu nhỏ hơn khi so sánh với doanh nghiệp sản xuất. Vậy nên, chớ đem so táo với cam! Doanh số phải thu. Chỉ tiêu doanh số phải thu được tính bằng cách chia doanh số cho bình quân các khoản phải thu trong kỳ kế toán. Chia số ngày trong năm (365) cho chỉ tiêu doanh số phải thu sẽ tính được thời gian thu tiền bán hàng bình quân của doanh nghiệp. Các khoản phải thu ròng được sử dụng trong tính toán các chỉ số trên. (Phải thu ròng được tính bằng các khoản phải thu trừ đi dự phòng nợ khó đòi và nợ xấu.) Chỉ tiêu doanh số phải thu và thời gian thu tiền bán hàng bình quân cung cấp thông tin về thành công của doanh nghiệp trong quản lý các tài khoản phải thu. Giá trị thực tế của các chỉ số này phản ánh chính sách tín dụng của doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp có chính sách tín dụng tự do, khối lượng các khoản phải thu sẽ lớn hơn các trường hợp khác. Một nguyên tắc thường được những người phân tích tài chính áp dụng là thời gian thu tiền bán hàng bình quân không nên nhiều hơn thời gian trả chậm theo các điều khoản tín dụng trên 10 ngày. Doanh số tồn kho. Chỉ tiêu doanh số tồn kho được tính bằng cách chia giá vốn hàng bán cho giá trị hàng tồn kho bình quân. Do luôn được phát biểu như một chi phí trong quá khứ, giá vốn hàng bán được sử dụng thay cho doanh số (doanh số bao gồm cả phần lợi nhuận và biến đổi theo giá bán hiện tại). Số ngày trong năm chia cho tỉ số doanh số tồn kho chính là chỉ số ngày tồn kho. Chỉ số này là số ngày cần thiết để hàng hóa được sản xuất và bán; còn được gọi là ngày trên kệ trong các doanh nghiệp thương mại bán buôn và bán lẻ. Các chỉ số hàng tồn kho đo lường thời gian hàng hóa được sản xuất và bán đi. Các chỉ số này chịu tác động rõ rệt của công nghệ sản xuất. Cần nhiều thời gian để chế tạo ô tô hơn so với việc làm ra một ổ bánh mỳ. Các chỉ số này còn chịu ảnh hưởng từ thời gian sử dụng của chính sản phẩm. Một sự gia tăng đáng kể của số ngày tồn kho có thể là dấu hiệu đáng ngại vè mức tồn kho cao của các hàng hóa thành phẩm chưa bán được hoặc thay đổi trong quá trình hoàn thành sản phẩm của doanh nghiệp (cần nhiều thời gian hơn để sản xuất sản phẩm). Phương pháp xác định giá trị hàng tồn kho, lẽ tự nhiên, tác động tới các chỉ số hàng tồn kho được tính toán. Do vậy, người phân tích tài chính nên nhận thức rõ về sự khác biệt giữa các phương pháp xác định giá trị hàng tồn kho và tác động thay đổi của mỗi phương pháp tới các chỉ số tồn kho.
Financial Statement / Báo Cáo Tài Chính
Báo cáo tóm tắt tình hình tài chính của một câ nhân , công ty hoặc tổ chức kinh doanh. Những báo cáo mà bên cho vay là ngân hàng sử dụng thường xuyên khi cấp khoản vay là bảng cân đối kế toán (tài sản, nợ phải trả và giá trị ròng vào một ngày cụ thể); báo cáo thu nhập tóm tắt thu nhập và chi phí; và những báo cáo luân chuyển tiền tệ tóm tắt các nguồn thu và sử dụng các quỹ trong năm đó.
Báo cáo tóm tắt tình hình tài chính của một cá nhân, công ty hoặc tổ chức kinh doanh. Những báo cáo mà bên cho vay là ngân hàng sử dụng thường xuyên khi cấp khoản vay là bảng cân đối kế toán (tài sản, nợ phải trả và giá trị ròng tại một ngày cụ thể); Báo cáo thu nhập tóm tắt thu nhập và chi phí; và báo cáo luân chuyển tiền tệ tóm tắt các nguồn thu và sử dụng các quỹ trong năm nào đó.
Eurozone / Khu Vực Đồng Euro
Khu vực đồng Euro (eurozone) là một nhóm các nước thành viên của Liên minh Châu Âu sử dụng đồng Euro làm đơn vị tiền tệ chính thức. 13 thành viên chính thức của khu vực này là Áo, Bỉ, Bồ Đào Nha, Đức, Hà Lan, Hy Lạp, Ireland, Luxembourg, Pháp, Phần Lan, Tây Ban Nha, Ý và Slovenia. Một vài quốc gia khác cũng đã tham gia vào liên minh tiền tệ với thành viên trong khu vực đồng Euro và vì vậy cũng đưa đồng Euro vào sử dụng như là tiền tệ chính thức. Các quốc gia này là: Monaco, San Marino và Tòa thánh Vatican. Bên cạnh các thành viên chính thức, một số quốc gia hay vúng lãnh thổ khác cũng đã tự quyết định chọn Euro làm đồng tiền chuẩn (không có quyết định của EU) và được coi như những thành viên không chính thức. Trong đó có Andorra (có ý định phát hành tiền kim loại Euro, cho đến nay vẫn không có sự đồng ý của EU), Kosovo và Montenegro. Các thành viên không chính thức này đã từ bỏ tiền tệ riêng hay từ bỏ một trong số những tiền tệ trước đây và thay vào đó là dùng Euro, vì thế mà (về mặt đồng Euro) các thành viên này không còn độc quyền tiền tệ nhưng lại không có ảnh hưởng đến chính sách lãi suất của Ngân Hàng Trung Ương Châu Âu.
European Unit Of Account / Đơn Vị Kế Toán Châu Âu
Là đơn vị kế toán được sử dụng trong CỘNG ĐỒNG CHÂU ÂU cho các mục đích như chuẩn bị ngân sách công đồng và định giá sản phẩm nông nghiệp thông qua CHÍNH SÁCH NÔNG NGHIỆP CHUNG. Vì các nước thành viện của EU sử dụng các đồng tiền khác nhau, nên cần thiết phải tạo ra một đơn vị kế toán chung để trao đổi buôn bán công đồng.
European Social Fund / Quỹ Xã Hội Châu Âu
Một quỹ đặc biệt của CỘNG ĐỒNG CHÂU ÂU, nhằm mục đích tăng cường cơ hội tìm kiếm việc làm trong cộng đồng bằng cách đảm bảo hỗ trợ tài chính để đào tạo lại công nhân, đặc biệt là những ai bị thu hẹp công việc do hoạt động của Thị trường chung Châu Âu.
Quỹ Xã Hội Châu Âu (European Social Fund) là thuật ngữ tài chính mô tả cơ chế, quy trình hoặc chỉ báo dùng trong thực tiễn thị trường và quản trị doanh nghiệp. Ví dụ cụ thể phụ thuộc ngữ cảnh (đầu tư, kế toán, quản trị rủi ro…). Ứng dụng: chuẩn hóa giao tiếp chuyên môn, hỗ trợ lập báo cáo, thẩm định và ra quyết định. Khi áp dụng cần xem bối cảnh pháp lý, điều kiện thị trường và đặc thù ngành để diễn giải chính xác.
Financial Modeling / Mô Phỏng Tài Chính
Mô phỏng tài chính là một công việc quen thuộc của giới kinh doanh, đầu tư và tài chính chuyên nghiệp. Bản chất của việc mô phỏng tài chính là sử dụng các kỹ thuật tính toán số về tài chính (numerical computation) để xây dựng một bức tranh trong tương lai về tình trạng tài chính, vận hành tài chính và hiệu quả tài chính của: (i) Doanh nghiệp; (ii) Dự án; (iii) Khoản hay danh mục đầu tư; (iv) Công việc đang triển khai; và, (v) Tài chính cá nhân-gia đình. Việc mô phỏng tài chính được hình thành theo các bước sau đây: 1. Quan sát và ghi nhận các qui luật tài chính và vận hành thực tế từ các số liệu đang có2. Lựa chọn các yếu tố có khả năng tác động nhiều tới tình trạng và hiệu quả tài chính trong tương lai3. Lựa chọn các điểm xuất phát của tương lai căn cứ trên hiện trạng: Gọi là sinh ra một tập hợp các giả định4. Xây dựng một mô hình tài chính để có thể tiến hành mô phỏng5. Sử dụng các kỹ thuật tính toán số, dự báo, đánh giá tính hợp lệ và căn cứ và các kết của bước 2, 3, 4 để tiến hành mô phỏng6. Đánh giá tính hợp lệ của kết quả mô phỏng được7. Tiến hành các điều chỉnh hợp lý và tính toán tiếp theo về tình trạng, hiệu quả và vận hành tài chính Thông thường trong thế giới kinh doanh, người ta hay sử dụng mô hình tài chính (tức là việc thực hiện bước 4) dựa trên cấu trúc các báo cáo tài chính mô phỏng (tiếng Anh gọi là pro-forma financial statements). Đây là cách thức vừa dễ thực hiện, vừa dễ truyền thông các kết quả với nhau, và rất "hợp thời trang." Mô phỏng tài chính chính là hình thành nên căn cứ rất quan trọng trong các quyết định đầu tư, M&A, tái cấu trúc, đánh giá lại giá trị, cho vay dự án, cho vay không thế chấp, v.v.. Một mô phỏng tốt cho phép tiến hành bổ sung thuận lợi các công việc sau đây với năng suất cao: a. Tiến hành tính toán các tập hợp chỉ số hiệu quả-vận hành (gồm các nhóm chỉ số: Thanh khoản, Lợi suất, An toàn vốn, Rủi ro, Đảm bảo thanh toán, v.v..)b. Dễ dàng thay đổi tập hợp giả định để nghiên cứu tác động thay đổi của môi trường, của thực trạng doanh nghiệp, và tính hợp lý của chính các giả địnhc. Đưa ra các "kịch bản" về hiệu suất và hiệu quả sử dụng nguồn tài chính và ước lượng xác suất thành công thất bạid. Hình dung cái được nhiều nhất và cái thiệt hại to nhất Mô phỏng tài chính càng ngày càng trở nên phức tạp, nên có xu hướng tận dụng công nghệ thông tin với các bộ xử lý và phần mềm mạnh. Việc mô phỏng ở mức đơn giản nhất thường được tiến hành trên phần mềm bảng tính như Excell. Ở các mức cao hơn, nhiều công ty tiến hành sản xuất các phần mềm riêng, cho phép kết nối và định dạng các loại dữ liệu tài chính rất phức tạp và sử dụng các phần mềm chuyên dụng như Mathematica, Matlab. Ở mức rất cao cấp, người ta còn viết các phần mềm lớn như một hệ thống và tự nó có thể sinh ra loại dữ liệu riêng hay kết nối với các cơ sở dữ liệu khác như Quantrix.






