Thuật Ngữ Kinh Tế

A B C D E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Z Tất cả

Fixed Payment Loan / Vay Trả Cố Định

Vay hoàn trả cố định là cho người vay một số tiền vốn, tiền vốn này anh ta phải hoàn trả bàng những món tiền trả như nhau mỗi tháng bao gồm các phần tiền gốc và lãi trong một số năm đã đề ra.Ví dụ: nếu bạn vay 1.000 đôla, lối vay trả cố định có thể yêu cầu bạn thanh toán 126 đôla mỗi năm trong 25 năm. Các kiểu vay trả dần (ví dụ vay mua ôtô) và vay thế chấp thường là kiểu vay hoàn trả cố định. The Economics of Money, Banking, and Financial Markets - Frederic S.Mishkin, 3rd - 1992

Sales Tax Rate / Thuế Doanh Thu Tỷ Lệ

Tỷ lệ chính xác phải được áp dụng cho từng loại hàng hóa.

Excess Reserves / Khoản Dự Trữ Dư; Dự Trữ

Mức chênh lệch giữa tổng số dự trữ mà ngân hàng gửi tiền Mỹ đang giữ và DỰ TRỮ BẮT BUỘC do luật pháp yêu cầu để trả nợ.

Fixed Labour Costs / Chi Phí Lao Động Cố Định

Bao gồm các chi phí về việc làm và thay đổi theo tỷ lệ ít hơn so với số giờ làm việc. Có hai loại chi phí cố định chính. Thứ nhất, có nhưng chi phí sẽ thay thế công nhân liên quan tới việc thuê, sau thải hay đình chỉ người làm thuê. Những chi phí này bao gồm chi phí tuyển dụng, nghiên cứu thẩm tra lý lịch và đào tạo ban đầu và thêm vào đó là chi phí cho thôi việc dưới dạng tiền thanh toán thôi việc. Thứ hai, có những chi phí, tuy tồn tại trong suốt quá trình thuê việc làm nhưng lại không liên quan hoặc hoàn toàn liên quan đến số giờ làm việc. Ví dụ là các khoản thuế việc làm dựa trên số lượng người làm thuê và khoản đóng góp vào các chương trình hưu trí tư nhân dựa trên cơ sở thu nhập hàng năm. Sự hiện diện của những chi phí này cho thấy có một bộ phận mang tính vốn hay cố định trong những việc sử dụng lao động và do đó lao động thường được gọi là yếu tố giả định. Do vậy, có thể trông chờ tính liên tục về việc làm lớn hơn trong số công nhân có chi phí cố định cho việc làm cao, những biến đổi thúc đẩy chu kỳ của năng suất lao động và sự phụ thuộc nhiều hơn vào việc làm thêm giờ trong những ngành và những thời kỳ có chi phí cố định về việc làm là tương đối cao.

Sales Tax Invoice / Hóa Đơn Bán Hàng Có Thuế

Là một bằng chứng về mua (hoặc bán) để nhận lại thuế bán hàng.

Fixed Factors / Các Yếu Tố Sản Xuất Cố Định; Các Sản Tố Cố Định

Những yếu tố sản xuất không thể thay đổi vì số lượng.

Quotient Rule / Quy Tắc Thương Số

Một quy tắc để xác định đạo hàm của một hàm số theo một biến số, trong đó hàm số bao gồm thương (nghĩa là tỷ lệ) giữa hai hàm số riêng rẽ của biến số.

Sales Maximization Hypothesis / Giả Thuyết Về Tối Đa Hoá Doanh Thu

Do W.J.Baumol, đưa ra giả thiết này là tinh thần thuyết QUẢN TRỊ CỦA HÃNG.

Fixed Exchange Rate / Tỷ Giá Hối Đoái Cố Định

Thuật ngữ này được dùng khi tỷ giá hối đoái đã định giữa tiền tệ các nước. Tại hội nghị tiền tệ quốc tế ở Bretton Woods năm 1944, một hệ thống tỷ giá hối đoái thiết lập, hệ thống tồn tại đến thập niên 1970 khi hệ thống tỷ giá hối đoái thả nổi được công nhận.

Giá trị trao đổi của một đồng tiền quốc gia tương quan với một đồng tiền khác (thường là USD), không được tự do biến động theo thị trường tiền tệ quốc tế.

Quoted Companies / Các Công Ty Được Niêm Yết Giá

Những công ty mà vốn cổ phiếu có thể được bán tự do ở SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN. Ở London, việc giao dịch có được quy chế như vậy đòi hỏi phải đưa ra một thông báo giá của Uỷ ban niêm yết của Sở giao dịch chứng khoán.

Fixed Cost / Chi Phí Cố Định; Định Phí

Đối với một hãng ngắn hạn được định nghĩa là một khoảng thời gian trong đó một số YẾU TỐ SẢN XUẤT không thể thay đổi được.

Excess Capacity / Công Suất Dư; Công Suất Thừa; Thừa Năng Lực, Thừa Công Suất

Nói một cách chặt chẽ, khi một doanh nghiệp được coi là sản xuất thừa năng lực là khi mức SẢN LƯỢNG được sản xuất ra thấp hơn mức sản lượng tại đó chi phí trung bình thấp nhất.

Sale Price / Giảm Giá

Giá của một hàng hóa hay dịch vụ được bán với một mức giá thấp hơn giá ban đầu của nó. Giá bán hạ giá có thể được tính bằng cách trừ đi phần trăm chiết khấu từ 100, chuyển đổi số đó sang thập phân và nhân thập phân với giá bán thông thường của loại hàng hóa đó. Ví dụ, một mặt hàng thông thường có giá 100 đô và hiện đang được áp dụng với mức giá giảm 10% thì giá của loại hàng hóa đó khi bán ra sẽ là 90 đô.

Fixed Coenfficients Production Function / Hàm Sản Xuất Có Các Hệ Số Cố Định

Hàm sản xuất, trong đó các đầu vào phải được kết hợp theo các tỷ lệ cố định.

Quote Driven Market - Order Driven Market / Thị Trường Đấu Giá Theo Lệnh Và Thị Trường Đấu Giá Theo Giá

1. Quote-driven market: Thị trường đấu giá theo lệnh Là một sàn giao dịch Chứng khoán điện tử trong đó giá cả được quyết định bởi giá niêm yết đưa ra bởi những nhà tạo lập thị trường (market makers) hoặc những công ty chuyên mua bán chứng khoán (dealers). Thị trường đáu giá theo lệnh còn gọi là "price driven market". 2. Order driven market: Thị trường đấu giá theo giá Ngược lại với Quote driven Market, Order driven market là một thị trường Đấu giá trong đó giá cả Cổ phiếu được quyết định bởi các chào bán hay chào mua. 3. Sự khác nhau cơ bản giữa Quote driven market và Order driven market thể hiện như sau. Sự khác nhau giữa hai hệ thống thị trường này nằm ở: giá mua vào, giá bán ra và các chào bán/mua cổ phiếu. Trên thị trường order driven, tất cả các chào bán và chào mua của tất cả các chủ thể tham gia đều được hiển thị chi tiết, trong khi trên thị trường quote driven chỉ có giá chào bán và chào mua của người tạo lập thị trường (market makers) và những bên liên quan được lựa chọn mới được niêm yết. Trên thị trường order driven, tất cả các yêu cầu mua và bán đều được công khai và thông báo rõ ràng. Giá cả và số lượng Chứng khoán mà các bên có nhu cầu mua hoặc bán đều được đưa ra rất cụ thể. Vì vậy, nếu bạn có nhu cầu mua 100 cổ phiếu của Microsoft với giá 30$/cổ phiếu thì chào mua của bạn sẽ được hiển thị trên thị trường và tất cả mọi người đều có thể tiếp cận được với thông tin này. Lợi ích lớn nhất của thị trường order driven đó là tính minh bạch: tất cả các chào bán, chào mua, giá cả và số lượng cần mua và bán đối với từng loại chứng khoán của các bên đều được công khai hoá. Nhưng nhược điểm của hệ thống này đó là các đơn hàng sẽ không được đảm bảo thực hiện - nhưng trên thị trường quote driven tất cả các đơn hàng đều được đảm bảo thực hiện.                                  Nhìn vào bảng số liệu trên, có thể dễ dàng thấy rằng tất cả các chào bán và chào mua, giá muốn bán, giá muốn mua, số lượng cổ phiếu muốn bán và muốn mua đều khá cụ thể. Vậy một người có thể đến và mua 59 100 cổ phiếu với giá 42,65$/cổ phiếu, hoặc mua 184 969 cổ phiếu với giá 42,66&/cổ phiếu. Trên thị trường quote driven, chỉ có giá mua vào và giá bán ra của những nhà tạo lập thị trường được chỉ định, của những công ty chuyên mua bán chứng khoán hoặc của các chuyên gia trên sàn Chứng khoán được niêm yết công khai. Những nhà tạo lập thị trường này sẽ đưa ra giá họ muốn mua và giá họ bán một loại chứng khoán cụ thể lên trên sàn vào những thời điểm cụ thể. Nếu bạn tham gia thị trường này và muốn mua 100 cổ phiếu của Microsoft với giá 30$/cổ phiếu thì yêu cầu mua của bạn sẽ không được thông báo công khai trên thị trường. Thay vào đó, nếu trên thị trường có một market-maker (trừ trường hợp có nhiều hơn một thì bạn có quyền lựa chọn) thì họ sẽ báo giá họ muốn mua vào là 29,50$ và giá muốn bán ra là 30,50$, như vậy bạn phải mua vào cổ phiếu của Microsoft với giá 30,50$ và nếu bạn bán ra thì giá bán sẽ là 29,50$. Giá mua và bán Chứng khoán luôn luôn thay đổi phụ thuộc vào lượng cung và cầu trên thị trường. Mặc dù các chào bán và chào mua của các cá nhân tham gia trên thị trường không được niêm yết công khai trên thị trường quote driven, các nhà tạo lập thị trường sẽ tự cân nhắc giá cả cho các đơn đặt hàng từ phía khách hàng hoặc xem xét các yêu cầu mua và bán khác nhau của nhiều khách hàng từ đó sẽ ra quyết định về giá. Ưu điểm chính của mô hình thị trường này là khả năng thanh khoản cao, bởi vì các market-makers có nhiệm vụ phải thực hiện tất cả những đơn hàng đã niêm yết giá bất kể là mua hay bán. Nhược điểm của hệ thống này, ngược lại với thị trường order driven, đó là nó không thể hiện sự minh bạch. Trên thế giới còn có một loại thị trường khác là sự kết hợp giữa 2 hệ thống thị trường trên là thị trường "lai"-hybrid systems. Loại thị trường này niêm yết tất cả giá các yêu cầu mua và bán của các market-maker nhưng cũng đồng thời công khai hoá tất cả các lệnh giới hạn(limit orders) trên thị trường.

Fixed Capital / Vốn Cố Định

Vốn cố định của doanh nghiệp là bộ phận vốn được sử dụng để hình thành tài sản cố định và các khoản đầu tư tài chính dài hạn của doanh nghiệp. nói cách khác, vốn cố định của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tài sản cố định và các khoản đầu tư dài hạn của doanh nghiệp. Đặc điểm của vốn cố định: Vốn cố định luân chuyển qua nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp do tài sản cố định và các khoản đầu tư dài hạn tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Khi tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, bộ phận vốn cố định đầu tư vào sản xuất được phân ra làm hai phần.một bộ phận vốn cố định tương ứng với giá trị hao mòn của tài sản cố định được dịch chuyển vào chi phí kinh doanh hay giá thành sản phẩm dịch vụ được sản xuất ra, bộ phận giá trị này sẽ được bù đắp và tích lũy lại mỗi khi hàng hóa hay dịch vụ được tiêu thụ. Bộ phận còn lại của vốn cố định nằm ở  tài sản cố định dưới hình thức giá trị còn lại của của tài sản cố định.

Ex-Ante / Tiên Liệu

Ex-ante trong tiếng latinh mang nghĩa là trước sự kiện, trước biến cố. Còn trong kinh tế học thuật ngữ này có nghĩa là tiên liệu, tiên nghiệm hoặc tiên đoán. Tiên liệu có liên hệ với các sự kiện tương lai như: lợi nhuận trong tương lai hay triển vọng của một doanh nghiệp. Việc sử dụng phân tích tiên liệu giúp cho người ta ý thức được những biến động về giá cả hay tác động trong tương lai của một chính sách mới được thực hiện. Ví dụ: một công ty đầu tư đánh giá triển vọng của một cổ phiếu, sau đó so sánh các kết quả dự đoán với biến động thực tế của giá cổ phiếu đó.

Quotation Unit / Đơn Vị Yết Giá

Là các mức giá tối thiều trong đặt giá chứng khoán (tick size). Đơn vị yết giá có tác động tới tính thanh khoản của thị trường cũng như hiệu quả của nhà đầu tư. Trường hợp đơn vị yết giá nhỏ, sẽ tạo ra nhiều mức giá lựa chọn cho nhà đầu tư khi đặt lệnh, nhưng các mức giá sẽ dàn trải, không tập trung, và ngược lại đơn vị yết giá lớn sẽ tập trung được các mức giá, nhưng sẽ làm hạn chế mức giá lựa chọn củanhà đầu tư, từ đó không khuyến khích các nhà đầu tư nhỏ tham gia thị trường. Đơn vị yết giá được tính riêng cho từng loại chứng khoán khác nhau (cổ phiếu, trái phiếu) và có thể áp dụng theo mức thang lũy tiến với giá thị trường chứng khoán Chẳng hạn như đơn vị yết giá được quy định trên HOSC như sau:   Mệnh giá Cổ phiếu CCQ Trái phiếu ≤ 49.900 100 đồng 100 đồng 100 đồng 50.000-99.500 500 đồng 500 đồng 100 đồng ≥ 100.000 1.000 đồng 1.000 đồng 100 đồng Đối với các giao dịch theo phương pháp thỏa thuận, thông thường các thị trường chứng khoán không quy định đơn vị yết giá.

Exact Test / Kiểm Nghiệm Chính Xác

Thuật ngữ này được dùng khi lãi do ngân hàng hay tổ chức tài chánh khác trả và được tính theo một năm 365 ngày, ngược lại là lãi thường chỉ tính có 360 ngày. Tỷ lệ chênh lệch là 1,0139 - có thể rất quan trọng khi lãi tính theo ngày được tính trên một khối lượng tiền lớn.

Fixed Assets / Tài Sản Cố Định

Tài sản hữu hình được sử dụng trong hoạt động của một doanh nghiệp.Tài sản cố định được ghi trong bảng cân đối kế toán theo giá trị khấu hao ròng. Nhà máy, máy móc, thiết bị sản xuất, đồ dùng và vật dụng, nâng cấp tài sản thuê là những tài sản cố định của hầu hết các công ty.

Sách Combo 4 Cuốn : Tư Duy Ngược + Tư Duy Mở + Biến Mọi Thứ Thành Tiền Chuột không dây Ugreen M751 với con lăn vô cực Máy chơi game retro Powkiddy X55