Quota / Hạn Ngạch
Hạn ngạch thường dứng để chỉ hạn ngạch nhập khẩu (import quota) tức là giới hạn về số lượng một loại hàng hóa nhất định vào một thị trường nhất định trong một khoảng thời gian xác định (thường là 1 năm). Ví dụ, một nước giới hạn số lượng đường nhập khẩu vào nước đó là 50 tấn/năm. Hạn ngạch là một loại rào cản thương mại để bảo vệ nhà sản xuất trong nước với chi phí của người tiêu dùng loại hàng hoá đó trong nước. Các nhà phê bình cho rằng hạn ngạch dẫn tới tham nhũng (hối lộ để được cấp quota), buôn lậu (để tránh hạn ngạch) và giá cả hàng hóa đắt đỏ mà người tiêu dùng phải trả. Xét trên khía cạnh kinh tế, quota có hiệu quả kinh tế thấp hơn thuế quan, và thuế quan lại có hiệu quả thấp hơn thương mại tự do.
Sale Growth Rate / Tỷ Lệ Tăng Trưởng Doanh Thu
Tỷ lệ tăng trưởng doanh thu cho biết mức tăng trưởng doanh thu tương đối (tính theo phần trăm) qua các thời kỳ. Tỷ lệ này nhỏ hơn không đồng nghĩa với tăng trưởng âm. Trường hợp doanh thu của một trong số các kỳ trước kỳ hiện tại bằng không thì tỷ lệ tăng trưởng doanh thu là không xác định. (thường chỉ xảy ra nếu kỳ báo cáo là quý, hoặc trong năm hoạt động đầu tiên của doanh nghiệp). Công thức tính tỷ lệ tăng trưởng doanh thu như sau: Trong đó DT0 là doanh thu của kỳ hiện tại. DTi là doanh thu của i kỳ trước. Một kỳ có thể là 4 quý gần nhất, 1 năm gần nhất, 3 năm gần nhất hoặc 5 năm gần nhất. Cũng có thể thay doanh thu bằng doanh thu thuần nếu muốn tính tỷ lệ tăng trưởng doanh thu thuần. Lưu ý là mặc dù doanh thu âm có thể xuất hiện trong báo cáo kinh doanh quý (trong trường hợp hàng bán của quý trước đó bị trả lại), nhưng không được phép xuất hiện trong các báo cáo kinh doanh năm. Doanh nghiệp có tỷ lệ tăng trưởng doanh thu cao thường đang trong giai đoạn phát triển mạnh, thị phần tăng hoặc đang mở rộng kinh doanh sang các thị trường hoặc lĩnh vực mới. Tuy nhiên tỷ lệ tăng trưởng doanh thu cao không nhất thiết đi kèm với tỷ lệ tăng trưởng lợi nhuận cao. Tùy vào xu hướng của tỷ lệ tăng trưởng doanh thu mà mức tăng trưởng được đánh giá là bền vững, không ổn định, phi mã hay tuột dốc. Những doanh nghiệp có mức tăng trưởng doanh thu ổn định ở mức cao luôn được các nhà đầu tư đặc biệt quan tâm. Tỷ lệ tăng trưởng doanh thu còn có tên tiếng Anh là Sale Growth Ratio, Revenue Growth Rate, Revenue Growth Ratio.
Quits / Số Người Bỏ Việc
Những nhân viên tự nguyên rời bỏ công việc hiện tại để thay đổi công việc hoặc để rút khỏi lực lượng lao động.
Salary / Lương
Tiền trả cho hầu như toàn bộ công nhân không làm việc chân tay và một số nhân viên làm việc chân tay để đổi lấy cung lao động của họ, thông thường việc thanh toán được tiến hành sau mỗi thánh và, ngược với tiền công của nhân công làm việc chân tay, không thay đổi theo số giờ làm việc hay mức độ nỗ lực trong những giờ làm việc với điều kiện một số nghĩa vụ hợp đồng tối thiểu phải được tôn trọng.
Quick Ratio / Khả Năng Thanh Toán Nhanh
Khả năng thanh toán nhanh được hiểu là khả năng doanh nghiệp dùng tiền hoặc tài sản có thể chuyển đổi thành tiền để trả nợ ngay khi đến hạn và quá hạn. Tiền ở đây có thể là tiền gửi, tiền mặt, tiền đang chuyển; tài sản là các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn (cổ phiếu,trái phiếu). Nợ đến hạn và quá hạn phải trả là nợ ngắn hạn, nợ dài hạn, nợ khác kể cả những khoản trong thời hạn cam kết doanh nghiệp còn được nợ. Khả năng thanh toán nhanh của doanh nghiệp được tính theo công thức: Khả năng thanh toán nhanh = (Tiền + Khoản đầu tư tài chính ngắn hạn) / Nợ ngắn hạn Hoặc có thể được tính như sau: Khả năng thanh toán nhanh = (Tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn - Hàng tồn kho) / Nợ ngắn hạn Theo công thức này, hàng tồn kho ở đây là hàng hóa, thành phẩm, hàng gửi bán, vật tư chưa thể bán nhanh, hoặc khấu trừ, đối lưu ngay được, nên chưa thể chuyển thành tiền ngay được. Và khả năng thanh toán nhanh của doanh nghiệp cao hay thấp, tình hình tài chính được đánh giá tốt hay xấu tùy thuộc vào lượng tiền và các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn lớn hay bé, nợ ngắn hạn nhỏ hay lớn. Tuy nhiên khi sử dụng hệ số thanh toán nhanh phải lưu ý một số điểm: Thứ nhất, công thức này vô hình chung đã triệt tiêu năng lực thanh toán "không dùng tiền" của doanh nghiệp trong việc trả các khoản nợ đến hạn. Tức là chưa tính đến khả năng doanh nghiệp dùng một lượng hàng hóa mà thị trường có nhu cầu cao có thể bán ngay được hoặc xuất đối lưu; chưa tính đến khoản phải thu mà khi cần đơn vị có thể thỏa thuận để bù trừ khoản nợ phải trả cho các chủ nợ. Và như vậy sẽ là sai lầm khi lượng tiền của doanh nghiệp có thể ít, khoản đầu tư ngắn hạn của doanh nghiệp không có nhưng lượng hàng hóa, thành phẩm tồn kho có thể bán ngay bất cứ lúc nào cũng được lớn, khoản phải thu có thể bù trừ ngay được cho các khoản phải trả nhiều, mà lại đánh giá khả năng thanh toán nhanh của doanh nghiệp thấp. Thứ hai, nợ ngắn hạn có thể lớn nhưng chưa cần thanh toán ngay thì khả năng thanh toán nhanh của doanh nghiệp cũng có thể được coi là lớn. Nợ ngắn hạn chưa đến hạn trả mà buộc doanh nghiệp phải tính đến khả năng trả nợ ngay trong khi nợ dài hạn và nợ khác phải trả hoặc quá hạn trả lại không tính đến thì sẽ là không hợp lý. Căn cứ vào hai điểm bất cập trên, hiện nay nhiều công ty đã thay đổi một chút cách tính toán khả năng thanh toán nhanh: Khả năng thanh toán nhanh = (Tiền + Khoản tương đương tiền) / (Nợ tới hạn + Nợ quá hạn) Ró ràng công thức này phản ánh được chính xác hơn khả năng trả nợ ngay của một doanh nghiệp. Nhìn chung hệ số này bằng 1 là lý tưởng nhất. Tuy nhiên giống như hệ số thanh toán nợ ngắn hạn, độ lớn của hệ số này phụ thuộc vào ngành nghề kinh doanh và kỳ hạn thanh toán các món nợ trong kỳ.
Saganor / Thành Viên Cộng Đồng Kinh Doanh Văn Minh
Gần 6 vạn thành viên của cộng đồng kinh doanh văn minh www.saga.vn đã cùng nhau xây dựng bộ thuật ngữ tài chính kinh doanh đồ sộ. Tính tới 4:26PM, ngày 15/9/2008, tổng số thuật ngữ được giới thiệu, trao đổi, và bổ sung làm rõ là 1.533. Đây là nguồn kiến thức rất giá trị được sử dụng và trích dẫn trong nhiều nghiên cứu khoa học, bài luận, bài báo... giúp người nghiên cứu, người viết và người đọc giải đáp rõ ràng nhiều câu hỏi và vấn đề khúc mắc trong kinh tế kinh doanh. Thực sự, SAGA đã cung cấp rất nhiều thuật ngữ lần đầu xuất hiện ở Việt Nam. Xin được bổ sung một thuật ngữ nữa, bản quyền chính hiệu SAGA: Saganor! SAGA là từ tiếng Anh, có nghĩa cổ là một huyền thoại, hay một ốc đảo kỳ diệu. Các bạn cũng đã có nhiều định nghĩa khác nhau về SAGA. Và từ rất lâu, không rõ thời điểm chính xác nhưng có lẽ chỉ vài tháng sau khi hệ thống SAGA đi vào hoạt động, các thành viên đăng ký sử dụng bắt đầu gọi nhau bằng "saganor.'' Nghĩa của từ này không có trong bất kỳ cuốn từ điển nào trên trái đất. Nếu cố công tìm kiếm, rốt cuộc, duy nhất một nơi có thể tra cứu: Thuật ngữ tài chính-kinh doanh SAGA. Theo cách hiểu được công nhận rộng rãi nhất, saganor là danh từ chỉ thành viên của cộng đồng kinh doanh văn minh. Nội hàm của danh từ này bao gồm những cá nhân, cũng có thể cả tổ chức, yêu chuộng hoạt động kinh doanh, cổ vũ tinh thần khởi nghiệp và hướng tới công nghệ làm giàu văn minh. Ở đây, xuất hiện khái niệm cần bàn rõ "công nghệ làm giàu văn minh" hay "kinh doanh văn minh." Kiến giải điều này cần tới cả một cuốn sách gần 500 trang về thương học của người Việt trong nền kinh tế hiện đại- Văn Minh Làm Giàu & Nguồn Gốc Của Cải. Bởi vậy, trong phần tiếp theo, chỉ xin trích dẫn một số phần nội dung của cuốn sách này đề cập trực tiếp tới khái niệm đang quan tâm. Kinh doanh hay làm giàu văn minh là hành vi tạo dựng của cải cho cá nhân, cho tổ chức, cho cộng đồng và xã hội một cách có đạo đức. Đạo đức trong kinh doanh được James Stoner, Edward Freeman, và Daniel Gilbert Jr. định nghĩa "là quan tâm tới kếtquả ảnh hưởng mà mỗi quyết định điều hành-quản trị tác động lê người khác, cả bên trong và bên ngoài doanh nghiệp. Đó cũng là việc xem xết quyền và nghĩa vu jcủa mỗi cá nhân, cá nguyên tắc nhân văn cần tuân thủ trong quá trình ra quyết định và bản chất các mối quan hệ giữa con người với con người." Văn Minh Làm Giàu & Nguồn Gốc Của Cải, trang 279,: "Đạo đức kinh doanh là hệ thống các nguyên tắc luân lý được áp dụng trong thế giới thương mại, chỉ dẫn các hành vi được chấp nhận trong cả chiến lược và vận hành hàng ngày của các tổ chức. Phương thức hoạt động có đạo đức ngày càng trở nên cần thiết trong tìm kiếm thành công và xây dựng hình ảnh tích cực của doanh nghiệp. Trước đòi hỏi ngày càng lớn hơn của người tiêu dùng với các hành vi kinh doanh có trách nhiệm và đạo đức, nhiều doanh nghiệp đã đưa ra cam kết với cộng đồng và xây dựng chuẩn mực, nguyên lý hoạt động dựa trên các cam kết đó. Luật pháp chính là một thước đo đạo đức. Luật có thể điều chỉnh nhưng chấp hành luật là hành vi đạo đức. Bản thân thước đo đạo đức cũng vận động. Tạo ra hàng hóa tốt với giá thành thấp chưa đủ. Nhiều sản phẩm ra đời từ lao động trẻ em, săn bắt động vật, hủy hoại môi trường đã bị tẩy chay trên thị trường. Đó là vì, gốc rễ cuối cùng của đạo đức là vì lợi ích chung và vì sự tiến bộ của nhân loại. Nguồn gốc của cải là khai thác nguồn lực bằng phương pháp văn minh, bền vững, thương mại kinh doanh, là làm ăn đạo đức ." Trang 458: "Con đường đi tới sự giàu có không bằng phẳng. Hành trình tơi văn minh càng gian truân hơn... Vấn đề cần suy nghĩ là phương pháp, cách thức tiến hành kinh doanh, là các quan sát và lập luận phân tích trên con đường dài phía trước... Quan trọng hơn cả, một xã hội tiến tới văn minh luôn cần chưa năng lượng tinh thần kinh doanh bền bỉ, văn hóa khởi nghiệp và các giá trị đạo đức kinh doanh văn minh."
Quick Assets Ratio / Tỷ Lệ Tài Sản Dễ Chuyển Hoán
Đây là tỷ số tài sản dễ chuyển hoán với số nợ hiện đại. Tài sản dễ chuyển hoán là tiền mặt, phần lớn các đầu tư có kỳ hạn có thể thực hiện nhanh chóng và tài khoản các khoản phải thu trừ nợ khó đòi.
Fiscal Year / Năm Tài Chính / Tài Khóa
Kỳ hạn 12 tháng hoặc kỳ hạn 52 tuần,được quy định bởi công ty, cơ quan chính phủ, hoặc bất kì tổ chức nào như kí hạn để hoàn tất báo cáo tài chính, bảng cân đối kế toán và báo cáo thu nhập. Kỳ hạn này có thể khác với năm dương lịch.
Quesnay, Francois / Quesnay, Francois (1694-1774)
Nhân vật chủ yếu trong nhóm các nhà kinh tế học Pháp ở thế kỷ XVIII được gọi là những người theo chủ nghĩa TRỌNG NÔNG. Là một bác sĩ phẫu thuật, tác phẩm của ông về kinh tế học xuất hiện trong BÁCH KHOA TOÀN THƯ năm 1756 và 1757, TẠP CHÍ NÔNG NGHIỆP, THƯƠNG NGHIỆP VÀ TÀI CHÍNH năm 1765 và 1767, và BIỂU KINH TẾ (1758). LÀ người chống lại trường phái TRỌNG THƯƠNG, ông sớm ủng hộ các ưu điểm tự do cạnh tranh trong công nghiệp. Bài Biểu kinh tế đã đưa ra một mô hình trao đổi giữa ba giai cấp xã hội: địa chủ, công nhân nông nghiệp và cái gọi là giai cấp "không sinh lợi". Chỉ nông nghiệp là có khả năng sản xuất số thặng dư so với các yêu cầu tiêu dùng và do đó là động lực thúc đẩy nền kinh tế. Biểu kinh tế đưa ra mô hình ĐẦU VÀO ĐẦU RA của nền kinh tế cho thấy thặng dư hoặc sản phẩm dòng được phân phối thế nào giữa 3 giai cấp. Như vậy nó là tiền thân của mô hình tái sản xuất của C.Mác và mô hình phức tạp hơn nhiều của WASSILY LEONTIEF. Quesnay đề xuất rằng do nông nghiệp là nguồn của cỉa cuối cùng, cho nên tài chính công cộng có thể đơn giản hoá rất nhiều bằng một thứ thếu duy nhất đánh vào nôn nghiệp. Sự ủng hộ của ông đối với tự do kinh doanh và cạnh tranh không hạn chế đã có ảnh hưởng đến kinh tế học cổ điển Anh và đặc biệt đến ADAM SMITH.
Quasi-Rent / Tiền Thuê Giả
Thu nhập của một người bán một loại hàng hoá hoặc dịch vụ quá mức và trên CHI PHÍ CƠ HỘI có thể xảy ra khi hàng hoá đó tạm thời được cung cấp với lượng cố định.
Fiscal Policy / Chính Sách Tài Khóa
Các chính sách chi tiêu và thuế của chính phủ liên bang. Chính bằng cách điều chỉnh thâm hụt (hoặc thặng dư) ngân sách để đạt được mục tiêu kinh tế mong muốn. Khi chi tiêu liên bang tăng lên nhanh hơn thu nhập thuế, thì Bộ Tài chính Mỹ tăng các quỹ bổ xung bằng cách vay trong thị trường vốn. Khi doanh thu thuế vượt quá chi tiêu liên bang, thì các quỹ thặng dư có thể được sử dụng để làm giảm nợ quốc gia. Trong thực tế, Quốc hội gặp khó khăn khi điều chỉnh ngân sách liên bang để cân đối giữa thu và chi. Chính sách tài quá được quản lý bởi Chính sách tiền tệ của hệ thống Dự trữ liên bang, mặc dù cả hai có những mục tiêu giống nhau – sư tăng trưởng kinh tế và ổn định việc làm với mức lạm phát thấp. và cùng có ảnh hưởng đáng kể với nhu cầu tín dụng của ngân hàng và định giá các khoản vay ngân hàng. Chi tiêu thâm hụt của Chính phủ liên bang phải được cung cấp tài chính thông qua các khoản vay định kỳ, trong thị trường nợ công chúng bởi Bộ tài chính. Những cuộc bán đấu giá nợ Kho bạc mới được giám sát chặt chẽ bởi Dự trữ Liên bang, và thị trường tài chính nói chung. Xem CROWDING OUT; KEYNESIAN ECONOMICS; MONETARY ACCORT OF 1951; SUPPLY SIDE ECONOMICS.
Các chuyển động có chủ ý trong chính sách chi tiêu hay thuế của Chính phủ, được thiết kế để điều hành nền kinh tế.
Fiscal Multiplier / Nhân Tử Thuế Khoá
Hệ số cho biết một mức gia tăng của chi tiêu tài chính tác động đến mức thu nhập cân bằng như thế nào.
Exact Interest / Lãi Chính Xác
Thuật ngữ này được dùng khi lãi do ngân hàng hay tổ chức tài chánh khác trả và được tính theo một năm 365 ngày, ngược lại là lãi thường chỉ tính có 360 ngày. Tỷ lệ chênh lệch là 1,0139 - có thể rất quan trọng khi lãi tính theo ngày được tính trên một khối lượng tiền lớn.
Sackings / Con Số Sa Thải
Con số thôi việc có lý do. Một yếu tố trong chu chuyển lao động.
Fiscal Federalism / Chế Độ Tài Khoá Theo Mô Hình Liên Bang
Một hệ thống thuế và chi tiêu công cộng trong đó những khi khả năng thu nhập tăng và quyền kiểm soát chi tiêu được giao cho các cấp khác nhau trong một quốc gia, từ chính phủ đến các đơn vị nhỏ nhất ở chính quyền địa phương.
Fiscal Illusion / Ảo Giác Thuế Khoá
Tình huống trong đó những lợi ích của chi tiêu chính phủ được những người hưởng chi tiêu này xác định một các rõ ràng nhưng chi phí không xác định rõ được, những chi phí này bị phân tán theo thời gian và trong cộng đồng dân cư.
Quartile / Tứ Phân Vị
Một phương tiện xác định vị trí của dữ liệu hoặc phân phối mẫu.
Sachet Marketing / Tiếp Thị Sachet
Sachet trong tiếng Anh có nghĩa là túi nhỏ, thường để đựng những sản phẩm tiêu dùng như nước sốt, dầu gội đầu, dùng một lần rồi vứt bỏ. Sachet cũng có thể là một túi đựng hương liệu và gia vị như lá nguyện quế, xạ hương, mùi tây,…và đựng trong kho. Chính vị vậy Sachet còn được dùng để chỉ những sản phẩm được đóng gói trong bao bì nhỏ và bán với mức giá hợp túi tiền với người tiêu dùng. Chiến lược tiếp thị Sachet là chỉ chiến lược phân phối sâu, rộng các nhãn hàng. Tiếp thị sachet rất phù hợp với các thị trường đang phát triển có dân số đông nhưng có thu nhập bình quân đầu người thấp. Unilever là một trong những công ty hàng tiêu dùng rất thành công với chiến lược tiếp thị sachet tại khu vực châu Á – Thái Bình Dương nói chung và tại Việt Nam nói riêng. Tiêu biểu cho thành công của tiếp thị sachet tại Việt Nam là Sunsilk. Những năm đầu khi thâm nhập vào thị trường Việt Nam, song song với việc quảng cáo trên tivi, chương trình phát hàng mẫu đại trà những túi dầu gội đầu 6ml đến từng hộ gia đình trên cả nước đã tạo cơ hội cho hàng triệu người tiêu dùng dùng thử sản phẩm. Tới nay, các chủng loại dầu gội Sunsilk 6ml với tỷ lệ đóng góp gần 50% tổng sản lượng của Sunsilk đã khẳng định tầm quan trọng của tiếp thị sachet.Tiếp thị sachet chỉ thành công khi sản phẩm đưa ra thị trường đáp ứng được nhu cầu, thị hiếu của người tiêu dùng. Do đó, nhà sản xuất phải am hiểu nhu cầu của người tiêu dùng, dự đoán được khuynh hướng tiêu dùng trong tương lai để không ngừng phát triển công nghệ, tạo ra các sản phẩm luôn mang tính mới và thiết thực cho người tiêu dùng.
Quantity Theory Of Money / Lý Thuyết Định Lượng Về Tiền Tệ
Lý thuyết về CẦU TIỀN TỆ đã tạo nên yếu tố quan trọng nhất của phân tích kinh tế vĩ mô trước của Keynes: Lý thuyết tổng quát về việc làm, lãi suất và tiền tệ (1936).
Ex/Cum Share / Cổ Phiếu Loại Trừ / Cổ Phiếu Bao Hàm
Mỗi loại cổ phiếu thường gắn liền với một số quyền nhất định như quyền được hưởng cổ tức, quyền được mua cổ phiếu khi công ty phát hành thêm, ... Nhiều khi, các nhà đầu tư sẵn sàng bỏ ra một số tiền lớn hơn mệnh giá nhiều lần cũng một phần vì những quyền đó. Tuy nhiên trong một số trường hợp cổ phiếu lại không đi kèm với những quyền đó. Các cổ phiếu loại trừ (Ex share) là cổ phiếu không có một số quyền nhất định: Ex dividend share - Cổ phiếu không hưởng cổ tức: không cho phép người nắm giữ nó được hưởng cổ tức trong lần chia ngay tiếp theoEx rights share - Cổ phiếu không hưởng quyền: là cổ phiếu không cho người nắm giữ hưởng quyền mua cổ phiếu từ những lần phát hành tiếp theoEx cap share - Cổ phiếu không vốn hóa: không cho phép người nắm giữ cổ phiếu tăng thêm số cổ phiếu của mình trong công ty khi công ty tiến hành vốn hóa một phần lợi nhuậnEx warrant - Cổ phiếu không hưởng chứng quyền, không cho phép người mua được hưởng chứng quyền gắn với cổ phiếu mà công ty qui định từ trướcEx-all share - cổ phiếu không có bất cứ quyền nào ở trên Các loại cổ phiếu loại trừ không đi liền với các quyền liên quan đến nó vì nhiều lý lo. Một phần, có thể người bán không muốn mất những quyền gắn liền với cổ phiếu hoặc do quy định của công ty mà các quyền này không được bán kèm. Một nguyên nhân khác có thể là ở qui định của pháp luật. Ví dụ, qui định "t+3" khá phổ biến trên thế giới đòi hỏi người mua chỉ thực sự trở thành chủ nhân của cổ phiếu 3 ngày sau khi anh ta mua nó. Như vậy, nếu việc mua bán chứng khoán diễn ra trong vòng 2 ngày trước ngày trả cổ tức của công ty thì đương nhiên người chủ mới của nó vẫn chưa có tên trên sổ đăng ký cổ đông và sẽ không được hưởng cổ tức của lần chia đó. Ngược lại với cổ phiếu loại trừ là cổ phiếu bao hàm (cum share), nó cho phép người mua được hưởng các quyền tương ứng như đã nêu ở trên. Ví dụ: cổ phiếu "Cum-all" cho phép người mua hưởng tất cả các quyền đi liền với nó, như quyền hưởng cổ tức, quyền mua thêm cổ phiếu phát hành mới...






