Secondary Worker / Công Nhân Hạng Hai
Những nhóm công nhân mà việc được tham gia vào lực lượng lao động không chắc chắn bằng những nhóm công nhân hạng nhất.
Secondary Stock / Cổ Phiếu Thứ Cấp
Là cổ phiếu được doanh nghiệp phát hành nhằm bổ sung vốn điều lệ của doanh nghiệp. Chính vì thế, cổ phiếu này được gọi là cổ phiếu bổ sung vốn điều lệ. Đăc điểm của cổ phiếu thứ cấp là mệnh giá rất nhỏ, vô danh, cổ đông không tham gia quản lý doanh nghiệp (gọi là cổ đông im lặng). Việc mua bán, chuyển nhượng được thực hiện dễ dàng, không cần thủ tục phải chuyển nhượng sang tên tại doanh nghiệp phát hành. (Tham khảo: Giáo trình Thị trường Chứng khoán, ĐH Ngoại Thương - 1998)
Franchise - Franchising / Nhượng Quyền Thương Mại
Franchising được định nghĩa là sự liên kết hợp đồng giữa phía chuyển giao (nhà sản xuất hoặc tổ chức dịch vụ) với người nhận chuyển giao (người kinh doanh độc lập). Người chuyển giao cho mượn thương hiệu và hệ thống kinh doanh bao gồm tất cả các cách thức quản lý. Còn người nhận chuyển giao chi trả tiền bản quyền thuê thương hiệu và tiền phí để được kinh doanh với tên và hệ thống của nhà chuyển giao.Hoạt động nhượng quyền kinh doanh (franchising) được coi là khởi nguồn tại Mỹ, vào giữa thế ký 19, lần đầu tiên trên thế giới, nhà sản xuất máy khâu Singer ký cho thực hiện hợp đồng nhượng quyền kinh doanh. Hiện nay, hoạt động nhượng quyền đã có mặt tại 160 nước trên thế giới với tổng doanh thu lên tới 18,3 tỷ USD năm 2000. Hoạt động nhượng quyền kinh doanh đang phát triển rất nhanh tại Việt Nam. Khởi đầu từ những năm 1990, với sự tham gia của các doanh nghiệp trong và ngoài nước, các hoạt động đó đã có doanh số 1,5 triệu USD vào năm 1996, trên 4 triệu USD vào năm 1998, và từ đó đến nay liên tục phát triển với tốc độ tăng trưởng dự báo 15-20%/năm.Các hệ thống nhượng quyền kinh doanh toàn cầu như: Kentucky, Burger Khan, Five Star Chicken, Jollibee, Carvel, Baskin Robbins, Texas Chicken, Kentucky Fried Chicken, Hard Rock Cafộ, Chili's, đã đầu tư vào Việt Nam sau khi thành công tại các thị trường lân cận như: Nhật Bản, Indonexia, Đài loan, Trung quốc, Thái lan, Philippin. Các hệ thống khác như Dunkin Donuts and McDonald's hiện đã kết thúc giai đoạn nghiên cứu thị trường. Cùng với sự đầu tư vào Việt Nam của các hệ thống toàn cầu, các hệ thống nhượng quyền kinh doanh của Việt nam cũng đã được hình thành và phát triển như: Cà phê Trung nguyên, Qualitea, Phở 24, công ty bánh kẹo Kinh Đô... Đặc biệt, Cà phê Trung Nguyên đã xây dựng được một hệ thống kinh doanh trên toàn bộ Việt Nam và đang mở rộng ra nước ngoài.Để phát triển một thương hiệu nhượng quyền hay kinh doanh nhượng quyền có thể nói là khá phức tạp và chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố hơn so với các mô hình kinh doanh khác. Điều quan trọng của phương thức kinh doanh này nằm ở 5 nhân tố được xem là chìa khóa của sự thành công: Bản sắc thương hiệu: là giá trị cốt lõi và đặc trưng của thương hiệu, là dấu ấn tồn tại trong tâm trí khách hàng một cách sâu đậm nhất và tạo nên khác biệt so với các thương hiệu khác. Có thể nói, giá trị lớn nhất của hợp đồng thương hiệu nhượng quyền nằm ở việc chuyển tải bản sắc này đến người được nhượng quyền như là một lợi thế cạnh tranh ưu việt giúp họ xây dựng công việc kinh doanh một cách nhanh chóng nhất. Nhưng những thương hiệu nhượng quyền rất khó bảo vệ giá trị này vì nó phụ thuộc vào người được nhượng quyền có giữ được tính toàn vẹn của hình ảnh thương hiệu ở mức nhất định hay không. Hệ thống nhượng quyền càng lớn, họ càng dễ mất quyền kiểm soát nếu bản sắc thương hiệu không được củng cố và bảo vệ. Vị trí: Có 3 yếu tố cực kì quan trọng trong việc nhượng quyền thương hiệu ở các lĩnh vực thời trang, ăn uống và giải trí. Yếu tố thứ nhất là địa điểm, thứ hai là địa điểm và thứ ba cũng là địa điểm. McDonalds là chuỗi cửa hàng thức ăn nhanh sử dụng hệ thống nhượng quyền thành công nhất trên thế giới, nhưng nhìều người không biết rằng nguyên tắc kinh doanh của họ là bên cạnh việc tập trung vào thức ăn nhanh còn tập trung vào bất động sản. Những vị trí đặt cửa hàng McDonalds phải là những vị trí hai mặt tiền nằm ngay trung tâm của khu phố, và có mật độ dòng người qua lại cao nhất . Phở 24 cũng rất kén chọn trong việc đặt vị trí và chỉ nằm ở những con đường có đông khách nước ngòai. Đối với các cửa hàng kinh doanh nhượng quyền như vậy thì địa điểm là đòi hỏi khó khăn nhất trong việc lựa chọn người được nhượng quyền. Nếu bạn có địa điểm tốt nghĩa là bạn đã có 50% cơ hội thành công.Nỗ lực tiếp thị: Những thương hiệu nhượng quyền phần lớn có ngân sách tiếp thị giành riêng cho mình. Nhiều mô hình nhượng quyền đòi hỏi những qui luật tiếp thị khá đặc biêt và có sự kết hợp giữa người nhượng quyền và người được nhượng quyền. Tùy thuộc vào loại hình kinh doanh được chọn, bạn có thể lựa chọn phương thức tiếp thị và quảng cáo phù hợp nhất. Starbucks thành công với việc biến mỗi nhân viên của mình bất kể vị trí nào phải là một chuyên gia tiếp thị cừ khôi để mọi nơi mọi lúc có thể tư vấn, có thể tiếp thị trực tiếp cho thương hiệu của Starbucks. Chiến lược dài hạn: Thông thường việc nhượng quyền sẽ giúp bạn rút ngắn được thời gian chuẩn bị những cơ sở ban đầu, nhưng không có nghĩa là bạn không phải xây dựng một chiến lược dài hạn. Một đại lý nhượng quyền cũng cần khoảng 2 đến 3 năm trước khi thấy được lợi nhuận, và nếu bạn không có kế hoạch đầy đủ thì bạn sẽ bị nuốt chửng trước khi có cơ hội thành công. Quản lý con người: Một lời khuyên chân thành là nếu bạn thiếu kĩ năng làm việc và tương tác với con người, bạn không nên lựa chọn phương thức nhượng quyền. Nhưng nếu bạn thật sự xem đây là con đường đưa bạn đến thành công, bạn phải nỗ lực hết mình và làm việc với tất cả đam mê. Và chỉ có đam mê bạn mới có thể truyền cảm hứng cho công việc và cho người khác. Hơn nữa, là một người chủ nhượng quyền hay người sử dụng thương hiệu nhượng quyền, bạn cần phải tương tác với tất cả mọi người ở xung quanh liên quan đến hoạt động kinh doanh của bạn. Khả năng quản lý con người rất cần thiết trong công cuộc kinh doanh, và càng quan trọng hơn trong lĩnh vực nhượng quyền đòi hỏi sự hợp tác và tin cậy lẫn nhau của các thành viên tham gia. Vấn đề quản lý con người sẽ đem lại nội lực cho thương hiệu của bạn trước khi bạn bắt đầu phát triển nó thành một hệ thống. Việc kí kết hợp đồng nhượng quyền chỉ mới là bước đầu, không phải là kết thúc của mối quan hệ.5 nhân tố trên sẽ là nền tảng giúp bạn và thương hiệu của bạn phát triển một cách vững chắc, là nền móng giúp bạn mở rộng hệ thống kinh doanh của mình theo mô hình nhượng quyền cũng như lựa chọn thương hiệu phù hợp nếu bạn muốn tự mình kinh doanh. Việc phát triển những nhân tố này thành những qui tắc và những cam kết hoạt động sẽ giúp bạn quản lý một cách toàn diện hệ thống nhượng quyền của mình. Và theo David McKinnon, CEO của Molly Maid, đã nhận xét: “Chúng ta không chỉ thực hiện hệ thống của Molly Maid, mà chúng ta còn tạo ra những nhân tố giúp cho việc phát triển hệ thống đó. Nó không phải được lập ra để trừng phạt, mà nó được lập ra để bảo vệ thương hiệu và hỗ trợ người sử dụng chúng tuân theo và phát triển hệ thống”.
Exercise Notice / Thông Báo Thực Hiện Hợp Đồng Chứng Khoán
Thuật ngữ này được dùng khi thông báo của broker cho biết một khách hàng muốn thực hiện quyền mua chứng khoán cơ sở trong hợp đồng option. Thông báo như thế được chuyển đến người bán option (option seller) thông qua corporation clearing.
Secondary Market / Thị Trường Thứ Cấp
Thị trường thứ cấp (secondary market) là khái niệm phân biệt với thị trường sơ cấp (primary market), thường để ám chỉ một loại thị trường tài chính, chẳng hạn như thị trường cổ phiếu hoặc trái phiếu. Trên thị trường thứ cấp, người ta giao dịch và trao đổi các tài sản tài chính đã được phát hành lần đầu qua thị trường sơ cấp. Nói cách khác, thị trường thứ cấp là nơi giao dịch các tài sản tài chính đang tồn tại. Thị trường thứ cấp có chức năng đặc biệt quan trọng như sau: 1. Tạo ra tính thanh khoản cho loại hàng hóa đặc biệt là tài sản tài chính.2. Tạo ra các phương thức giao dịch trơn tru dẫn tới chi phí giao dịch ngày càng thấp. Thông thường, thị trường chứng khoán (TTCK) quen thuộc trong quan niệm hàng ngày của chúng ta chính là thị trường thứ cấp, vì chúng ta ít khi quan tâm tới thị trường sơ cấp. Ở thị trường sơ cấp là các trung gian và cơ quan chuyên môn tài chính dàn xếp việc phát hành và mua-bán lần đầu các tài sản tài chính mới. Hai chức năng quan trọng nói trên thường xuyên bị nhầm lẫn với quan niệm cho rằng TTCK là nơi thu hút vốn đầu tư, vốn là chức năng của thị trường sơ cấp.
Thị trường trong đó các khoản vay, các chứng khoán khả mại, các cổ phiếu, trái phiếu, và các tài sản khác được bán cho các nhà đầu tư, hoặc trực tiếp thông qua một trung gian. Thị trường tiền tệ. Thị trường nơi các công cụ nợ được chào bán bởi những thương nhân để bán lại cho các nhà đầu tư mới. Ví dụ, thị trường thương nhân các chứng chỉ tiền gửi (CD) khả nhượng được tập trung tại 25 cơ sở tại New York. Việc giao dịch các CD khả nhượng giữa các thương nhân và các khách hàng của họ theo các lô 1 triệu đô la hoặc hơn. Cầm cố. Thị trường cầm cố thứ cấp toàn quốc mua và bán các thế chấp đã có, thị trường trong đó các thế chấp được hình thành từ thị trường ban đầu. Xem SECURITIZATION
Sunk Costs / Chi Phí Chìm
Chi phí chìm là khoản chi phí đã mất thì không lấy lại được. Các chi phí chìm mặc dù có thật, nhưng chúng không được đề cập đến mà cần phải loại ra khi tính toán hiệu quả kinh tế của những dự án trong tương lai. Trong kinh tế, một người sẽ đưa ra các quyết định hợp lí theo mục tiêu về hiệu quả hay lợi nhuận và không để chi phí chìm ảnh hưởng tới quyết định. Ví dụ, chi phí đặt mua một chiếc vé xem phim trước và không thể trả lại, thì giá của chiếc vé trở thành chi phí chìm. Nếu người mua vé quyết định không đi xem nữa thì không có cách nào khác để đòi lại số tiền mua vé mà anh ta đã trả.
Secondary Distribution / Phân Phối Cấp Hai
Bán ra công chúng số trái phiếu đã phát hành trước đây do các nhà đầu tư lớn thường là các công ty, tổ chức hay những công ty được sát nhập đang giữ, nó khác với trái phiếu mới phát hành hay phân phối đầu tiên, lúc này người bán là công ty phát hành. Giống như cung ứng đầu tiên, việc cung ứng lần thứ nhì cũng do Ngân Hàng Đầu Tư xử lý, hoặc là một mình hay cùng nhóm bao tiêu nghĩa là họ mua của người bán với giá thoả thuận sau đó bán lại số trái phiếu đó, thỉnh thoảng với sự giúp đỡ của nhóm bán, với giá cung ứng ra công chúng cao hơn để kiếm lợi nhuận chênh lệch. Bởi vì việc cung ứng phải đăng ký với nhà nước, nên nhà quản lý nhóm bao tiêu củng cố hay giữ giá thị trường một cách hợp pháp bằng cách đặt mua (đấu thầu) cổ phần trong thị trường tự do (thị trường mở rộng). Người mua chứng khoán cung ứng theo cách này không phải trả hoa hồng vì tất cả giá phí do người bán chịu. Nếu loại chứng khoán có liên quan này được liệt kê thì bảng tổng hợp sẽ thông báo việc phát hành suốt ngày mua bán, mặc dù lúc đó việc cung ứng chưa được thực hiện cho đến khi thị trường đóng cửa. Trong lịch sử phân phối lần thứ hai cấp độ thật lớn có trường hợp cung ứng của Ford Foundation về chứng khoán công ty Ford Motor năm l956( khoảng $658 triệu ) do 7 công ty xử lý theo thoả hiệp liên kết quản lý và số bán cổ phần của Howard Hughes ($566 triệu) thông qua Merrill Lynch, Pierce, Fenner & Smith năm 1966. Một hình thức tương tự với phân phối lần thứ 2 được gọi là cung ứng đặc biệt (special offering), nó giới hạn số thành viên của NYSE và hoàn tất trong ngày mua bán.
Fractional Reserve Banking / Ngân Hàng Dự Trữ Theo Tỷ Lệ
Đây là hoạt động mà các ngân hàng thương mại thực hiện để duy trì dự trữ các tài sản có khả năng hoán đổi ở một mức độ nào đó, thường là mức thấp trong tổng danh mục tài sản của họ. Mục đích của dự trữ này là nhằm đáp ứng những dao động không thấy trước được của việc giảm sút tiền gửi do việc rút hay chuyển tiền (bằng séc) cho các ngân hàng khác. Khi tính dưới dạng tỷ lệ tổng số tiền gửi như thường lệ thì phân số này gọi là tỷ lệ dự trữ. Mức chung của tỷ số này có thể được xác định thông qua việc xem xét dựa trên cơ sở kinh nghiệm và thường được thay đổi tùy theo dự đoán và sự hấp dẫn của các tái sản khác. Nhưng trong hầu hết các hệ thống hiện đại, các tỷ số dự trữ này phải đạt ở mức tối thiểu hợp pháp do ngân hàng trung ương quy định nhằm phục vụ chính sách tiền tệ và tín dụng. Trong lý thuyết về sự hình thành tín dụng của ngân hàng, hoạt động ngân hàng bằng cách dự trữ theo tỷ lệ là điều kiện cần thiết của việc tạo ra tín dụng và tiền gửi ngân hàng của hệ thống ngân hàng và tỷ số này là yếu tố quyết định quy mô tín dụng và số nhân tiền.
Fourier Analysis / Phân Tích Fourier
Một phương pháp có thể chuyển số liệu CHUỖI THỜI GIAN thành khoảng tần số.
Supply Chain / Chuỗi Cung Cấp
Một chuỗi cung cấp, một mạng lưới logistics, hoặc một mạng lưới cung cấp là một hệ thống các tổ chức, con người, công nghệ, hoạt động, thông tin và nguồn lực liên quan đến di chuyển một sản phẩm hoặc dịch vụ từ người cung cấp tới khách hàng. Các hoạt động của chuỗi cung cấp giúp chuyển nguyên liệu thô và các bộ phận tách rời thành sản phẩm cuối cùng và được cung cấp tới người tiêu dùng cuối cùng. Trong các hệ thống chuỗi cung cấp phức tạp, các sản phẩm đã qua sử dụng có thể được quay trở lại chuỗi cung cấp nếu các giá trị còn lại có thể được sử dụng để tái chế. Chuỗi cung cấp thực hiện chức năng kết nối chuỗi giá trị. Sơ đồ chuỗi cung cấp Mũi tên đen: Dòng nguyên vật liệu, thông tin và tài chínhMũi tên xám: Dòng thông tin, tài chính và backhaulsa- người cung cấp đầu tiênb- người cung cấpc- nhà sản xuấtd- khách hànge- khách hàng cuối cùng Quản lí chuỗi cung cấp liên quan chặt chẽ đến chuỗi cung cấp.
Foundation Grant / Trợ Cấp Cơ Bản
Một dạng trợ cấp giữa các chính quyền được sử dụng rộng rãi ở Mỹ nhằm mục đích san bằng chi phí đối với từng cộng đồng địa phương (về phương diện thuế suất đặt ra cho từng địa phương) trong việc cung cấp một mức dịch vụ công cộng tối thiểu.
Secondary Distribution / Phân Phối Thứ Cấp
Phân phối thứ cấp, xét riêng về khía cạnh tài chính, là hình thức bán lại chứng khoán đã phát hành trước đây do các nhà đầu tư lớn thường là các công ty, tổ chức hay những công ty được sáp nhập. Nó khác với phân phối sơ cấp, chứng khoán được phát hành đầu tiên, lúc này người bán là công ty phát hành. Hoạt động phân phối thứ cấp thường do Ngân hàng đầu tư xử lý, hoặc là một mình hoặc là cùng một số tổ chức tài chính khác, đứng ra mua của công ty phát hành với giá thỏa thuận, sau đó bán lại số chứng khoán đó với giá cung ứng ra công chúng cao hơn để kiếm lợi nhuận chênh lệch, gọi là spread. Bởi vì việc cung ứng phải đăng ký với cơ quan nhà nước, nên nhà quản lý nhóm cung ứng thứ cấp này (Ngân hàng đầu tư) củng cố hay giữ giá thị trường một cách hợp pháp bằng cách đặt mua cổ phần trong thị trường tự do mua bán chứng khoán. Người mua cung ứng loại chứng khoán này không phải trả bất kỳ khoản hoa hồng nào do mọi chi phí người bán chịu. Trong lịch sử phân phối thứ cấp, trường hợp có cấp độ phân phối lớn nhất là của tổ chức Ford Foudation khi mua chứng khoán của công ty Ford Motor năm 1956, một khoản tương đương $658 triệu, do 7 công ty xử lí theo thỏa hiệp liên kết quản lý; và lượng cổ phần bán ra của Howard Hughes, $566 triệu, thông qua các công ty đầu tư Merrill Lynch, Pierce, Fenner & Smith năm 1966. Phân phối thứ cấp hoàn toàn khác với thị trường thứ cấp. Ở thị trường thứ cấp các chứng khoán được mua bán tiếp theo nhiều lần sau lần phát hành đầu tiên trên thị trường sơ cấp, nó được mua bán tự do giữa các nhà đầu tư và giá cả chứng khoán lên hay xuống là do cung cầu chứng khoán (định giá cao hay thấp giá trị cổ phần của công ty phát hành), và các nhà đầu tư sẽ kiếm được lợi nhuận dựa vào việc bán cổ phiếu với giá cao hơn khi mua vào. Nhưng ở phân phối thứ cấp thì cổ phiếu một công ty khi phát hành thường được mua theo hình thức bao tiêu, tức là mua hết mua trọn gói lượng cổ phiếu đó với giá thỏa thuận, sau đó chính công ty đầu tư bao tiêu đó lại bán ra thị trường tự do với lượng và mức giá do họ kiểm soát, có thể coi họ là những nhà phát hành thứ cấp.
Forwards And Futures Markets / Thị Trường Kỳ Hạn Và Giao Sau Tiền Tệ
Không giống như thị trường giao ngay, thị trường kỳ hạn và giao sau không giao dịch tiền tệ thật sự, thay vào đó, họ giao dịch các hợp đồng mà đại diện cho các quyền sở hữu đối với một loại tiền tệ xác định ở một mức giá xác định trên mỗi đơn vị tiền tệ và một ngày thanh toán xác định trong tương lai.Trong thị trường kỳ hạn, các hợp đồng được mua và bán trên OTC giữa 2 chủ thể, chính họ sẽ quyết định kỳ hạn của các hợp đồng.Trong thị trường giao sau, các hợp đồng giao sau được mua bán dựa trên sự chuẩn hóa kích cỡ và ngày thanh toán trên thị trường hàng hóa chung, ví dụ như Sàn giao dịch hàng hóa Chicago CME. Ở Mỹ, hiệp hội giao sau Quốc gia đưa ra các quy định cho thị trường giao sau. Hợp đồng giao sau có các chi tiết cụ thể rõ ràng, bao gốm cả tổng số đơn vị hàng hóa được giao dịch, ngày giao hàng và ngày thanh toán, và các mức tăng giá tối thiểu cũng không được làm theo yêu cầu riêng của các chủ thể tham gia hợp đồng. Sàn giao dịch có chức năng giống như một đối tác cho các nhà giao dịch, cung cấp.Cả hai loại hợp đồng này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau và thường được thanh toán bằng tiền mặt cho các giao dịch trong khi đáo hạn mặc dù các hợp đồng cũng có thể được mua bán trước khi chúng đến hạn. Các thị trường kỳ hạn và giao sau có thể cung cấp sự bảo vệ chống lại rủi ro khi giao dịch tiền tệ. Thường thì các công ty đa quốc gia đế sử dụng các thị trường này để phòng ngừa rủi ro đối với các biến động tỷ giá trong tương lai, nhưng các nhà đầu cơ cũng tham gia thị trường.
Support / Mức Hỗ Trợ
Trong phân tích kỹ thuật, mức hỗ trợ, cùng với mức kháng cự, là những mức giá cơ bản xuất hiện trên hầu hết mọi đồ thị phân tích. Mức hỗ trợ là mức giá mà tại đó số người mua tham gia vào thị trường đủ lớn để áp đảo số lượng người bán. Thị trường luôn ghi nhớ những diễn biến về giá cả trong giai đoạn trước. Khi giá xuống chạm một mức thấp mới, rồi lại hồi phục trở lại, những người mua thấy tiếc rẻ vì đã không mua được chứng khoán khi giá chạm đáy lần đầu tiên này sẽ có xu hướng mua vào nếu giá lại xuống đến điểm này một lần nữa. Lo ngại trước việc bỏ lỡ cơ hội lần thứ hai, nhiều người mua sẽ gia nhập thị trường, tạo ra lực lượng cầu đủ lớn để áp đảo số người bán. Kết quả là giá lại bị đẩy lên, càng củng cố thêm quan điểm cho rằng giá không thể nào xuống dưới mức này được. Vô hình chung, tại điểm mốc này hình thanh nên một mức chặn dưới, đó chính là mức hỗ trợ. Mức hỗ trợ đóng vai trò như giá sàn trong các đồ thị phân tích kỹ thuật, ngăn không cho giá thị trường tụt xuống dưới mức này. Như có thể thấy rất rõ trên đồ thị, việc xác định được mức giá hỗ trợ có thể đem lại cho nhà đầu tư một cơ hội mua vào tuyệt vời. Do đó, đôi khi người ta còn gọi mức hỗ trợ là mức giá mua có lợi.
Forward rate agreement (FRA) / Hợp đồng lãi suất tương lai
Hợp đồng hai bên đồng ý lãi suất sẽ trả được vào một ngày thanh toán trong tương lai. Ví dụ, kì hạn hợp đồng được nêu là sáu tháng so với chín tháng, lãi suất cho kỳ hạn ba tháng được bắt đầu trong kì hạn sáu tháng. Số tiền vốn được thỏa thuận, nhưng không bao giờ được trao đổi, và hợp đồng được tra bằng tiền mặt; rủi ro được giới hạn vào sự chênh lệch giữa lãi suất thỏa thuận, và lãi suất thực tế thanh toán.
Secondary Banks / Các Ngân Hàng Thứ Cấp
Một cụm thuật ngữ dùng để chỉ một nhóm lớn các tổ chức tài chính chuyên nhận tiền gửi, rất nhiều tổ chức trong số đó là chi nhánh hoặc có liên quan đến các ngân hàng thanh toán bù trừ, nhà buôn, ngân hàng nước ngoài mọc lên nhanh chóng trong những năm 1960 và đầu những năm 1970 được trợ giúp bởi những quy định về số lượng đối với các ngân hàng thanh toán bù trừ.
Forward Rate / Tỷ Giá Hối Đoái Định Trước; Tỷ Giá Hối Đoái Kỳ Hạn
Tỷ giá hối đoái theo đó một đồng tiền có thể được mua hay bán để được giao trong tương lai trên thị trường kỳ hạn.
Second Order Condition / Điều Kiện Đạo Hàm Bậc Hai
Dấu của đạo hàm bậc hai của hàm mục tiêu của các biến lựa chọn cho thấy cực trị là cực đại hay cực tiểu.
Forward Price / Giá Giao Sau
Ngược lại với Giá giao ngay, Giá giao sau có công thức tính F = St* exp[(T-t)*r]- dựa trên mức giá hiện tại, lãi suất,... nhằm không để xảy ra tình trạng cơ lợi. Trong đó, từng ký hiệu được lý giải như sau: F: giá thực hiện trong tương lai tại thời điểm T St: giá giao ngay T: thời gian đáo hạn t: thời điểm hiện tại r: lãi suất Kết luận: Giá giao sau là giá của tài sản được ghi trong các hợp đồng tương lai. Đây sẽ là mức giá được thực hiện khi đáo hạn hợp đồng.
Supporting Industries / Công Nghiệp Phụ Trợ
Thuật ngữ “công nghiệp phụ trợ” được sử dụng rộng rãi, đặc biệt ở các nước Đông Á. Tuy nhiên, khái niệm công nghiệp phụ trợ chưa hình thành một cách hiểu thống nhất trong các lý thuyết kinh tế cũng như trên thực tế, nhìn chung vẫn chưa hình thành các chuẩn để quan niệm thế nào về công nghiệp phụ trợ. Junichi Mori (2005) cho rằng có hai cách tiếp cận đối với khái niệm công nghiệp phụ trợ: từ lý thuyết kinh tế và từ thực tiễn sản xuất kinh doanh. Theo lý thuyết kinh tế, công nghiệp phụ trợ được định nghĩa là các ngành sản xuất đầu vào (manufactured inputs). Hàng hóa, sản phẩm sau cùng được tạo ra từ những quá trình sản xuất và lắp ráp các đầu vào. Công nghiệp phụ trợ chính là những ngành sản xuất các sản phẩm đầu vào, gồm: - Các sản phẩm, hàng hóa trung gian (intermediate goods). - Các sản phẩm, hàng hóa phục vụ quá trình sản xuất (capital goods). Việc phân biệt hàng hóa trung gian và hàng hóa phục vụ quá trình sản xuất phụ thuộc vào hình thức chuyển hóa của những hàng hóa này vào trong sản phẩm cuối cùng. Như trong sản xuất hàng điện tử tiêu dùng, các linh kiện lắp ráp được xem như hàng hóa trung gian, trong khi máy móc, thiết bị sản xuất các linh kiện ấy được xem như hàng hóa phục vụ quá trình sản xuất.Trong thực tiễn sản xuất kinh doanh, có hai cách hiểu về công nghiệp phụ trợ. Ở góc độ hẹp, công nghiệp phụ trợ là các ngành sản xuất phụ tùng linh kiện phục vụ cho công đoạn lắp ráp ra sản phẩm hoàn chỉnh. Ở góc độ rộng hơn, công nghiệp phụ trợ được hiểu như toàn bộ các ngành tạo ra các bộ phận của sản phẩm cũng như tạo ra các máy móc, thiết bị hay những yếu tố vật chất nào khác góp phần tạo thành sản phẩm. Khái niệm công nghiệp phụ trợ trên thực tế chủ yếu sử dụng trong các ngành công nghiệp có sản phẩm đòi hỏi sự kết nối của nhiều chi tiết phức tạp đòi hỏi tính chính xác cao, dây chuyền sản xuất đồng loạt với các công đoạn lắp ráp tách biệt. Hai ngành công nghiệp hay sử dụng nhiều khái niệm công nghiệp phụ trợ là ngành ô tô và điện tử. Tuy nhiên, nếu đặt góc nhìn rộng hơn, công nghiệp phụ trợ phải được hiểu một cách tổng quát như một hình dung về toàn bộ quá trình sản xuất nói chung, chứ không thể bổ dọc, cắt lớp theo ngành hay sản phẩm vì mỗi ngành, mỗi loại sản phẩm đều có những đặc thù riêng và đều có những đòi hỏi ở các mức độ khác nhau về yếu tố phụ trợ.






