Thuật Ngữ Kinh Tế

A B C D E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Z Tất cả

Second - Prefered Stock (Junior Stock) / Chứng Khoán Ưu Đãi Hạng Nhì

Chứng khoán ưu đãi hạng nhì là loại chứng khoán ưu đãi dưới mức "chứng khoán ưu đãi" (Prefered stock) liên quan đến việc chi trả cổ tức và thu hồi vốn khi thanh lý tài sản. Cũng giống như cổ phiếu ưu đãi khác, người sở hữu chứng khoán ưu đãi thứ cấp này được hưởng mức cổ tức cố định hàng năm dù công ty làm ăn thua lỗ hay có lợi nhuận, được ưu tiên thanh toán trước khi công ty phá sản và không có quyền tham gia biểu quyết hay quản lý công ty (tuy nhiên cũng có loại "cổ phiếu ưu đãi" đặc biệt về quyền biểu quyết, nhưng không có chứng khoán ưu đãi hạng nhì về quyền biểu quyết). Nhưng vì là "ưu đãi hạng nhì" nên mọi sự ưu tiên trước nhất là dành cho "cổ phiếu ưu đãi", có thể sắp xếp thứ tự ưu tiên về các quyền được hưởng cổ tức và  thu hồi vốn đối với các loại chứng khoán do một công ty phát hành như sau: trái phiếu thông thường, cổ phiếu ưu đãi, cổ phiếu ưu đãi hạng nhì, cổ phiếu phổ thông, cuối cùng làchứng khoán bổ sung (trong đó có trái phiếu vĩnh viễn). Chứng khoán ưu đãi hạng nhì không phổ biến trên thị trường chứng khoán bởi lẽ các công ty rất ít phát hành loại cổ phiếu này vì tính không thật cần thiết của nó, chỉ cần cổ phiếu ưu đãi và cổ phiếu phổ thông thế là đủ. Tuy nhiên đối với một số công ty, việc phát hành chứng khoán ưu đãi thứ cấp này chỉ để dành cho các nhân viên, khuyến khích họ bằng cách cho họ hưởng một mức ưu đãi nhất định (sau các cổ đông ưu đãi khác) về cổ tức nhưng hạn chế quyền quản lý của họ. Và sau một thời gian hoạt động, nếu các nhân viên này đáp ứng được một số yêu cầu hay đạt được kết quả làm việc tốt thì chứng khoán ưu đãi hạng nhì có thể được chuyển đổi thành cổ phiếu phổ thông, với đầy đủ các quyền mà một cổ đông được hưởng. Ngoài việc tăng tính khả hoán cho chứng khoán ưu đãi hạng nhì (khả năng chuyển đôi thành cổ phiếu thông thường) cổ phiếu này thường được phát hành kèm chứng chỉ đặc quyền mua chứng khoán (warrant) để tăng thêm phần hấp dẫn cho các nhà đầu tư.

Swap / Hợp Đồng Hoán Đổi

1. Ngoại hối. Mua và bán đồng thời một đồng tiền với các số lượng xấp xỉ bằng nhau có các kỳ đáo hạn khác nhau. Giá hoán đổi là chênh lệch về giá giữa các kỳ đáo hạn  của hợp đồng hóan đổi. 2. Bản thỏa thuận trao đổi các khoản thanh tóan lãi một khoản nợ có lãi suất cố định thành các khoản thanh tóan trong khoản nợ có lãi suất thả nổi (Hoán đổi lãi suất), hay một loại tiền này lấy một loại tiền khác (hoán đổi tiền tệ) và đảo ngược việc hoán đổi ở thời điểm về sau. Hoán đỏi tiền tệ  chéo là trao đổi một khoản nợ có lãi suất cố định bằng đồng tiền này, lấy một khoản nợ có lãi suất thả nổi theo một đồng tiền khác. Bản thỏa thuận hóan đổi dựa trên số vốn giả định hay số vốn tương đương , nhằm thiết lập giá trị hoán đổi khi đáo hạn, nhưng không bao giờ được hoán đổi. Vốn giả định thiết lập giá trị các khoản thanh tóan lãi trong hóan đổi. Các quy tắc điều tiết các hopự đồng hóan đổi tài chính được thiết lập bởi hiệp hội hãng Giao dịch Hóan đổi quốc tế, một tổ chức tự thiết lập quy tắc.  Hoán đổi lãi suất và tiền tệ được sử dụng bởi các chủ ngân hàng và các nhà quản lý đầu tư, nhằm tối thiểu hóa chi phí vay, để cấp vốn cho các khoản cho vay của ngân hàng với nợ phải trả có kỳ đáo hạn sấp xỉ bằng nhau, để đạt được khả năng thanh tóan (trong hóan đổi tiền tệ) ở đồng tiền này so với đồng tiền khác; nhằm phòng ngừa rủi ro danh mục hay tăng vốn trong ác thị trường nước ngoài, và cũng để tạo lợi nhuận giao dịch. Hợp đồng hoán đổi thường được sử dụng nhiều nhất cho các mục đích tài trợ hay tạo ra tài sản, và có một số lợi thế khi so sánh với các khoản vay ngân hàng, hay tiền guiử trong quản lý tài sản-nợ. Không giống như hoản vay hay tiền gửi, việc hoán đổi không được công khai trên bản cân đối kế tóan của ngân hàng phát hành, mặc dù các ngân hàng vẫn phải dự trữ một phần vốn cổ phần của họ nhằm trang trải các thỏa thuận hóan đổi hiện hành theo các nguyên tắc vốn dựa trên rủi ro.  Xem ASSET SWAP; BASIC SWAP; SWAP NETWORK 3. Hoán đổi trái phiếu. 4. Hóan đổi cầm cố. 5. Hóan đổi hàng hóa: việc trao đổi các khoản thanh toán trong đó giá trị trao đổi được kết với giá trị hàng hóa. Tương tự hóan đổi lãi suất

Forward P/E / PE Dự Tính

Forward P/E được tính bằng công thức: PE dự tính = Giá thị trường của cổ phiếu : EPS kì vọng Mức thu nhập được sử dụng là mức đự tính và không đáng tin cậy bằng các số liệu về mức thu nhập hiện tại. Tuy nhiên PE dự tính vẫn có lợi trong việc phân tích. Mức thu nhập dự tính được sử dụng trong công thức có thể được sử dụng trong 12 tháng tiếp theo hoặc cho cả năm tài chính. PE dự tính của một công ty thường được sử dụng để so sánh thu nhập hiện tại với thu nhập trong tương lai. Nếu thu nhập được kì vọng sẽ tăng trong tương lai, PE dự tính sẽ thấp hơn PE hiện tại. Chỉ số này cũng giúp so sánh một công ty với một công ty khác trong tương lai.

Seasoned Public Offering/ Follow-On Offering/ SPO / Phát Hành Cổ Phần Sau IPO

SPO là thuật ngữ mô tả việc một doanh nghiệp đại chúng phát hành cổ phần rộng rãi cho công chúng sau khi đã tiến hành IPO. Nói cách khác, nếu như IPO là thuật ngữ ám chỉ lần đầu tiên doanh nghiệp phát hành cổ phần mới và bán ra rộng rãi cho công chúng, thì SPO áp dụng cho tất cả các lần phát hành sau đó. SPO còn có tên gọi khác trên thế giới, nhưng ít thông dụng hơn, là Phát hành cổ phần tiếp nối (Follow-On Offering - FOO). Theo tài liệu "Going public and the ownership structure of the firm" của các tác giả Antonio S. Melloa và John E. Parsons, bản thân quá trình phát hành công chúng rộng rãi đã đủ phức tạp vì tính chất các loại thị trường và sự đa dạng của các nhóm nhà đầu tư, các nhóm kiểm soát doanh nghiệp. Từ đây, chúng ta nên hiểu rằng việc tiến hành SPO thành công hay không còn phụ thuộc vào cơ chế thiết kế vụ phát hành (ở mức sơ cấp) và cấu trúc sở hữu mong muốn có đạt được hay không sau mỗi lần SPO, hoặc một loạt đợt SPO. Một mục tiêu quan trọng nữa của một đợt SPO là một dãy các đợt SPO được thiết kế có tính liên tục không, có đạt mục tiêu huy động theo thời kỳ mong muốn không, và có phù hợp với các chiến lược dự án của doanh nghiệp hay không. Nói giản dị hơn, việc biến công ty thành đại chúng bắt đầu với IPO, nhưng việc công ty quản trị nguồn vốn tốt hay không lại nằm một phần đáng kể ở các mức thành công của nhiều đợt SPO theo các kế hoạch chiến lược. Một doanh nghiệp IPO thành công, nhưng không có khả năng SPO hoặc không có chiến lược phát triển cần tới các vụ SPO tiếp theo, thì cũng khó có thể coi là doanh nghiệp có cơ hội tăng trưởng. Việc thành công của SPO phụ thuộc ngày càng nhiều hơn vào các "chiến thuật" marketing tới người mua cổ phiếu của doanh nghiệp, bên cạnh các yếu tố vận hành và chiến lược phát triển đường dài -- vốn là điều kiện cần. Việc marketing này luôn được các nhà tư vấn ngân hàng đầu tư đặt trong tổng thể ai kiểm soát các block cổ phần lớn có thể kiểm soát quá trình ra quyết định của doanh nghiệp. Vì các mục tiêu này, nên các nhà khoa học về corporate governance và giới tư vấn luôn tiếp tục phát triển các cơ cấu cổ phiếu và số lượng cổ phần tương ứng để cân bằng hai loại quyền quan trọng nhất trong SPO: (a) Quyền hưởng lợi ích kinh tế từ cổ phần; (b) Quyền quyết định hướng phát triển doanh nghiệp. Những lo lắng mang tính cấu trúc đường dài và thay đổi liên tục này ít khi xuất hiện trong lần IPO của một công ty đang muốn lần đầu trở thành đại chúng. Một đặc tính đáng lưu ý của SPO, là quyền ưu tiên mua tiếp của cổ đông hiện tại. Nhiều rắc rối và xung đột có thể xảy ra ở đây. Nghiên cứu có tên "Ownership Concentration, Adverse Selection and Equity Offering Choice" của các tác giả William Cheung, Hong Kong Polytechnic University; Keith Lam, University of Macau; Lewis Tam, University of Macau) có đề cập tới vấn đề này ở quốc gia có mối liên hệ gần gũi với Việt Nam, là Trung Quốc. Qua đó một số điểm liên quan tới SPO có thể cần xem xét như sau. Trước hết, các cổ đông lớn thuộc nhà nước dần dần từ bỏ quyền mua tiếp cổ phiếu. Thứ hai, lập pháp có thể yêu cầu việc hạn chế đăng ký mua bổ sung cổ phần của nhiều nhóm cổ phiếu khác nhau. Nghiên cứu thực chứng qua thống kê cũng cho thấy ở Trung Quốc, việc có mật độ sở hữu cao ở một số cổ đông đại diện nhà nước có xu hướng liên quan chặt chẽ tới việc lựa chọn portfolio theo hướng tránh rủi ro ở mức tối đa. Vì thế, việc phát hành quyền có xu hướng đang được thay bằng bán ra qua các phương pháp SPO. Khi các khoản huy động vốn cổ phần lớn gia tăng đáng kể, hầu như phương án lựa chọn là SPO, thay cho phát hành quyền trong số cổ đông hiện hữu. Gần đây, thế giới cũng quan tâm nhiều tới vụ IPO của Google xem đó như một thành công mỹ mãn, nhiều tiếng vang, và giá đã lên tới mức 571.5$/cổ phần vào ngày 13/6/2008, (trước đó đã từng vượt 700$), và nó dẫn tới việc Google Inc. tính toán tiếp tục IPO cho cổ phiếu nhóm A, và những đợt SPO trong dài hạn. Như vậy, thành công của IPO thường là bước đầu thúc đẩy việc các doanh nghiệp đại chúng (niêm yết hoặc chưa) tính toán phối hợp các vụ SPO với chiến lược phát triển dài hạn để đảm bảo an toàn tài chính cho kinh doanh; trong đó, việc cân nhắc các quyền lợi giữa các nhóm cổ đông có vị trí đặc biệt quan trọng.

Forward Market / Thị trường kì hạn

Thị trường mà hãng giao dịch đồng ý giao tiền, hàng hóa hoặc công cụ tài chính với mức giá cố định vào một ngày cụ thể trong tương lai. Hầu hết những hợp đồng tương lai đều thực hiện một giao vào một ngày cụ thể trong tương lai, ví dụ, một tuần từ ngày giao dịch, một tháng.. Những hợp đồng với kì hạn dài có bản chất đầu cơ và rủi ro đáng kể.   Xem ROLLOVER; SPOT NEXT; TOMRROW NEXT.

Swap Bank / Ngân Hàng Swap

Ngân hàng Swap là một định chế tài chính hoạt động giống như một trung gian cho swap tiền tệ và lãi suất. Chức năng của các trung gian này là để tìm kiếm các đối tác cho những ai muốn tham gia vào các hợp đồng swap. Ngân hàng swap thường kiếm được một khoản phí nhỏ cho việc thiết lập các swap. Nói chung, các công ty không trực tiếp liên hệ với công ty khác để tạo ra các hợp đồng swap. Thay vì vậy, các ngân hàng swap tạo ra các hợp đồng swap cho các công ty, có thể đáp ứng tốt nhất nhu cầu của mỗi bên. Trong hầu hết các trường hợp, các công ty thậm chí không hề biết gì về đối tác thực hiện swap với mình.

Forward Linkage / Liên Hệ Xuôi

Mối hệ giữa một ngành hay một công ty và các ngành hay công ty và các ngành hay các công ty khác sử dụng đầu ra của một ngành hay công ty này như là ĐẦU VÀO của mình.

Forward Exchange Market / Thị Trường Hối Đoái Kỳ Hạn

Thị trường hối đoái kỳ hạn là thị trường trong đó các đồng tiền được mua và bán theo những tỷ giá hối đoái được cố định từ bây giờ và giao vào một thời điểm nhất định trong tương lai. Một người giao dịch muốn có được một loại tiền hoặc phải thanh toán bằng tiền này vào một thời điểm trong tương lai có thể mua/bán đồng tiền này trước. Bằng cách đó người này đã tự mình chấp nhận mọi sự thay đổi về giá trị trao đổi trong thời kỳ thanh toán. Trong khi đó những người khác có thể hoạt động trên thị trường như những nhà đầu cơ thuần túy. Thị trường này thuận lợi ở chỗ trong hợp đồng kỳ hạn, việc thanh toán chỉ được thực hiện khi nó đến hạn.

Symmetric / Đối Xứng

Swap quyền chọn là hợp đồng quyền chọn đối với swap lãi suất. Người mua hợp đồng quyền chọn swap có quyền tham gia vào một nghiệp vụ swap lãi suất trước một ngày xác định trong tương lai, và có thể là người thanh toán lãi suất cố định (payer swaption) hoặc nhận lãi suất cố định (receiver swaption). Người bán hợp đồng quyền chọn swap sẽ trở thành một bên của hợp đồng swap nếu người mua hợp đồng thực thi quyền chọn. Người mua và người bán hợp đồng quyền chọn sẽ thống nhất với nhau về          -Lãi suất thực hiện (strike rate)         -Thời hạn của quyền chọn         -Các điều khoản của hợp đồng swap         -Số tiền vốn danh nghĩa         -Tần suất thanh toán Khác với hợp đồng swap thông thường, swap quyền chọn không chỉ giúp người bán trước rủi ro lãi suất giảm mà còn có thể thu lợi nếu lãi suất tăng. Cũng như các hợp đồng quyền chọn khác, nếu đến khi đáo hạn mà quyền chọn swap không được thực hiện thì hợp đồng sẽ kết thúc một cách vô giá trị. Nếu lãi suất thực hiện có lợi hơn so với lãi suất swap hiện hành trên thị trường thì hợp đồng quyền chọn swap sẽ được thực hiện theo như các qui định trong hợp đồng. Có 3 kiểu swap quyền chọn. Mỗi kiểu lại phản ánh một khung thời gian khác nhau mà quyền chọn có thể được thực hiện 1. Swap quyền chọn kiểu Mỹ: người nắm quyền chọn được phép tham gia vào một hợp đồng swap vào bất kể ngày nào trong môt khoảng thời gian giữa 2 ngày xác định 2. Swap quyền chọn kiểu Bermuda : người nắm quyền chọn được phép tham gia vào một hợp đồng swap vào bất kể ngày nào sau một ngày xác định 3. Swap quyền chọn kiểu Châu Âu: người nắm quyền chọn được phép tham gia vào một hợp đồng swap vào 1 ngày xác định.

Seasonal Unemployment / Thất Nghiệp Thời Vụ

Thất nghiệp do nguyên nhân từ hình thái công việc theo thời vụ của một số ngành.

Trạng thái xuất hiện khi người ta mất việc làm theo cách có thể dự báo được ở cùng thời gian mỗi năm

Exercise Limit / Giới Hạn Sử Dụng

Thuật ngữ này được dùng trong trường hợp giới hạn số hợp đồng option của bất cứ 1 loại nào có thể thực hiện trong khoảng thời gian ngắn 5 ngày hành chính. Đối với hợp đồng option chứng khoán, giới hạn thực hiện thường là 2.000 hợp đồng.

Seasonal Adjustment / Điều Chỉnh Thời Vụ

Tên gọi của bất kỳ một quy trình nào trong đó có tác động thời vụ được tính đến hoặc thường hay được loại bỏ khỏi dự liệu.

Forward / Hợp Đồng Kì Hạn

Hợp đồng kì hạn là một thoả thuận giữa hai bên về việc mua hay bán một tài sản nào đó vào một thời điểm định trước trong tương lai. Do vậy, trong loại hợp đồng này, ngày kí kết và ngày giao hàng là hoàn toàn tách biệt nhau. Khác với hợp đồng quyền chọn, trong đó người giữ hợp đồng có quyền thực hiện hoặc không thực hiện quyền của mình, thì ở hợp đồng kì hạn, 2 bên chịu sự ràng buộc pháp lý chặt chẽ hải thực hiện nghĩa vụ hợp đồng, trừ khi cả hai bên thoả thuận huỷ hợp đồng. Hợp đồng kì hạn được sử dụng để phòng ngừa rủi ro, ví dụ như rủi ro mất giá tiền tệ (hợp đồng kì hạn đối với USD hoặc EUR) hay rủi ro biến động giá một loại hàng hoá nào đó (hợp đồng kì hạn với dầu mỏ). Trong hợp đồng kì hạn, một bên đồng ý mua, còn bên kia đồng ý bán, với một mức giá kì hạn được thống nhất trước, nhưng không có việc thanh toán tiền thật sự ngay thời điểm kí kết. Ngược lại với giá kì hạn là giá giao ngay (spot price), giá bán của tài sản được giao vào ngày giao ngay (spot date), thường là trong vòng 2 ngày kể từ ngày kí. Chênh lệch giữa giá kì hạn và giá giao ngay gọi là khoản thặng dư(forward premium) nếu giá kì hạn cao hơn,  hoặc khoản khấu trừ(forward discount) nếu giá kì hạn thấp hơn. Hợp đồng kì hạn được tiêu chuẩn hoá, giao dịch trên các thị trường tập trung gọi là hợp đồng tương lai (futures contract). Hợp đồng tương lai cũng là một loại hợp đồng kì hạn nhưng nó có những đặc trưng rât riêng. Hãy nghiên cứu ví dụ sau để hiểu rõ hơn về đặc điểm của một hợp đồng kì hạn: Giả sử Mr. X muốn mua một ngôi nhà trong vòng 1 năm tới, đồng thời Mr. Y sở hữu một căn nhà và anh ta muốn bán trong cùng thời gian đó. Y thoả thuận bán ngôi nhà của Y cho X sau 1 năm nữa với giá là $104,000, hợp đồng này là một hợp đồng kì hạn. Vì X là người mua nên X mong muốn giá sẽ tăng trong tương lai, ngược lại, Y muốn giá giảm. Cuối năm, giả sử giá thị trường của ngôi nhà lúc đó là $110,000, trong khi Y có nghĩa vụ phải bán nhà cho X với giá $104,000 theo như cam kết trong hợp đồng nên có thể coi như Y đã lỗ $6000, còn X lãi $6000 (vì X có thể mua nhà của Y với giá $104,000 và bán ngay trên thị trường với giá $110,000). Nhìn chung nếu không tính đến các nhân tố khác thì giá kì hạn bao giờ cũng lớn hơn giá giao ngay, vì nó bao gồm cả lãi suất. Tiếp tục ví dụ trên, giả sử giá bán hiện nay của ngôi nhà là $100,000, thì Y có thể bán ngay để đem gửi ngân hàng để hưởng lãi suất 4%/năm. Sau 1 năm Y sẽ có số tiền $104,000 mà không phải chịu chút rủi ro nào. Trong khi đó nếu X muốn mua ngay ngôi nhà anh ta sẽ đến vay ngân hàng số tiền $100,000, và cũng phải trả lãi 4%/năm. Còn ngược lại nếu kí hợp đồng mua kì hạn anh ta sẽ không phải trả lãi nên X cũng sẵn sàng bỏ ra $104,000 để mua ngôi nhà trong vòng 1 năm nữa. Đó là lý do vì sao giá kì hạn được thống nhất ở $104,000 chứ không phải là $100,000.

Exempt Transaction / Giao Dịch Mua Bán Không Bị Ràng Buộc Theo Luật Lệ

Thuật ngữ này được dùng khi giao dịch mua bán ngoại lệ là những giao dịch mua bán được miễn các quy định về đăng ký và quảng bá.Nó bao gồm các giao dịch như sau:+ Giao dịch mua bán của một đơn vị đơn độc, riêng biệt không phải là nhà phát hành chứng khoán.+ Giao dịch mua bán không thuộc nhà phát hành về các chứng khoán hiện hành (mua bán trong thị trường thông thường).+ Giao dịch mua bán với các tổ chức tài chánh (ngân hàng, tổ chức tiết kiệm, công ty uỷ thác, công ty bảo hiểm, kế hoạch hưu trí và phân chia lợi nhuận, các broker-dealer v.v...) Giao dịch tự nguyện (không theo yêu cầu)+ Giao dịch uỷ thác tài sản. Giao dịch theo thoả thuận riêng. Giao dịch giữa nhà phát hành và nhà bao tiêu.+ Giao dịch với nhân viên nhà phát hành, người góp vốn (thành viên) hay với ban quản trị nếu không có hoa hồng gián tiếp hay trực tiếp cho sự móc nối này. Sự miễn trừ theo các quy định về đăng ký và quảng bá không có nghĩa là giao dịch này được miễn trừ các điều khoản về việc chống lừa đảo.

Systematic Risks / Rủi Ro Hệ Thống

Trong đầu tư, những rủi ro do các yếu tố nằm ngoài công ty, không kiểm soát được và có ảnh hưởng rộng rãi đến cả thị trường và tất cả mọi loại chứng khoán được gọi là rủi ro hệ thống hay là rủi ro không phân tán được. Rủi ro hệ thống là những rủi ro từ bên ngoài của một ngành công nghiệp hay của một doanh nghiệp, chẳng hạn như chiến tranh, lạm phát, sự kiện kinh tế và chính trị... Đa dạng hóa đầu tư cũng không thể loại bỏ loại rủi ro này. Những công ty chịu ảnh hưởng cao của rủi ro hệ thống là những công ty mà doanh số, lợi nhuận và giá chứng khoán thường theo sát các diễn biến kinh tế và những diễn biến trênthị trường chứng khoán. Phần lớn các công ty trong những ngành công nghiệp cơ bản và khai khoáng, những ngành có định phí lớn hay những ngành liên quan đến sản xuất ô tô chịu ảnh hưởng rất cao của rủi ro hệ thống, ví dụ ngành thép, cao su, kính,... Rủi ro hệ thống được chia làm 3 loại rủi ro chính:  1. Rủi ro thị trường: Giá cả cổ phiếu có thể dao động mạnh trong một khoảng thời gian ngắn mặc dù thu nhập của công ty vẫn không thay đổi. Nguyên nhân của nó có thể rất khác nhau nhưng phụ thuộc chủ yếu vào cách nhìn nhận của các nhà đầu tư về các loại cổ phiếu nói chung hay về một nhóm các cổ phiếu nói riêng. Những thay đổi trong mức sinh lời đối với phần lớn các loại cổ phiếu thường chủ yếu là do sự hy vọng của các nhà đầu tư vào nó thay đổi và gọi là rủi ro thị trường. Rủi ro thị trường xuất hiện do có những phản ứng của các nhà đầu tư đối với những sự kiện hữu hình hay vô hình. Sự chờ đợi đối với chiều hướng sụt giảm lợi nhuận của các công ty nói chung có thể là nguyên nhân làm cho phần lớn các loại cổ phiếu thường bị giảm giá. Các nhà đầu tư thường phản ứng dựa trên cơ sở các sự kiện thực, hữu hình như các sự kiện kinh tế, chính trị, xã hội còn các sự kiện vô hình là các sự kiện nảy sinh do yếu tố tâm lý của thị trường. Rủi ro thị trường thường xuất phát từ những sự kiện hữu hình, nhưng do tâm lý không vững vàng của các nhà đầu tư nên họ hay có phản ứng vượt quá các sự kiện đó. Những sự sút giảm đầu tiên trên thị trường là nguyên nhân gây sợ hãi đối với các nhà đầu tư và họ sẽ cố gắng rút vốn và sau đó kéo theo những phản ứng dây chuyền làm tăng vọt số lượng bán, giá cả chứng khoán sẽ rơi xuống thấp so với giá trị cơ sở. 2. Rủi ro lãi suất: Rủi ro lãi suất nói đến sự không ổn định trong giá trị thị trường và số tiền thu nhập trong tương lai, nguyên nhân là dao động trong mức lãi suất chung. Nguyên nhân cốt lõi của rủi ro lãi suất là sự lên xuống của lãi suất Trái phiếu Chính phủ, khi đó sẽ có sự thay đổi trong mức sinh lời kỳ vọng của các loại chứng khoán khác, đó là các loại cổ phiếu và trái phiếu công ty. Nói cách khác, chi phí vay vốn đối với các loại chứng khoán không rủi ro thay đổi sẽ dẫn đến sự thay đổi về chi phí vay vốn của các loại chứng khoán có rủi ro. 3. Rủi ro sức mua: Rủi ro thị trường và rủi ro lãi suất có thể được định nghĩa là những biến cố về số tiền thu được hiện nay của nhà đầu tư. Rủi ro sức mua là biến cố của sức mua của đồng tiền thu được. Rủi ro sức mua là tác động của lạm phát đối với khoản đầu tư, biến động giá càng cao thì rủi ro sức mua càng tăng nếu nhà đầu tư không tính toán lạm phát vào thu nhập kỳ vọng. Mỗi chứng khoán có một mức độ riêng rủi ro không thể phân tán được và được đo bằng hệ số bêta (b) (việc tính toán hệ số Bêta cũng hết sức phức tạp). Bêta cho thấy cái cách mà một chứng khoán phản ứng trước những nhân tố của thị trường. Nói khác đi, giá của một chứng khoán càng phản ứng với thị trường mạnh mẽ bao nhiêu thì hệ số bêta của chứng khoán đó càng cao bấy nhiêu. Bêta của một chứng khoán được tính thông qua mối liên hệ (chính xác là hệ số tương quan) giữa suất sinh lợi của chứng khoán đó và suất sinh lợi của thị trường mà chứng khoán đó đang giao dịch.

Forex / Thị Trường Ngoại Hối

Thị trường ngoại hối Forex là chữ viết tắt của Foreign Exchange Market hay FX là nơi giao dịch, mua bán tiền tệ. Thị trường ngoại hối lớn nhất và có tính thanh khoản cao nhất trên thế giới có số lượng giao dịch trung bình vượt quá 1,9 nghìn tỷ đôla một ngày và bao gồm tất cả các loại tiền tệ trên thế giới. Hệ thống giao dịch và giao dịch điện tử trên thị trường ngoại hối bao gồm thị trường tiền tệ giao ngay, hợp đồng ngoại hối kỳ hạn, hợp đồng quyền chọn, và các giao dịch ngoại hối kỳ hạn. Các bên tham gia trên thị trường Forex gồm có ngân hàng Trung ương, ngân hàng Thương mại, ngân hàng Đầu tư, các quỹ Hedge (tham khảo Hedge fund), các tập đoàn quốc tế, và các thương nhân. Thị trường Forex hoạt động 24/24h, 5 ngày một tuần. Tiền tệ được giao dịch trên khắp thế giới thông qua các trung tâm tài chính lớn như London, New York, Tokyo, Zurich, Frankfurt, Hong Kong, Singapore, Paris và Sydney.

Foreign Trade Mutiplier / Nhân Tử Ngoại Thương

Tỷ số phản ánh sự thay đổi của thu nhập có được từ sự thay đổi của xuất khẩu so với sự thay đổi của thu nhập.

Foreign Trade Multiplier / Nhân Tử Ngoại Thương

Tỷ số phản ánh sự thay đổi của thu nhập có được từ sự thay đổi cuaer xuất khẩu so với sự thay đổi của thu nhập. Chẳng hạn, nếu một nước có giá trị xuất khẩu tăng lên là 100 triệu đôla, thu nhập quốc dân sẽ tăgn lên với một lượng bội số của của cón số này cho đến khi tất cả các dòng ra (hay sự rút tiền ra) trong nền kinh tế, tức là tiết kiệm, nhập khẩu và thuế cộng lại bằng 100 triệu đôla. Trong vòng đầu tiên, các yếu tố trong ngành xuất khẩu sẽ nhận được một sự gia tăng về thu nhập là 100 triệu đôla. Trong số này có một phần bị mất đi dưới dạng là thuế, một phần dùng để nhập khẩu, một phần phần sẽ tiết kiệm và chỉ có phần nào được sử dụng để mua hàng hóa sản xuất trong nước mới tạo ra thêm thu nhập vì đây mới là cầu đối với các nguồn lực trong nước. Trong vòng thứ hai, thu nhập sẽ được phan phối theo cách tương tự và chỉ có phần được tiêu dùng cho hàng háo trong nước mới tạo thêm thu nhập. Nhân tử ngoại thương chẳn qua chỉ là một nhân tử thông thường và coi xuất khẩu là số bị nhân và công thức của nó vẫn là: Trong đó K là nhân tử và MPC là xu hướng tiêu dùng biên hàng hóa được sản xuất trong nước. Cũng có thể coi K là nghịch đảo của tất cả các xu hướng rút tiền biên, nghĩa là:  Trong đó MPS là xu hướng tiết kiệm biên, MPPT là xu hướng trả thuế biên, nghĩa là một bộ phận trong phần tăng thêm của thu nhập dùng để trả thuế và MPM là xu hướng nhập khẩu biên.  Nhân tử ngoại thương có vai trò trong cơ chế cân bằng của cán cân thanh toán. Một sự gia tăng về xuất khẩu có tác dụng cải thiện cán cân thanh toán sẽ tạo ra những lực dây chuyền có xu hướng đảo ngược sự cải thiện này, vì trong số thu nhập tăng lên do nhân tử mang lại sẽ có phần gia tăng của nhập khẩu, trong khí đó, các nước nhập khẩu nhiều hơn sẽ bị giảm sút về thu nhập và điều này rốt cuộc sẽ dẫn đến giảm sút về nhập khẩu, và do vật có xu hướng khôi phục lại sự cân bằng thông qua tác động cảu cả hai phía. Nhân tử ngoại thương cũng góp phần giải thích sự lan truyền quốc tế của quá trình bùng nổ và suy thoái. Một sự giảm sút về thu nhập trong một nước nhập khẩu chủ yếu sẽ dẫn đến sự giảm sút nhập khẩu của nước này và đay chính là một phần xuất khẩu của nước khác. Nước này bị giảm sút về thu nhập, sau đó nhập khẩu và có tể tác động đến nước ban đầu hay một nước thứ ba nào đó. Quá trình này sẽ tiếp tục cho đến khi sự giảm sút của nhận tố tạo ra thu nhập ở nước đầu tiên có suy thoái cân bằng với sự giảm sút trên toàn thế giới.

Executive / Người Điều Hành

Là một cá nhân chịu trách nhiệm đối với một mặt hay khía cạnh nào đó trong các hoạt động của một hãng.

Foreign Reserve/ Foreign Exchange Reserve / Dự Trữ Ngoại Hối

Trong Cẩm nang Cán cân Thanh toán Quốc tế, IMF định nghĩa Dự trữ ngoại hối là toàn bộ tài sản bằng ngoại hối sẵn sàng sử dụng để can thiệp, thể hiện trên bảng cân đối tiền tệ của Ngân hàng Trung ương. Hầu hết các quốc gia duy trì và quản lý dự trữ ngoại hối nhằm phục vụ các mục tiêu cơ bản sau: - Thực hiện chính sách tiền tệ và chính sách tỷ giá. - Duy trì tính thanh khoản của thị trường ngoại hối để hạn chế tác động tiêu cực trong trường hợp xảy ra khủng hoảng tài chính. - Là tài sản dự trữ để duy trì lòng tin về khả năng đảm bảo thanh toán nghĩa vụ nợ nước ngoài của nền kinh tế, khả năng hỗ trợ giá trị của đồng nội tệ, thể hiện khả năng đảm bảo tài chính của quốc gia góp phần thu hút đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp nước ngoài. - Dự trữ cho các trường hợp khẩn cấp và thảm họa mang tính quốc gia. Trong các mục tiêu trên, ưu tiên hàng đầu của dự trữ ngoại hối dành cho việc thực hiện chính sách tiền tệ và chính sách tỷ giá, hạn chế tác động khủng hoảng tiền tệ (nếu có). Tại những nước áp dụng cơ chế tỷ giá thả nổi có quản lý, dự trữ ngoại hối được sử dụng để hạn chế sự biến động của tỷ giá. Do vậy, công tác quản lý dự trữ ngoại hối thường được giao cho NHTW là cơ quan hoạch định và thực thi chính sách tiền tệ quốc gia thực hiện. Qua thống kê tình hình quản lý dự trữ ngoại hối của 82 quốc gia và vùng lãnh thổ (SBV: 2007), cho thấy có tới 78 nước, chiếm 95% các nước giao NHTW trực tiếp quản lý dự trữ ngoại hối, chỉ một vài quốc gia là có sự tham gia quản lý dự trữ ngoại hối của Bộ Tài chính hay Quỹ đầu tư như Canada, Anh, Nhật. Tuy nhiên, ở các nước này, NHTW vẫn là cơ quan trực tiếp thực hiện các nghiệp vụ quản lý dữ trữ ngoại hối. Theo báo cáo IMF (2007) về cơ quan quản lý và sở hữu dự trữ ngoại hối, có bốn hình thức quản lý: (1) NHTW sở hữu và quản lý; (2) Chính phủ sở hữu và quản lý; (3) Chính phủ sở hữu nhưng NHTW quản lý tài sản có; (4) Chính phủ và NHTW đồng sở hữu dự trữ, nhưng NHTW quản lý tài sản có. Trong đó, đa phần ở các nước, NHTW hoặc các cơ quan tiền tệ là người sở hữu dự trữ ngoại hối và quản lý dự trữ dưới dạng một phần tài sản trong bảng cân đối. Chỉ có hai nước (Nhật Bản và Mỹ), dự trữ ngoại hối do chính phủ sở hữu và quản lý. Với hình thức dự trữ ngoại hối do chính phủ sở hữu nhưng NHTW quản lý, có 3 nước (Canada, Hongkong và Anh), dự trữ do chính phủ sở hữu và do đại lý quản lý. ở Canada, dự trữ do chính phủ sở hữu nhưng NHTW Canada và Bộ Tài chính đồng quản lý; ở Anh, Bộ Tài chính sở hữu dự trữ, NHTW Anh quản lý theo các hạn mức của Bộ Tài chính; và ở Hồng Kông, Cơ quan tiền tệ Hồng Kông quản lý dự trữ nhưng do chính phủ sở hữu. Với hình thức dự trữ ngoại hối do chính phủ/NHTW đồng sở hữu và NHTW quản lý như Hàn Quốc, Estonia, Barbados, Bahrain. • Tại Hàn Quốc, NHTW cùng với Bộ Tài chính và Kinh tế nắm giữ dự trữ ngoại hối, NHTW quản lý tất cả dự trữ trước khi Công ty Đầu tư Hàn Quốc thành lập năm 2005. • Tại Estonia, NHTW điều hành quản lý dự trữ ngoại hối do NHTW sở hữu, trong khi đó, NHTW cung cấp dịch vụ quản lý đối với phần dự trữ do Bộ Tài chính sở hữu. • Tại Barbados, Bahrain: NHTW và chính phủ cùng sở hữu và quản lý dự trữ ngoại hối. Theo cả 4 hình thức này, NHTW là cơ quan quản lý trực tiếp việc sử dụng dự trữ ngoại hối để can thiệp ngoại hối trên thị trường ngoại hối trong nước và đầu tư dự trữ ngoại hối trên thị trường quốc tế trừ trường hợp của Mỹ và Nhật. Tại Nhật, Bộ Tài chính chịu trách nhiệm về chính sách tỷ giá và quản lý dự trữ ngoại hối. Tuy nhiên, can thiệp ngoại hối do NHTW Nhật thực hiện thay mặt cho Bộ Tài chính. Tại Mỹ, Bộ Tài chính quản lý Quỹ bình ổn hối đoái nhưng hoạt động can thiệp ngoại hối được thực hiện thông qua Ngân hàng Dự trữ liên bang New York. Quy mô dự trữ ngoại hối Dự trữ ngoại hối có vai trò quan trọng trong việc can thiệp thị trường ngoại hối nhằm thực hiện chính sách tiền tệ và chính sách tỷ giá. Việc duy trì một mức dự trữ ngoại hối vừa đủ là cần thiết nhằm bảo vệ giá trị đồng nội tệ, hạn chế sự biến động quá mức của tỷ giá hối đoái, đáp ứng nhu cầu ngoại tệ của nền kinh tế, chống đỡ khủng hoảng kinh tế và tài chính. Điều này là phù hợp đối với mọi nền kinh tế, nhưng sẽ đặc biệt quan trọng hơn đối với các nền kinh tế đang phát triển bắt đầu thực hiện mở cửa, tự do hoá các giao dịch vốn quốc tế. Tuy nhiên, nếu dự trữ ngoại hối quá lớn sẽ làm phát sinh chi phí cho việc nắm giữ dự trữ ngoại hối do lợi nhuận thu được từ đầu tư dự trữ ngoại hối thường thấp hơn chi phí đi vay vốn nước ngoài. Do vậy, các quốc gia hiện nay đều quan tâm đến việc xác định mức dự trữ ngoại hối vừa đủ, phù hợp với quy mô của nền kinh tế, tình hình tự do hoá cán cân vãng lai và cán cân vốn nhằm đảm bảo khả năng thanh toán quốc tế, bảo vệ giá trị đồng tiền, cân bằng giữa lợi ích điều hành chính sách tiền tệ và chi phí của việc nắm giữ dự trữ ngoại hối. Thông thường, mức dự trữ ngoại hối vừa đủ được xác định theo nguyên tắc: mức dự trữ ngoại hối của một nước cần tương đương từ 3 đến 6 tháng nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ của nước đó. Với các nước tự do hoá tài khoản vốn hay có chế độ tỷ giá linh hoạt có sự kiểm soát của Nhà nước như Việt Nam, nếu chỉ sử dụng nguyên tắc so sánh mức dự trữ ngoại hối với 3 đến 6 tháng nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ sẽ không thích hợp vì các nước này phải đối mặt với rủi ro đảo chiều một cách đột ngột của các luồng vốn ngắn hạn như luồng vốn đầu tư gián tiếp (Nguyễn Thị Nhung, Tạp chí Ngân hàng: 12/2007). Thông thường, các nước này cần có một lượng dự trữ ngoại hối lớn hơn để sẵn sàng can thiệp khi xảy ra hiện tượng rút vốn và chuyển tiền ồ ạt ra nước ngoài. Với các nước có mức độ đô la hoá cao, chỉ số lượng tiền rộng (M2) và số ngoại tệ gửi tại hệ thống ngân hàng so với dự trữ ngoại hối cũng được xem xét đến nhằm đánh giá khả năng đáp ứng nhu cầu ngoại hối của NHTW khi có hiện tượng rút ngoại tệ ồ ạt của người cư trú và khả năng can thiệp để bình ổn tỷ giá. Với các nước có mức dự trữ ngoại hối vượt mức dự trữ ngoại hối vừa đủ và đã tương đối tự do hoá tỷ giá, để nâng cao hiệu quả quản lý dự trữ ngoại hối theo hướng đa dạng hoá loại hình đầu tư và ưu tiên mục tiêu sinh lời, có thể trích một phần dự trữ ngoại hối giao cho công ty hoặc quỹ đầu tư để đầu tư sinh lợi một cách thuần tuý (không sử dụng để can thiệp) như Hàn Quốc, Trung Quốc. Tuy nhiên, với các nước này, phần lớn dự trữ ngoại hối vẫn do NHTW trực tiếp đầu tư, quản lý để đảm bảo khả năng can thiệp khi cần thiết. Cụ thể với NHTW Hàn Quốc, công tác quản lý dự trữ ngoại hối được coi là một trong những hoạt động quan trọng nhất của NHTW. NHTW cần duy trì dự trữ ngoại hối ở mức ít nhất đảm bảo đủ để can thiệp duy trì sự ổn định không gây ra những biến động lớn trên thị trường ngoại hối cũng như toàn bộ thị trường tài chính và nền kinh tế, có thể chống đỡ các cú sốc từ bên ngoài và duy trì sức mạnh kinh tế của quốc gia. Với Trung Quốc, quy mô dự trữ ngoại hối đã vượt xa các chỉ tiêu theo thông lệ quốc tế và hiện đang đứng đầu thế giới về quy mô dự trữ ngoại hối. Nguồn bổ sung dự trữ ngoại hối là từ thặng dư cán cân vãng lai nên có tính ổn định hơn đối với các nước bổ sung dự trữ ngoại hối từ thặng dư của cán cân vốn. Mọi biến động trong cơ cấu dự trữ cũng như quy mô dự trữ ngoại hối đều được NHTW các nước quan tâm. Gần đây, để nâng cao hiệu quả đầu tư dự trữ, Trung Quốc dự định phát hành trái phiếu để tách khoảng 200 - 300 tỷ USD cho Công ty Đầu tư Nhà nước (CIC) để đầu tư thuần tuý. Với Việt Nam, theo các qui định hiện hành, cơ quan quản lý dự trữ ngoại hối là Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Việt Nam nhằm thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia, bảo đảm khả năng thanh toán quốc tế. Cụ thể: - Theo qui định tại khoản 2, Điều 38 Luật NHNN: "NHNN quản lý dự trữ ngoại hối nhà nước (dự trữ ngoại hối NN) của nước CHXHCN Việt Nam theo quy định của Chính phủ nhằm thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia, bảo đảm khả năng thanh toán quốc tế, bảo toàn dự trữ ngoại hối nhà nước." - Theo khoản 1, Điều 34 Pháp lệnh Ngoại hối: "NHNN Việt Nam quản lý dự trữ ngoại hối NN theo quy định của Chính phủ nhằm thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia, bảo đảm khả năng thanh toán quốc tế và bảo toàn dự trữ ngoại hối nhà nước." - Theo Điều 1, Nghị định số 86/1999/NĐ-CP: "NHNN là cơ quan quản lý dự trữ ngoại hối NN nhằm thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia, bảo đảm khả năng thanh toán quốc tế, bảo toàn dự trữ ngoại hối nhà nước." - Theo điểm 1.6, mục 1, chương II, Thông tư số 35/2006/TT-BTC về chế độ tài chính của NHNN: "NHNN quản lý chặt chẽ quỹ dự trữ ngoại hối NN theo quy định của pháp luật, sử dụng cho mục tiêu thực hiện chính sách tiền tệ và đảm bảo khả năng thanh toán quốc tế. Định kỳ hàng quý, báo cáo Thủ tướng Chính phủ và Bộ Tài chính tình hình sử dụng quỹ dự trữ ngoại hối nhà nước." Để đánh giá qui mô dự trữ ngoại hối của Việt Nam hiện đang ở mức độ nào và liệu Việt Nam đã đến lúc cần xem xét tách một phần dự trữ để đầu tư sinh lời thuần tuý như một số nước trong khu vực hay chưa, chúng ta cần xem xét đến mức độ mở cửa của nền kinh tế và tính toán một số chỉ tiêu về dự trữ ngoại hối. Theo Pháp lệnh Ngoại hối được ban hành ngày 13/12/2005, cán cân vãng lai của Việt Nam đã hoàn toàn được tự do hoá. Ngoài ra, theo quy định tại Pháp lệnh Ngoại hối và Nghị định 160/2006/NĐ-CP ngày 28/12/2006, các giao dịch vốn từng bước được tự do hoá. Cụ thể: - Với vay vốn nước ngoài, chỉ các khoản vay trung, dài hạn của tổ chức mới phải đăng ký tại NHNN và mở rộng vay vốn nước ngoài đối với cá nhân là người cư trú. NHNN quản lý thông qua tổng hạn mức vay vốn nước ngoài của các tổ chức kinh tế và cá nhân và hoạt động đăng ký khoản vay nước ngoài tại NHNN. - Với hoạt động cho vay ra nước ngoài, Pháp lệnh cho phép người cư trú là Tổ chức kinh tế thực hiện khi được phép của Thủ tướng Chính phủ; Tổ chức kinh tế thực hiện theo quy định của NHNN, các khoản cho vay của Chính phủ hay các tổ chức được Nhà nước, Chính phủ uỷ quyền thực hiện theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ. - Với đầu tư gián tiếp, cho phép nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào thị trường chứng khoán theo một tỷ lệ nhất định và được nới lỏng theo thời gian. NHNN chỉ giám sát thông qua tài khoản vốn đầu tư gián tiếp bằng đồng Việt Nam. - Với đầu tư trực tiếp, các hạn chế về việc chuyển đổi ngoại tệ đã được xoá bỏ, NHNN chỉ giám sát thông qua tài khoản vốn đầu tư trực tiếp bằng ngoại tệ trong đó quy định các nội dung thu, chi của tài khoản này. - Với hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài, người cư trú được phép sử dụng ngoại tệ sẵn có của mình hay đi mua hoặc đi vay để đầu tư sau khi được phép của cơ quan có thẩm quyền về việc đầu tư ra nước ngoài. Do các giao dịch vốn đã tương đối được tự do hoá nên NHTW cần phải mua ngoại tệ cho dự trữ ngoại hối khi các luồng vốn đổ vào Việt Nam để duy trì sức cạnh tranh của hàng xuất khẩu và phải bán ra khi đến hạn trả nợ hay có hiện tượng đảo chiều của các luồng vốn ngắn hạn của các nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán. Bên cạnh đó, với mức độ đô la hoá tương đối cao của Việt Nam, dự trữ ngoại hối cũng phải gia tăng để đảm bảo can thiệp khi có hiện tượng rút ngoại tệ ồ ạt tại các ngân hàng thương mại. Hiện tượng đô la hoá (theo số tương đối) hiện nay có xu hướng giảm do hoạt động đầu tư vào thị trường chứng khoán gia tăng mạnh mẽ. Cụ thể, chỉ số tiền gửi ngoại tệ/M2 của Việt Nam hiện đang ở mức 22,3% vào cuối năm 2005, 20,9% cuối năm 2006 và ở mức khoảng 19,5% vào cuối tháng 6 năm 2007. Tuy nhiên, do M2 tăng nhanh nên tiền gửi ngoại tệ theo số tuyệt đối vẫn tăng trong thời gian qua. Việc hội nhập kinh tế toàn cầu đi đôi với chính sách tự do hoá vãng lai, từng bước nới lỏng giao dịch vốn, một mặt, đem lại những thuận lợi như thúc đẩy hoạt động đầu tư trong nước, nâng cao mức tăng trưởng kinh tế, cải thiện mức sống của người dân, mặt khác, cũng chứa đựng những rủi ro tiềm ẩn. Hiện nay, cán cân thương mại thường xuyên thâm hụt, đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, đặc biệt là đầu tư gián tiếp chưa thực sự bền vững nên thị trường ngoại hối cũng tạo nên sự bất ổn định về cung cầu ngoại tệ trên thị trường. Thực tế cho thấy, nhiều nước tự do hoá tài khoản vốn quá nhanh đã phải đối mặt với khủng hoảng tài chính nặng nề khi có hiện tượng chuyển vốn đột ngột ra nước ngoài với khối lượng lớn của các nhà đầu tư nước ngoài. Với các nước tự do hoá tài khoản vốn, thường thì NHTW phải can thiệp mua ngoại tệ tăng dự trữ đi đôi với việc thực hiện các nghiệp vụ của thị trường mở để hút bớt lượng tiền đã bơm vào lưu thông để vừa duy trì khả năng cạnh tranh của hàng xuất khẩu và kiềm chế nguy cơ lạm phát khi luồng vốn đổ vào với khối lượng lớn. Bên cạnh đó, NHTW cũng phải sẵn sàng bán ngoại tệ ra để can thiệp khi có sự rút vốn ồ ạt của các nhà đầu tư để ổn định thị trường ngoại hối. Để làm được điều này, NHTW các nước phải dự trữ một lượng ngoại tệ không nhỏ ngoài mức đủ để đáp ứng các nhu cầu nhập khẩu theo thông lệ quốc tế.

Sách Combo 4 Cuốn : Tư Duy Ngược + Tư Duy Mở + Biến Mọi Thứ Thành Tiền Chuột không dây Ugreen M751 với con lăn vô cực Máy chơi game retro Powkiddy X55