Thuật Ngữ Kinh Tế

A B C D E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Z Tất cả

Stop Order / Lệnh Dừng

Lệnh dừng là lệnh để mua hoặc bán một lọai cổ phiếu ngay khi giá thị trường đat được một mức cụ thể nào đấy, gọi là mức giá dừng. Khi giá thị trường đạt tới điểm này thì lệnh dừng của bạn trở thành một lệnh thị trường (market order). Có hai loại lệnh dừng là lệnh mua và lệnh bán. Các nhà đầu tư thường sử dụng lệnh mua để hạn chế bị lỗ và bảo toàn các khoản lãi khi thực hiện bán non (short sale). Mức giá dừng của lệnh bán thường cao hơn mức giá hiện tại của thị trường. ngược lại lệnh mua sẽ giúp các nhà đầu tư giảm thiểu tổn thất và bảo toàn các khoản lãi mà họ sẽ phải gánh chịu hoặc có được nểu như giá cổ phiếu tiếp tục hạ. Mức giá dừng của lệnh bán thường thấp hơn mức giá hiện tại của thị trường. Ưu điểm của loại lệnh này là bạn không cần ngày nào cũng phải để mẳt tới các biến động của cổ phiếu. Tuy nhiên hạn chế của nó là khi mức giá thị trường đạt tới mức giá dừng mà bạn đề ra thì lệnh dừng của bạn sẽ trở thành lệnh thị trường, nhưng mức giá mà tại đó lệnh của bạn đựơc thực hiện thì có thể khác rất nhiều so với mức giá dừng này bởi vì giá cả thay đổi rất nhanh chóng trong một thị trường đầy biến động như hiện nay. Để tránh các rủi ro có thể gặp phải đối với lệnh dừng thì bạn có thể đưa ra lệnh hỗn hợp (stop-limit order).

Full Cost Pricing / Định Giá Theo Chi Phí Đầy Đủ

Quy tắc định giá theo đó các công ty tính thêm phần lợi nhuận ròng vào chi phí đơn vị trong khi việc tính chi phí đơn vị thì bao gồm tất cả các chi phí.

Expatriate / Chuyên Gia (Từ Các Nước Phát Triển)

Là thuật ngữ chung để chỉ người mang quốc tịch nước ngoài, thường dùng để chỉ những người từ CÁC NƯỚC PHÁT TRIỂN đến làm việc tại CÁC NƯỚC KÉM PHÁT TRIỂN.

Stop-Limit Order / Lệnh Dừng Giới Hạn

Lệnh dừng giới hạn là một lệnh kết hợp cả đặc tính của lệnh giới hạn (limit order ) và lệnh dừng (stop order). Lệnh dừng giới hạn sẽ được thực hiện ở một mức giá cụ thể sau khi giá thị trường đạt tới mức giá dừng (stop price). Khi mà giá thị trường đạt tới mức giá dừng (stop price) thì lệnh dừng giới hạn sẽ trở thành lệnh giới hạn mua hoặc bán một loại cổ phiếu tại mức giá giới hạn hoặc mức giá tốt hơn. Ưu điểm chính của lệnh dừng giới hạn là bạn có thể kiểm soát một cách chính xác lệnh của bạn sẽ được thực hiện như thế nào. Tuy nhiên nhược điểm của nó cũng giống với nhược điểm của các lệnh giới hạn khác đó là lệnh của bạn sẽ không được thực hiện nếu như loại chứng khoán mà bạn định mua hay bán không đạt được tới mức giá giới hạn (limit price). Lệnh dừng là lệnh mà chỉ được thực hiện khi giá thị trường của chứng khoán đạt tới một mức nhất định. Lệnh giới hạn là lệnh được thực hiện ở mức giá cụ thể hoặc là tốt hơn. Với việc liên kết hai loại lệnh này thì mức độ chính xác trong thực hiện các giao dịch của các nhà đầu tư sẽ cao hơn. Nhưng vì lệnh dừng sẽ chỉ được thực hiện ở mức giá thị trường ngay sau khi giá thị trường đạt tới mức giá dừng (stop price) nên vẫn có khả năng lệnh của bạn sẽ được thực hiện không theo ý muốn vì thị trường thay đổi rất nhanh chóng. Lệnh dừng giới hạn thường được áp dụng đối với cổ phiếu được mua bán trên sàn giao dịch hơn là tại thị trường OTC. Một số nhà môi giới sẽ không chấp nhận thực hiện lệnh dừng giới hạn với một số loại chứng khoán, đặc biệt là chứng khoán trên thị trường OTC. Ví dụ : giả sử rằng cổ phiếu của công ty ABC đang được mua bán với mức giá là 30 đôla/cổ phiếu và có một nhà đầu tư đã đặt lệnh hỗn hợp đễ mua loại cổ phiếu này với mức giá dừng là 35 đôla/cổ phiếu và mức giá giới hạn là 37 đôla/cổ phiếu. Nếu như cổ phiếu của công ty ABC lện trên mức giá 35 đôla/cổ phiếu thì lệnh của bạn sẽ chuyển thành lệnh giới hạn. Chừng nào mà mức giá của cổ phiếu này trện thị trường còn dưới mức 37 đôla/cổ phiếu thì lệnh của bạn sẽ được thực hiện. Tuy nhiên nếu như mức giá này vượt ngưỡng 37 đôla/cổ phiếu thì lệnh của bạn sẽ không được thực hiện nữa.

Full Cost / Chi Phí Đầy Đủ

Tại bất kỳ mức sản lượng nào, chi phí đầy đủ là tổng chi phí khả biến trung bình, chi phí cố định trung bình và phần lợi nhuận ròng.

Expansionary Phase / Giai Đoạn Bành Trướng; Giai Đoạn Tăng Trưởng

Là một giai đoạn trong CHU KỲ KINH DOANH tiếp theo sau một điểm thấp nhất của chu kỳ và kéo dài đến điểm tiếp theo cao nhất của chu kỳ.

Store Of Value / Giá Trị Lưu Trữ

Những công cụ có giá trị lưu trữ bao gồm hàng hóa, tiền tệ hoặc các loại vốn khác có thể giao dịch và có thể được lưu trữ để sử dụng trong tương lai. Thực ra đây không phải là một thuật ngữ mới, nhưng rất ít người chú ý. Nó là một thành phần cơ bản của hệ thống kinh tế bởi nó cho phép thương mại có thể xảy ra. Một ví dụ về giá trị lưu trữ là tiền tệ, có thể được đổi lấy hàng hoá và dịch vụ. Nếu giá trị của tiền tệ trở nên không thể đoán trước, chẳng hạn như trong thời kỳ lạm phát phi mã, nhà đầu tư và người tiêu dùng sẽ chuyển sang các hình thức khác như vàng, bạc, đá quý, bất động sản. Trong những trường hợp như thế, một số loại tài sản có giá trị lưu trữ đã chứng minh được tính nhất quán của chúng theo thời gian, đó là vàng, bạc, bất động sản. Giá vàng thường sẽ tăng vọt khi một cú sốc tài chính tác động đến cả thị trường, vì khi đó nhu cầu cho các giá trị lưu trữ đã được công nhận rộng rãi khác tăng lên. Trong khi giá trị tương đối của các tài sản này biến động theo thời gian, chúng vẫn có thể được tính cao hơn để giữ lại một khoản giá trị trong mọi trường hợp, đặc biệt là trong những trường hợp nguồn cung hữu hạn như vàng.

Ft-Se 100 / Ft-Se 100

Một chỉ số giá của 100 cổ phiếu quan trọng nhất được niêm yết tại Sở giao dịch chứng koán London, Chỉ số này được đưa ra vào năm 1984 với chỉ số giá gốc là 1000, bởi vì lúc đó người ta có cảm giác rằng Chỉ số công nghiệp của báo Financial Times bị thiên lệch quá nhiều về phía các công ty thuộc nghành chế tạo.

Story Stock / Cổ Phiếu Tiềm Năng

"Story Stock" là cổ phiếu mang lại thu nhập tiềm năng trong tương lai, và tiềm năng được dự đoán trên cơ sở tin cậy. "Story" trong thuật ngữ này mang nghĩa là câu chuyện của công ty, có thể là lịch sử, là quá trình hoạt động, những đột phá những bước ngoặt hoặc những triển vọng của công ty, thậm chí có thể là câu chuyện về người sáng lập. Chính những câu chuyện này tạo nên những dự báo tốt cho tình hình hoạt động của công ty trong thời gian sắp tới và kéo theo kỳ vọng về sự tăng trưởng thu nhập từ cổ phiếu của công ty cũng tăng và cổ phiếu của công ty lúc đó gọi là "Story stock". Chính vì vậy việc nắm giữ cổ phiếu tiềm năng thể hiện sự mong đợi của các nhà đầu tư về một kết quả tốt đẹp sáng sủa của công ty trong tương lai hơn là thu nhập hiện tại từ cổ phiếu này. Tuy nhiên cổ phiếu tiềm năng rất "kén" người mua, tức là chỉ có nhà đầu tư nào hiểu rất rõ về quá trình phát triển cũng như tin tưởng vào triển vọng của công ty trong thời gian tới thì mới dám đầu tư vào loại cổ phiếu này. Họ phải là nhà đầu tư nắm rõ những "câu chuyện công ty" đằng sau cổ phiếu này và công ty phát hành loại cổ phiếu này cũng thường hoạt động trong các lĩnh vực đặc biệt. Lấy ví dụ điển hình như công ty công nghệ sinh học (biotech conpany) đang trong giai đoạn cuối sáng chế ra phương thuốc trị bệnh ung thư, rõ ràng khả năng để "phương thuốc ước vọng của cả nhân loại" này trở thành sự thật là rất lớn, và các nhà đầu tư kỳ vọng trong thời gian ngắn phương thuốc này sẽ được tung ra thị trường và kéo theo giá cổ phiếu công ty sẽ tăng vùn vụt (skyrocketing). Crystallex Corp., một tập đoàn khai thác và sản xuất vàng của Canada với các hoạt động khai thác chủ yếu ở Venezuela, vào tháng 11-2006 đã tung ra công bố về một tin tức mới, đó là công ty sẽ bắt tay vào việc khai thác mỏ vàng mới ở Venezuela ngay sau khi có giấy phép về môi trường của Bộ tài nguyên và môi trường. Sự phê chuẩn của Bộ đối với hoạt động của Crystallex là thủ tục cuối cùng và chỉ là việc một sớm một chiều, do vậy các nhà đầu tư đã bắt đầu nhòm ngó và nhanh tay mua cổ phiếu (lúc này trở thành Story Stock) của tập đoàn này. Khi nắm cổ phiếu tiềm năng trong tay công việc của các nhà đầu tư là ngồi chờ Bộ cấp giấy phép, sau đó chứng kiến Crystallex chính thức khai thác mỏ vàng và cuối cùng được chia sẻ thu nhập khổng lồ từ hoạt động mới mang lại.

Expansion Path / Đường Bành Trướng; Đường Mở Rộng

Liên quan đến HÃNG, đây là đường nối các lựa chọn yếu tố đầu vào ở mỗi mức sản lượng như trong đồ thị, nghĩa là quỹ tích của cấc tiếp điểm giữa ĐƯỜNG ĐẲNG PHÍ và ĐƯỜNG ĐẲNG LƯỢNG.

FTSE 100 / Chỉ Số FTSE 100

Chỉ số FTSE 100 (đọc là footsie) là chỉ số cố phiếu của 100 công ty có giá trị vốn hóa lớn nhất được niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Luân Đôn (LSE), được bắt đầu từ ngày mùng 3 tháng 1 năm 1984, với điểm sàn là 1000. Các công ty thành phần phải đáp ứng các yêu cầu của FTSE Group, bao gồm việc đã niêm yết toàn diện trên sàn LSE với giá được tính theo đồng bảng Anh hoặc đồng Euro trên SETS (Stock Exchange Electronic Trading Service), vượt qua các kiểm tra về quốc tịch, mức độ biến động giá tự do (free float) và tính thanh khoản. Giao dịch được tiến hành từ 8:00 đến 16:29 (khi phiên đấu giá cuối cùng bắt đầu), và giá đóng cửa được lấy lúc 16:35 (mặc dù hầu hết giá đóng cửa của FTSE 100 được lấy lúc 16:36). Giá trị cao nhất của chỉ số FTSE 100 tính đến thời điểm này là 6950,6 điểm, đạt được ngày 30 tháng 12 năm 1999. Chỉ số được xem như phong vũ biểu của nền kinh tế Anh và là chỉ số cổ phiếu hàng đầu ở châu Âu. Nó được duy trì bởi FTSE Group, một công ty độc lập mà ban đầu là kết quả của sự liên doanh giữa Financial Times và LSE (FTSE chính là viết tắt của Financial Times Stock Exchange). Theo website của FTSE Group, 100 công ty FTSE 100 chiếm đến 80% thị trường chứng khoán ở Anh. Bên cạnh FTSE 100 Index, tập đoàn FTSE giới thiệu tiếp FTSE 250 Index (chỉ số của 250 công ty lớn tiếp theo), FTSE Fledgling, the FTSE 350 Index(tổng hợp của FTSE 100 và FTSE 250), FTSE SmallCap. Cuối cùng là FTSE All-Share, là chỉ số tổng hợp của cả 3 chỉ số FTSE 100 Index, FTSE 250 Index, và FTSE SmallCap. Thành phần của chỉ số này được thay đổi từng quý. Những công ty lớn nhất trong FTSE 250 sẽ được đề cử nếu giá trị vốn hóa thị trường của chúng lọt vào top 90 của FTSE 100. Năm 2006, ngưỡng để được đề cử là 2,9 tỷ bảng Anh. Đến ngày 29 tháng 9 năm 2006, 6 công ty thành phần lớn nhất của chỉ số FTSE 100 là BP, Royal Dutch Shell, HSBC Holdings, the Vodafone Group, the Royal Bank of Scotland Group and GlaxoSmithKline đều có giá trị trên 60 tỷ bảng. Danh sách 100 công ty FTSE 100 cập nhập mới nhất ngày 24, tháng 9 năm 2007. 3iAlliance & LeicesterAnglo AmericanAntofagastaAssociated British FoodsAstraZenecaAvivaBAE SystemsBG GroupBHP BillitonBPBT GroupBarclays BankBarratt DevelopmentsBritish AirwaysBritish American TobaccoBritish Energy GroupBritish Land CompanyBritish Sky Broadcasting GroupCable & WirelessCadbury SchweppesCapita GroupCarnivalCarphone WarehouseCentricaCompass GroupDSG InternationalDaily Mail and General TrustDiageoEnterprise InnsExperianFriends ProvidentGlaxoSmithKlineHBOSHSBCHammersonHome Retail GroupICAPITVImperial Chemical IndustriesImperial TobaccoInterContinental Hotels GroupInternational PowerINVESCOJohnson MattheyKazakhmysKingfisherLand Securities GroupLegal & GeneralLiberty InternationalLloyds TSBLonminMan GroupMarks & SpencerMitchells & ButlersWm Morrison SupermarketsNational GridNextNorthern RockOld MutualPearsonPersimmonPrudentialPunch TavernsReckitt BenckiserReed ElsevierRentokil InitialResolutionReuters GroupRexamRio Tinto GroupRolls-Royce GroupRoyal & Sun Alliance InsuranceRoyal Bank of Scotland GroupRoyal Dutch ShellSABMillerSage GroupJ SainsburySchrodersScottish & NewcastleScottish & Southern EnergySevern TrentShire Pharmaceuticals GroupSmith & NephewSmiths GroupStandard Chartered BankStandard LifeTate & LyleTaylor WimpeyTescoTullow OilUnileverUnited UtilitiesVedanta ResourcesVodafoneWPP GroupWhitbreadWolseleyXstrataYell Group

Straits Times Index / Chỉ Số Straits Times

Chỉ số Straits Times là chỉ số chứng khoán tính dựa trên giá trị thị trường của các cổ phiếu của 30 công ty đại diện được niêm yết trên Sàn giao dịch chứng khoán Singapore. Chỉ số Straits Times được xây dựng bởi công ty Singapore Press Holdings, Sàn giao dịch chứng khoán Singapore và Giáo sư Tse Yiu Kuen thuộc Đại học Quản lí Singapore. Chỉ số được kiểm tra lại ít nhất 1 lần trong 1 năm. Năm 2005, sau một lần kiểm tra, số cổ phiếu được chọn đã tăng từ 45 lên 50 cổ phiếu. Sự thay đổi này đã khiến giá trị giao dịch hàng ngày trung bình của các cổ phiếu thuộc chỉ số giảm xuống chỉ còn 60%, nhưng tổng giá trị vốn hóa thị trường của các cổ phiếu được tính tăng lên chiếm 75%.

F-Statistic / Thống Kê F

Thống kê tuân theo phân phối F. Thường được sử dụng để kiểm định ý nghĩa chung của một tập hợp các biến giải thích trong phân tích hồi quy.

Securitization / Chứng Khoán Hóa

Chứng khoán hóa (chuyển thành chứng khoán) là quá trình tập hợp và tái cấu trúc các tài sản thiếu tính thanh khoản nhưng lại có thu nhập cao bằng tiền trong tương lai như các khoản phải thu, các khoản nợ chuyển đổi thành trái phiếu, hay gọi chung là chứng khoán và đưa ra giao dịch trên thị trường. Nói một cách dễ hiểu, chứng khoán hóa là việc chuyển các thể thức tín dụng thành thể thức chứng khoán, phát hành trong công chúng tạo điều kiện thuận lợi cho việc mua bán của các nhà đầu tư. Thông thường kỹ thuật chứng khoán hóa được thực hiện trên hai nhóm tài sản chủ yếu: (1) các khoản vay được thế chấp bằng bất động sản và (2) các tài sản tài chínhkhông được thế chấp bằng bất động sản; và từ đó hình thành tương ứng hai loại chứng khoán: 1. Chứng khoán dựa trên thế chấp bất động sản (Mortgage backed securities) được hình thành từ chuyển đổi các khoản vay có tài sản thế chấp, khi đó công ty phát hành, chủ nợ thứ nhất, sẽ chuyển giao toàn bộ giấy tờ thế chấp cho nhà đầu tư mua trái phiếu này. Loại trái phiếu này tuy có độ an toàn cao hơn, vì có vật đảm bảo khoản vay, nhưng lãi suất lại thấp hơn so với chứng khoán tài sản tài chính. Thực chất với những trái phiếu gắn liền với tài sản thế chấp này thì có đủ điều kiện để xem đó là một thương vụ bán tài sản. Người bán không còn chịu rủi ro thua lỗ từ số tài sản sau khi đã chuyển đổi và không phải chịu trách nhiệm với người mua vì người vay bị vỡ nợ hay có sự thay đổi giá thị trường về tài sản đó.   2. Chứng khoán tài sản tài chính (Asset backed securities- ABS) được hình thành từ việc chuyển đổi các khoản phải thu, như phải thu từ tín dụng, từ cho vay mua ô tô, vay để xây nhà, để tiêu dùng cho gia đình...Ngân hàng hay những tổ chức cho vay sẽ chuyển những khoản phải thu này thành trái phiếu, bán cho các nhà đầu tư để thu về nhanh chóng các khoản nợ đó. Về phía các nhà đầu tư, khi cầm chứng khoán này trong tay họ sẽ trở thành chủ nợ mới và có quyền đòi cả gốc và lãi khi giấy nợ đã đến hạn. Tuy nhiên với những khoản nợ không có tài sản thế chấp thì độ rủi ro khi cầm chứng khoán rất cao vì có thể sẽ không đòi lại được khoản nợ này.  Ở châu Âu chứng khoán hóa đã cứu các tập đoàn viễn thông khỏi nguy cơ phá sản khi họ đã khôn ngoan chuyển các khoản doanh thu tương lai của các thuê bao cố định thành các ABS. Nhờ vậy mà công ty này có một khoản tiền đáng kể để trang trải cho các món nợ khổng lồ- hậu quả của việc chạy đua tranh giành quyền cung cấp dịch vụ điện thoại di động thế hệ 3G. Đặc biệt là ở Hàn Quốc và Trung Quốc chứng khoán hóa đã giúp Chính phủ các quốc gia này vừa giải quyết được nợ xấu và vừa bổ sung hàng hóa cho thị trường chứng khoán.

Theo định nghĩa của các nước thuộc khối OECD đưa ra năm 1995, chứng khoán hóa là việc phát hành các chứng khoán có tính khả mại được đảm bảo không phải bằng khả năng thanh toán của chủ thể phát hành, mà bằng các nguồn thu dự kiến có được từ các tài sản đặc biệt. Nhân tố quyết định chất lượng của chứng khoán phát hành là khả năng sinh lời của các tài sản dùng làm tài sản đảm bảo, chứ không phải là nhà phát hành. Kết quả của quá trình chứng khoán hóa là các tài sản có tính thanh khoản kém thành chứng khoán - một loại hàng hóa được giao dịch trên thị trường vốn. Quá trình chứng khoán hóa được thực hiện theo nguyên tắc trung gian thanh toán (Pay-Through Structure) như sau: Các thuật ngữ: Chủ tài sản ban đầu - Originator: Là bên “bán” tài sản cho Pháp nhân đặc biệt (chuyển tất cả các quyền liên quan đến tài sản). Chủ tài sản ban đầu thường tiếp tục làm dịch vụ quản lý tài sản cho Pháp nhân đặc biệt để hưởng phí quản lý. Pháp nhân đặc biệt - Special Purpose Entity / Vehicle: Được thiết lập để thực hiện chức năng chuyển hóa các tài sản có tính thanh khoản kém thành các chứng khoán có thể mua bán, chuyển nhượng tự do trên thị trường. Nhờ nghiệp vụ tách riêng các tài sản và tái cấu trúc các luồng tiền, Pháp nhân đặc biệt có thể phát hành nhiều loại chứng khoán chuyển hóa khác nhau để đáp ứng nhu cầu đa dạng của người đầu tư về thời gian đáo hạn, tỷ suất sinh lời và mức độ rủi ro. Trong quá trình tạo tính thanh khoản cho các tài sản, Pháp nhân đặc biệt có thể nhận được sự hỗ trợ từ bên ngoài thông qua cơ chế tăng cường tín nhiệm và hỗ trợ tăng tính thanh khoản. Pháp nhân đặc biệt có thể được thành lập dưới dạng một quỹ ủy thác hoặc công ty cổ phần, trong đó bên quản lý quỹ hoặc Hội đồng quản trị của công ty cổ phần là đại diện chịu trách nhiệm bảo vệ quyền lợi cho người đầu tư. Pháp nhân đặc biệt dùng nguồn thu từ phát hành chứng khoán để “mua” lại tài sản từ chủ tài sản ban đầu. tài sản sau khi được mua vẩn do chủ tài sản điều phối theo hợp đồng quản lý tài sản giữa pháp nhân đặc biệt và chủ tài sản ban đầu, toàn bộ thu nhập có được từ tài sản sẽ được chưyển cho pháp nhân đặc biệt để cân đối chi trả lợi tức cho người đầu tư. Tài sản chuyển hóa: Tất cả những tài sản có thể tách ra quản lý riêng và có khả năng sinh lời có thể dự đoán được và không phụ thuộc vào các tài sản khác, đều có thể được “bán” (chuyển hóa) trong quá trình chứng khoán hóa, bao gồm: Tài sản cầm cố bao gồm tài sản thuộc quyền sở hữu cá nhân hoặc tổ chức được dùng để thế chấp (như nhà, đất, xưởng sản xuất, máy móc) Các loại tài khoản chính thức khác như các khoản phải thu của ngân hàng, gồm các khoản phải thu từ cho vay tiêu dùng (để mua xe, thẻ tín dụng, ...), các khoản phải thu từ cho vay doanh nghiệp, tài sản cho thuê tài chính, các khoản đầu tư cho các dự án (trong đó có dự án phát triển cơ sở hạ tầng), và các khoản cho vay khác... Hiện nay, khái niệm về tài sản chuyển hóa được mở rộng ra cho bất cứ tài sản tài chính nào đáp ứng được yêu cầu về tách biệt quản lý và khả năng sinh lời độc lập, như thu nhập từ các dự án đầu tư, các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng... Chứng khoán chuyển hóa. Chứng khoán chuyển hóa là các loại chứng khoán được Pháp nhân đặc biệt phát hành trong quá trình tách riêng tài sản và tái cấu trúc các luồng tiền. Căn cứ trên tài sản chuyển hóa được dùng làm tài khoản đảm bảo cho chứng khoán chuyển hóa, chứng khoán chuyển hóa được chia làm hai loại: chứng khoán đảm bảo bằng tài sản cầm cố (Mortgage- Backed Securities - MBS) và chứng khoán đảm bảo bằng tài sản tài chính (Asset - Backed Securities - ABS) Chứng khoán chuyển hóa chủ yếu là các loại chứng khoán nợ như trái phiếu, tín phiếu... Tuy nhiên, tùy theo từng điều kiện cụ thể mà Pháp nhân đặc biệt cũng có thể phát hành cổ phiếu ưu đãi hoặc các loại chứng khoán vốn khác. Nguyên tắc phát hành chứng khoán chuyển hóa: Pháp nhân đặc biệt thường là đầu mối tập trung dòng tiền từ nhiều loại tài sản chuyển hóa khác nhau. Xuất phát từ đặc điểm của chứng khoán chuyển hoá (không nhất thiết phải có một tài sản cụ thể nào đó để đảm bảo), Pháp nhân đặc biệt có thể kết hợp tùy ý các tài sản chuyển hóa để phát hành một hay nhiều loại chứng khoán chuyển hoá, miễn là thỏa mãn được nguyên tắc: Tổng các lượng tiền vào có được từ thu nhập do các tài sản chuyển hóa mang lại, phải bằng tổng các luồng tiền ra để thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho các chứng khoán đã phát hành (như chi phí tài chính, chi phí quản lý tài sản, chi phí để tăng mức tín nhiệm...). Mặc dù việc quản lý và điều phối chặt chẽ các dòng tiền ra và vào là khâu mấu chốt cho quá trình chuyển tài sản có tính thanh khoản kém thành chứng khoán có tính thanh khoản cao hơn, Pháp nhân đặc biệt vẫn hoàn toàn có thể chủ động trong quá trình kết nối người đầu tư với tài sản chuyển hoá, tạo nên tính đa dạng và biến hóa khôn lường của chứng khoán chuyển hóa. Lợi ích của chứng khoán hoá Đối với các bên chủ đầu tư dự án: Đối với phần vốn đi vay trong vốn đầu tư cho dự án xây dựng cơ sở hạ tầng, chứng khoán hóa là cơ hội để giảm chi phí trả lãi vay và tăng hiệu quả sinh lời của dự án. Đối với phần vốn tự có được dùng đầu tư vào dự án, chứng khoán hóa là một biện pháp giúp chủ đầu tư nâng cao vòng quay vốn. Vấn đề này cực kỳ quan trọng đối với những công ty chuyên đầu tư vào cơ sở hạ tầng, vì so với biện pháp phát hành cổ phiếu hoặc trái phiếu để gọi vốn cho một dự án mới, việc “bán” đi phần vốn tự có trong các dự án đã tiến hành xong giai đoạn cơ bản thông qua quá trình chứng khoán hoá sẽ đơn giản hơn, tiết kiệm dược thời gian và chi phí phát hành. Chứng khoán hoá mở ra khả năng huy động vốn cho hoạt động xây ựng cơ sở hạ tầng, ngay cả khi dự án mới chỉ ở “trên giấy”. Các hợp đồng hoặc cam kết chắc chắn đảm bảo hiệu quả kinh tế cho hoạt động của dự án khi đi vào vận hành, đều có khả năng biến thành tài sản có giá - hàng hoá trên thị trường tài chính. Đối với người đầu tư: Có thêm một công cụ đầu tư mới với suất sinh lợi cao hơn trái phiếu Chính phủ và độ tin cậy tương đối ổn định. Tính thanh khoản của chứng khoán đảm bảo bằng tài sản tài chính (chứng khoán ABS) khá cao nên người đầu tư có thể dễ dàng tham gia giao dịch trên thị trường giao dịch tập trung. Chứng khoán ABS là một công cụ hữu hiệu cho nghiệp vụ phòng ngừa rủi ro, đặc biệt là cho nhà đầu tư cổ tức. Giảm thiểu được rủi ro có thể ảnh hưởng đến mức độ tín nhiệm của chủ thể phát hành, do tính chất của chứng khoán ABS là chỉ phụ thuộc vào “chất lượng” của tài sản chuyển hóa.

Một thuật ngữ khác dùng để chỉ sự từ bỏ đi vay qua trung gian, mô tả việc tài trợ những nhu cầu tiền tệ của công ty trực tiếp thông qua thị trường vốn và thông qua việc sử dụng các công cụ như hối phiếu, chấp thuận của ngân hàng và phát hành trái phiếu thay vì vay từ các ngân hàng thương mại.

Exogenous Variable / Biến Ngoại Sinh

Là một biến số mà giá trị của nó không được xác định trong mô hình kinh tế, nhưng lại đóng vai trò quan trong trong việc xác định giá trị của các biến nội sinh.

Front-End Load, Back-End Load / Phí Gia Nhập, Phí Rút Vốn

Phí gia nhập (front-end load) là một khoản hoa hồng hoặc phí giao dịch được tính vào lần đầu tiên tiến hành mua một khoản đầu tư, thường là cổ phần quĩ tương hỗ. Khoản phí này được khấu trừ trực tiếp vào giá trị khoản đầu tư, và do đó, nó làm giảm qui mô khoản đầu tư đó. Phí gia nhập được cộng vào giá cổ phiếu quĩ tương hỗ khi tính toán giá phát hành. Phí rút vốn (back-end load) là khoản phí mà nhà đầu tư phải trả khi bán cổ phần trong quĩ tương hỗ. Phí rút vốn chỉ tồn tại và giảm dần trong một khoảng thời gian nhất định (thường là 7 năm kể từ khi góp vốn), sau thời gian này, thành viên quĩ tương hỗ được tự do rút vốn mà không phải trả khoản phí này. Như vậy, nếu xác định đầu tư lâu dài, nhà đầu tư sẽ không phải lo lắng gì về khoản phí này, tuy nhiên nếu quyết định rút vốn sớm, nhà đầu tư có thể sẽ phải chịu một mức phí khá cao. Các khoản phí này thường chỉ có ý nghĩa như một khoản hoa hồng, bù đắp cho các chi phí phát sinh. Tuy nhiên, những người bán cổ phiếu quĩ đầu tư thì lại cho rằng đây là phí mà nhà đầu tư trả cho các chuyên gia vì những lựa chọn đầu tư đúng đắn của họ. Ngoài ra, các loại phí này còn có chức năng ổn định quĩ, khi nó hạn chế việc các thành viên liên tục vào/ra. Ở Anh, phí rút vốn còn được gọi là "exit charge" - phí đào thoát, còn ở Canada là "deferred sales charge".

Exogenous / (Thuộc) Ngoại Sinh

Là một cụm thuật ngữ miêu tả bất kỳ cái gì được quy định hoặc cho trước của một phân tích kinh tế.

Friedman, Milton / 1912-2006

Được phong là giáo sư kinh tế tại trường Đại học Chicago năm 1948 và là người lãnh đạo của TRƯỜNG PHÁI CHICAGO.Ông được tặng giả Nobel kinh tế năm 1976. Các tác phẩm chủ yếu của ông về kinh tế họ gồm: Đánh thuế để phòng ngừa lạm phát (1953), Lý thuyết về yếu tố tiêu dùng (1957), Lý thuyết về giá cả (1962), Lịch sử tiền tệ của Mỹ 1867-1960, Những nguyên nhân và hậu quả của lạm phát (1963). Friedman là người đi tiên phong trong việc phát triển tư tưởng về VỐN NHÂN LỰC và công trình của ông về hàm tiêu dùng đã đưa đến việc hình thành GIẢ THIẾT THU NHẬP SUỐT ĐỜI. Lập trường phương pháp luận KINH TẾ HỌC THỰC CHỨNG, hệ tư tưởng tự do và việc xây dựng nên TỶ LỆ THẤT NGHIỆP TỰ NHIÊN của ông đã góp phần chỉ ra các hạn chế của các chính sách ỔN ĐỊNH HOÁ của trường phái Keynes. Cùng với Anna Schwartz, ông đã viết nên một lịch sử tiền tệ đồ sộ của Mỹ góp phần cung cấp cơ sở cho việc phát triển LÝ THUYẾT ĐỊNH LƯỢNG TIỀN TỆ và làm sống lại sự tin tưởng vào các học thuyết trước Keynes vào sự ổn định tự động của hệ thống kinh tế. Ông đã mở rộng PHƯƠNG TRÌNH FISHER để bao hàm các biến như của cải, lãi suất và tỷ lệ lạm phát, giá cả dự kiến và điều này đã dẫn đến sự phát triển của văn chương theo chủ nghĩa trọng tiền về kinh tế học vĩ mô.

Strategic Business Unit / SBU / Đơn Vị Kinh Doanh Chiến Lược

Đơn vị kinh doanh chiến lược là một đơn vị kinh doanh thuộc một tổ chức kinh doanh, nhưng phân biệt với các đơn vị khác bởi vì đơn vị này phục vụ một thị trường bên ngoài xác định vì vậy SBU có sứ mệnh, mục tiêu và chiến lược kinh doanh riêng (đội ngũ quản lí có thể tiến hành các kế hoạch chiến lược liên quan tới sản phẩm và thị trường). Với các công ty có quy mô thực sự lớn, việc áp dụng các đơn vị kinh doanh chiến lược được cho là rất có ý nghĩa. Một SBU có thể là một bộ phận, một sản phẩm riêng biệt, hoặc trọn một dây chuyền sản xuất. Khi các doanh nghiệp trở nên lớn, việc vận hành sản xuất kinh doanh thường chậm chạp, khó điều chỉnh, phức tạp và khó tập trung, mọi người bị dãn xa nhau. Chính vì vậy SBU có khách hàng và đối thủ xác định sẽ tự đề ra kế hoạch độc lập cho mình. Các đơn vị này đủ lớn và đồng nhất để thực hiện và kiểm soát các nhân tố chiến lược ảnh hưởng tới hoạt động của họ. Các đơn vị này được quản lí theo kiểu thực hiện riêng các chiến lược mà không liên quan đến bộ phận khác trong tổ chức. Một đơn vị kinh doanh chiến lược có thể bao trùm toàn bộ công ty hoặc đơn giản chỉ là một phần nhỏ công ty lập nên để thực hiện một nhiệm vụ cụ thể. SBU có chiến lược kinh doanh riêng, mục tiêu riêng và đối thủ cạnh tranh của mình và những thứ này thường khác so với của toàn công ty. Tổ chức của SBU bị quyết định bởi nhu cầu của thị trường. Ví dụ, Alpha Processor, Inc có đơn vị kinh doanh chiến lược là API Networks nhằm thúc đẩy thị trường hạ tầng Internet và tận dụng ưu thế của việc tăng cầu đối với phần cứng băng thông rộng và các giải pháp phần mềm. Nói tóm lại, SBU có các đặc điểm sau:- Là đợn vị kinh doanh riêng- Có đối thủ cạnh tranh riêng- Có người quản lí và chịu trách nhiệm riêng đối với hoạt động- Là một mảng được đưa ra kế hoạch riêng trong tổ chức.

Frictional Unemployment / Thất Nghiệp Do Chờ Chuyển Nghề

Thường được hiểu là THẤT NGHIỆP TÌM KIẾM, nghĩa là số lượng thất nghiệp tương ứng với chỗ khuyết việc làm trên cùng một loại việc làm và THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG ĐỊA PHƯƠNG.

Sách Combo 4 Cuốn : Tư Duy Ngược + Tư Duy Mở + Biến Mọi Thứ Thành Tiền Chuột không dây Ugreen M751 với con lăn vô cực Máy chơi game retro Powkiddy X55