Executing Futures Trade / Tiến Hành Các Giao Dịch Futures
Các lệnh gửi đến sàn giao dịch của sở giao dịch Mỹ thường được khớp lệnh bằng cách đấu giá mở (open outcry). Điều này có nghĩa là mọi lệnh đặt bán hoặc đặt mua sẽ được thông báo công khai trong một quá trình đấu giá được gọi là quá trình hình thành giá (price discovery). Điều này cũng có nghĩa là quá trình giao dịch có thể sẽ rất căng thẳng. Tuy nhiên, hoạt động mua và bán ngày càng được giải quyết nhiều hơn bằng hệ thống giao dịch điện tử mà các sở giao dịch đang áp dụng và phát triển, một phần nhằm duy trì hàng hoá trên các sở giao dịch này có tính cạnh tranh với hàng hoá trên các sở giao dịch futures nước ngoài là nơi mà các giao dịch điện tử liên tục đã được xây dựng và thực hiện từ trước. Đôi khi hệ thống điện tử của một sở giao dịch hoạt động đặt theo từng phiên đấu giá mở, nhưng hệ thống giao dịch bằng máy tính thường mở cửa hoạt động theo các múi giờ. Ví dụ, hệ thống giao dịch dự án A tại Hội đồng giao dịch Chicago mở cửa 22 giờ một ngày và thường thực hiện khối lượng giao dịch lớn nhất là vào khoảng từ 5h30 đến 7h19 phút sáng, vào lúc mà không có phiên đấu giá mở nào.
Search Engine Optimization - Seo / Tối Ưu Hóa Công Cụ Tìm Kiếm
SEO là thuật ngữ dùng để chỉ một tập hợp các phương pháp nhằm nâng cao thứ hạng của một website trong các trang kết quả của các công cụ tìm kiếm và có thể được coi là một tiểu lĩnh vực của tiếp thị qua công cụ tìm kiếm. Thuật ngữ SEO cũng có thể được dùng để chỉ những người làm công việc tối ưu hóa công cụ tìm kiếm, là những nhà tư vấn đưa ra những dự án tối ưu hóa cho các website của khách hàng. Một số người phân loại SEO thành: "SEO mũ trắng" - các phương pháp bình thường như xây dựng nội dung website và nâng cao chất lượng của nó, và "SEO mũ đen" - dùng các thủ đoạn như cloaking và spamdexing. Những "người mũ trắng" buộc tội những "người mũ đen" đã dùng những thủ đoạn không công bằng để thay đổi thứ hạng của công cụ tìm kiếm, trong khi những "người mũ đen" thì coi mọi phương pháp nhằm thay đổi thứ hạng đều giống nhau. Các công cụ tìm kiếm hiển thị một số dạng danh sách trong trang kết quả tìm kiếm (SERP) bao gồm danh sách trả tiền, danh sách quảng cáo, dánh sách trả tiền theo click và danh sách tìm kiếm miễn phí. Mục tiêu của SEO chủ yếu hướng tới việc nâng cao thứ hạng của danh sách tìm kiềm miễn phí theo một số từ khóa nhằm tăng lượng và chất của khách viếng thăm đến trang. SEO đôi khi là một dịch vụ độc lập hay là một phần của dự án tiếp thị và có thể rất hiệu quả ở giai đoạn phát triển ban đầu và giai đoạn thiết kế website.
Ex-Dividend Date / Ngày Giao Dịch Không Hưởng Quyền
Vào ngày này nếu nhà đầu tư tiến hành mua/bán cổ phiếu của công ty thì không có quyền nhận cổ tức. Những nhà đầu tư nào sở hữu hoặc mua cổ phiếu trước ngày này thì có quyền nhận cổ tức, nhưng người nào bán cổ phiếu đi trước ngày giao dịch không hưởng quyền thì sẽ mất quyền nhận cổ tức. Sau ngày giao dịch không hưởng quyền mà nhà đầu tư bán cổ phiếu ra thì vẫn còn quyền nhận được cổ tức nhưng nếu mua vào thì không có quyền nhận cổ tức nữa.Trong ngày này thị giá của cổ phiếu sẽ bị pha loãng một lượng bằng với tỉ lệ chi trả cổ tức.
Foreign Investment / Đầu Tư Nước Ngoài
Thường chỉ là đầu tư của một nước khác do các công ty hay cá nhân tiến hành và khác với viện trợ chính phủ.
Foreign Exchange Trading - Forxex - FX / Kinh Doanh Ngoại Hối
Kinh doanh ngoại hối là việc mua đi bán lại các đồng tiền của các quốc gia khác nhau, mục tiêu là kiếm được lợi nhuận từ các khỏan chênh lệch giữa chúng.Nó gần giống với kinh doanh chứng khoán tuy nhiên Kinh doanh ngoại hối có những đặc điểm đặc trưng sau:1. Cho phép sử dụng đòn bẩy trong kinh doanh, và bạn có thể mua khống, bán khống.2. Có độ thanh khoản rất cao, chỉ trong 1/10s, giao dịch của bạn đã được thực hiện!3. Người kinh doanh có thể kiếm lợi trong cả hai trường hợp điều kiện thị trường đang lên hoặc xuống.4. Bạn có thể kinh doanh 24/24 giờ vì đây là thị trường toàn cầu.
Ex-Dividend / Không Có Cổ Tức
Thuật ngữ này được dùng khi thời khoảng giữa thông báo có cổ tức và chi trả cổ tức kế tiếp. Nhà đầu tư mua cổ phần trong thời khoảng này sẽ không có cổ tức. Giá chứng khoán sẽ tăng theo số cổ tức khi thời điểm không có cổ tức đến gần và sau đó sẽ giảm theo số cổ tức sau thời điểm đó.
Foreign Exchange Reserves / Quỹ Dự Trữ Bình Ổn Hối Đoái
Quỹ dự trữ hối đoái là tập hợp những quỹ tiền bằng các đồng ngoại tệ khác nhau được ngân hàng trung ương và các tổ chức tiền tệ nắm giữ. Ngoại tệ ở đây có thể là đồng đô la, euro, yên và chúng là tài sản của ngân hàng trung ương. Chính phủ hoặc các thể chế tài chính dùng chúng để mua lại các khoản nợ, như mua nội tệ và các khoản tiền gửi dự trữ của ngân hàng thương mại tại ngân hàng trung ương. Trước đây, dự trữ ngoại hối chỉ ở dưới dạng vàng, ví dụ như quỹ dự trữ vàng quốc gia. Nhưng dưới chế độ hệ thống tỷ giá Bretton Woods, Mỹ đã cố định giá trị của đồng đô la so với vàng và cho phép chuyển đổi từ đô la ra vàng. Do được đảm bảo bằng vàng, người ta bắt đầu dùng đôla để dự trữ.Nhưng sau đó Mỹ bỏ tiêu chuẩn vàng của đô la , tuy nhiên đồng đô la vẫn được người ta thừa nhận và nó vẫn là một đồng tiền quan trọng dùng trong dự trữ quốc gia. Ngày nay, không chỉ có đôla mà các đồng tiền có thể tự do chuyển đổi đều được các ngân hàng trung ương sử dụng trong dự trữ ngoại hối của mình. Mục đích Ở hệ thống tỷ giá thả nổi, dự trữ hối đoái cho phép ngân hàng trung ương mua lại đồng nội tệ ,thay đổi tài sản để trả nợ. Như vậy dự trữ hối đoái là phương tiện để ngân hàng trung ương ổn định đồng nội tệ chống lại những thay đổi quá mức, bảo vệ hệ thống tiền tệ quốc gia chống lại các cú shock tiền tệ. Dự trữ càng lớn được xem là càng mạnh.Nó giúp chính phủ dễ dàng mua lại nội tệ bất cứ lúc nào cần. Dự trữ ít hoặc dữ trữ bị giảm đi là dấu hiệu cho thấy quốc gia đó sắp xảy ra một cuộc khủng hoảng tiền tệ. Đôi khi Ngân hàng trung ương cho rằng nắm giữ một lượng dự trữ ngoại tệ lớn là một thước đo an toàn. Điều này chỉ đúng khi ngân hàng trung ương dùng ngoại tệ làm chỗ dựa cho vị thế đồng nội tệ. Nhưng thường thì một lượng dự trữ ngoại tệ qúa lớn không phải là một tấm chắn tốt để chống lạm phát nhưng lại khá tốt trong trường hợp chính phủ sử dụng một chính sách đối nghịch: Mua vào một lượng lớn ngoại tệ để giữ cho đồng tiền của mình yếu hơn so với các đồng tiền tương quan. Một quốc gia có một lượng dự trữ lớn sẽ có khả năng điều khiển thị trường tiền tệ. Như vậy,một mặt chính phủ có thể gây ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái. Mặt khác , việc nắm giữ lượng ngoại tệ lớn cũng phải đánh đổi một chi phí cơ hội lớn. Các tổn thất ngân sách (quasi-fiscal costs) của việc nắm giữ qúa nhiều dự trữ ngoại tệ xuất hiện khi tiền lời mà họ nhận được từ các khỏan dự trữ thấp hơn chi phí trung bình họ phải trả cho các chứng khoán nợ đã phát hành. Thêm nữa chính phủ quốc gia nhiều nước thường phải gánh chịu những tổn thất to lớn trong việc quản lý danh mục ngoại tệ dự trữ. Khi khủng hoảng tiền tệ xảy ra và tất cả dự trữ ngoại hối được tung ra hết. Cuối cùng nó lại trở thành chi phí ngân sách. Thậm chí nếu không xảy ra khủng hoảng tiền tệ, thì quốc gia vẫn tốn chi phí ngân sách, giống như nó đã từng xảy ra ở Trung Quốc trong 2 năm 2005 và 2006, khi Trung Quốc nắm giữ một lượng rất lớn tài sản bằng đồng USD nhưng đồng nhân dân tệ lại không ngừng tăng giá . Mức dự trữ ngoại hối của các quốc gia Tính đến cuối năm 2004, 66% các quốc gia trên thế giới công bố dự trữ ngoại hối bằng đồng đô la Mỹ và 25% bằng đồng Euro Những tổ chức tiền tệ có dự trữ hối đoái lớn nhất năm 2007 Ngân hàng trung ương/Tổ chức tiền tệ Tỷ đôla (tính đến cuối tháng) Trung Quốc $ 1066 (Tháng 12)1 Nhật Bản $ 905 (Tháng 2) Nga $ 317 (9 tháng 3)2 Đài Loan $ 268 (Tháng 2) Hàn Quốc $ 243 (Tháng 2) Ấn Độ $ 194 (9 tháng 3)3 Singapore $ 139 (Tháng 2) Hồng Kông, Trung Quốc $ 136 (Tháng 2) Đức $ 113 (Tháng 1) Braxin $ 106 (13 tháng 3)4 Chú thích 1: Số liệu của Trung Quốc tính theo từng quý Chú thích 2: số liệu của Nga tính theo hàng tuần và hàng tháng Chú thích 3: số liệu của Ấn độ tính theo tuần Chú thích 4: số liệu của Brazil tính theo từng ngày Tất cả dự trữ của những nước này chiếm hơn 50% tổng dự trữ ngoại tệ của thế giới.
SDR - Special Drawing Right / Quyền Rút Vốn Đặc Biệt
SDR là một dạng tiền dự trữ quốc tế, được IMF tạo ra vào khoảng những năm cuối của thập kỉ 60. SDR đóng vai trò như một nhân tố bổ sung cho những dạng dữ trữ (vàng, đôla) sẵn có ở các quốc gia. SDR được tạo ra để làm giảm bớt nỗi lo về những hạn chế của vàng và đôla với vai trò độc tôn trong việc thanh toán các tài khoản quốc tế, SDR được thiết kế để làm tăng thêm tính lỏng quốc tế bằng việc bổ sung thêm cho những loại tiền tệ dự trữ tiêu chuẩn. SDR có thể được coi là một loại tiền tệ "nhân tạo" và được định nghĩa như là "chiếc rổ tiền tệ của các đồng tiền quốc gia." Bởi vì IMF sử dụng một số loại tiền tệ chính để tính giá trị cho SDR. Hiện tại có 4 loại tiền trong rổ đó là: đồng euro, đồng Bảng Anh, Yen Nhật, và Đôla Mỹ. Số lượng tiền của mỗi loại được tính trong rổ phụ thuộc vào tầm quan trọng của đồng tiền đó trong hệ thống tiền tệ và tài chính thế giới. Việc xác định số lượng của mỗi đồng tiền được Ban Quản trị IMF quyết định 5 năm 1 lần: 1981–1985: USD 42%, DEM 19%, JPY 13%, GBP 13%, FRF 13% 1986–1990: USD 42%, DEM 19%, JPY 15%, GBP 12%, FRF 12% 1991–1995: USD 40%, DEM 21%, JPY 17%, GBP 11%, FRF 11% 1996–2000: USD 39%, DEM 21%, JPY 18%, GBP 11%, FRF 11% 2001–2005: USD 45%, EUR 29%, JPY 15%, GBP 11% 2006–2010: USD 44%, EUR 34%, JPY 11%, GBP 11% IMF sử dụng đồng SDR cho mục đích thanh toán sổ sách. SDRs được IMF phân bổ cho các nước thành viên và được bảo đảm bằng sự tín nhiệm tuyệt đối của chính phủ các nước này. Một số công ước quốc tế còn sử dụng đồng SDR làm giới hạn trách nhiệm bồi thường cho người chuyên chở trong trường hợp tổn thất đối với hàng hoá xảy ra. Như Công ước Warsaw.
Foreign Exchange / Ngoại Hối
Đồng tiền - tiền tệ nước ngoài - được sử dụng trong thanh toán thương mại quốc tế giữa các quốc gia . Giao dịch ngoại hối là phương tiện qua đó thiết lập giá trị cho hàng hóa tiêu dùng và chế tạo được nhập khẩu hoặc xuất khẩu giữa các quốc gia. Bên cho vay và bên vay giải quyết các nghĩa vụ nợ thương mại quốc tế như: hối phiếu ngân hàng, hối phiếu thương mại, giấy chấp nhận thanh toán của ngân hàng, và thư tín dụng , bằng cách trao đổi những đồng tiền khác nhau với tỷ giá đã thỏa thuận. Kết quả của toàn bộ giao dịch thương mại quốc tế này giúp các đinh chế tài chính tích lũy những đồng tiền dự trữ khác nhau, từ việc thanh toán khoản vay với những nhà vay nước ngoài, và cũng từ thương mại xuất nhập khẩu cung cấp vốn thay mặt của khách hàng.
Foreign Direct Investment / FDI / Đầu Tư Trực Tiếp Nước Ngoài
Đầu tư trực tiếp nước ngoài là hình thức nhà đầu tư (cá nhân hoặc tổ chức) để đạt được quyền kiểm soát doanh nghiệp ở nước ngoài. Hoạt động FDI tạo ra công ty mẹ và công ty con từ đó hình thành ra tập đoàn xuyên quốc gia. Để được gọi là đầu tư trực tiếp nước ngoài, vụ đầu tư phải đủ lớn để nắm quyền kiểm soát công ty ở nước ngoài. Liên hợp quốc xác định rằng để làm được việc đó, công ty mẹ phải sở hữu 10% hoặc hơn số cổ phiếu thường hoặc quyền biểu quyết của công ty được đầu tư. Nếu ít hơn số đó thì gọi là đầu tư gián tiếp. Nếu phân chia theo mục đích đầu tư thì FDI được chia làm 4 loại chính: Đầu tư mới - Greenfield Investment : nhằm xây dựng nhà máy mới hoặc mở rộng nhà máy/dây chuyền hiện có. Mua lại và sáp nhập - Merger & Acquisition : Công ty đầu tư mua luôn tài sản của doanh nghiệp nước ngoài. Đầu tư theo chiều ngang - Horizontal FDI: Đầu tư trong cùng ngành công nghiệp Đầu tư theo chiều dọc - Vertical FDI: Đầu tư vào công ty chuyên cung cấp đầu vào sản xuất, hoặc chuyên bán đầu ra cho sản phẩm Phân loại theo mục tiêu FDI nhằm tìm kiếm nguồn lực - Resource-seeking: Đầu tư nhằm đạt được dây chuyền sản xuất và các nguồn lực khác như lao động rẻ hoặc tài nguyên thiên nhiên, mà những nguồn lực này không có ở được đi đầu tư. Đây là FDI thường đầu tư vào các nước đang phát triển như tài nguyên dầu mỏ ở Trung Đông hay vàng, kim cương ở Châu Phi, lao động rẻ ở Đông Nam Á. FDI tìm kiếm thị trường Market-seeking: Đầu tư nhằm thâm nhập thị trường mới hoặc duy trì thị trường hiện có. Tìm kiếm hiệu quả - Effficiency-seeking: Đầu tư nhằm tăng cường hiệu quả bằng việc tận dụng lợi thế của tính kinh tế theo quy mô hay phạm vi, hoặc cả hai. Tìm kiếm tài sản chiến lược - Strategic-Asset-Seeking: Đầu tư nhằm ngăn chặn việc bị mất nguồn lực vào tay đối thủ cạnh tranh. Ví dụ, các công ty sản xuất và khai thác dầu mỏ có thể không cần trữ lượng dầu đó ở thời điểm hiện tại, nhưng vẫn phải tìm cách bảo vệ nó để không rơi vào tay đối thủ cạnh tranh.
Exclusion Principle / Nguyên Tắc Loại Trừ.
Là một tiêu chuẩn để chúng ta phân biệt HÀNG HOÁ CÔNG CỘNG và hàng hoá phi công cộng. Khi một người sản xuất hay một người bán có thể ngăn cản một số người nào đó không cho họ mua hàng của mình - nói chung là những người không đủ tiền mua hàng - thì hàng hoá đó được cung cấp theo cách của thị trường.
Scrip Issue / Chuyển Lợi Nhuận Thành Cổ Phiếu
Chuyển lợi nhuận thành cổ phiếu là một thủ thuật về mặt kế toán. Khi một công ty giữ lại lợi nhuận, phần lợi nhuận này sẽ xuất hiện trên bảng cân đối kế toán ở mục "Lợi nhuận chưa phân phối". Nếu công ty tiếp tục làm ăn có lãi thì mức tích lũy này có thể rất cao, vượt xa phần vốn đầu tư trong tổng vốn cổ đông. Ví dụ: một công ty có vốn cổ đông gồm: Vốn đầu tư: (100.000 mệnh giá cổ phiếu x 5000.000 cổ phiếu phát hành) = 500 tỷLợi nhuận chưa phân phối: 2500 tỷ Giả sử rằng giá thị trường của cổ phiếu đó hiện đang là 900.000 d/cp, tương đối "đắt". Lẽ dĩ nhiên là các nhà đầu tư bao giờ cũng ưa chuộng những cổ phiếu có giá vừa phải hơn, và thường "tháo chạy" khi giá lên quá cao. Ban quản trị của công ty này đưa ra quyết đinh phải hạ giá cổ phiếu này xuống để tăng tính hấp dẫn của nó. Một trong những cách mà công ty này có thể sử dụng là chuyển lợi nhuận thành cổ phiếu: công ty sẽ chuyển đổi 500 tỷ lợi nhuận thành 5 triệu cổ phiếu mới, cũng với mệnh giá 100.000 d/cp. Công ty dùng chính 500 tỷ này để thanh toán cho số cổ phiếu mới phát hành, rồi phân phối số cổ phiếu đó cho các cổ đông hiện thời theo tỉ lệ cổ phần mà họ đang nắm giữ. Như vậy mỗi cổ đông sẽ được nhân đôi số cổ phiếu của mình. Sau quá trình chuyển đổi trên, bảng cân đối kế toán của công ty sẽ như sau: Vốn đầu tư: (100.000 mệnh giá cổ phiếu x 10.000.000 cổ phiếu phát hành) = 1000 tỷLợi nhuận chưa phân phối: 2000 tỷ Mỗi cổ đông đã có số cổ phiếu gấp đôi trước đây, nhưng sự thật là tổng vốn cổ đông của công ty không hề thay đổi, vẫn là 3000 tỷ. Giá cổ phiếu sẽ ngay lập tức bị điều chỉnh từ 900.000/cp xuống còn 450.000/cp. Ngoài ra, cổ tức được chia trên mỗi cổ phiếu cũng sẽ giảm theo tỉ lệ tương ứng với số cổ phiếu tăng thêm, để đảm bảo số lãi chia không thay đổi. Việc chuyển lợi nhuận thành cổ phiếu thực ra chỉ là một thủ thuật đánh vào tâm lý nhà đầu tư, tránh giảm giá cổ phiếu khi nó lên quá cao, chứ ít ảnh hưởng đến giá trị thật sự của các khoản đầu tư. Xét cho cùng các cổ đông cũng sẽ vẫn nhận được một mức thu nhập như cũ với số cổ phần nắm giữ của mình.
Foreign Currency Effects / Tác Động Của Ngoại Tệ
Tác động của Ngoại tệ muốn nói đến một khoản lời hoặc lỗ trong đầu tư nước ngoài do sự thay đổi trong giá trị tài sản liên quan tính bằng đơn vị tiền tệ khác với đơn vị tiền tệ mà doanh nghiệp thường dùng cho hoạt động kinh doanh. Khi đồng nội tệ tăng giá đồng nghĩa với kết quả lợi nhuận từ các khoản đầu tư nước ngoài khi cần chuyển đổi sang đồng nội tệ sẽ thấp xuống. Và ngược lại. Đầu tư nước ngoài có thể gặp khó khăn do tác động của tỷ giá và khả năng chuyển đổi của tiền tệ giữa các quốc gia. Một khoản đầu tư giá trị cao trong một quốc gia khác có thể trở thành vô nghĩa nếu đồng tiền của quốc gia đó quá yếu.Trong một số trường hợp, khoản nợ tính bằng đồng ngoại tệ được sử dụng để mua tài sản trong nước đã đưa doanh nghiệp dẫn tới phá sản bởi đồng nội tệ giảm giá quá nhanh hoặc đồng ngoại tệ được dùng trong khoản nợ lên giá quá nhiều.
Exclusion / Loại Trừ
Là một tình trạng mà người tiêu dùng "bị loại trừ" không được mua một loại hàng hoá nào đó vì giá mà người đó sẵn sàng trả thấp hơn giá thị trường.
Screening Hypothesis / Giả Thiết Sàng Lọc
Lập luận rằng giáo dục ít có tác động trực tiếp đến hiệu quả tăng năng suất lao động mà giáo dục chủ yếu đóng vai trò của một bộ lọc, hay thiết bị sàng lọc mà nhằm phát hiện ra những tài năng sẵn có, sự bền trí, động cơ mà người sử dung lao động thấy hấp dẫn.
Giả Thiết Sàng Lọc (Screening Hypothesis) là một thuật ngữ trong tài chính. Nó mô tả khái niệm, cơ chế hoặc quy trình cụ thể, được sử dụng trong phân tích, định giá, giao dịch và quản trị rủi ro. Ví dụ: Giả Thiết Sàng Lọc (Screening Hypothesis) có thể dùng trong phân tích báo cáo tài chính hoặc định giá doanh nghiệp, tùy ngữ cảnh. Ứng dụng: hỗ trợ lập báo cáo, phân tích, thẩm định và ra quyết định tài chính. Khi áp dụng, cần lưu ý đến bối cảnh pháp lý và thị trường để hiểu đúng.
Scitovsky Reversal Criterion / Tiêu Chí Nghịch Đảo Scitovsky
Scitovsky lưu ý rằng việc áp dụng kiểm định KALDOR-HICKS có thể dẫn đến quan điểm coi nước B hơn nước A nhưng có khi ở nước B việc áp dụng kiểm định này có thể chỉ ra rằng A tốt hơn B.
Foreign Aid / Viện Trợ Nước Ngoài
Một luồng vốn đổ vào hoặc một sự trợ giúp nào đó cho một nước không do các tác nhân thị trường tự nhiên cung cấp.
Một luồng vốn đổ vào hoặc một sự trợ giúp nào đó cho một nước không do các tác nhân thị trường tự nhiên cung cấp. Có bốn dạng viện trợ chính:Thứ nhất, các khoản cho vay dài hạn phải được thanh toán lại bằng loại ngoại tệ, thường có thể trả trong vòng 10 hoặc 20 năm. Lợi thế đói với người nhận là tiền thanh toán hàng năm ít hơn nhiều so với tiền thanh toán của các khoản cho vay ngắn và trung hạn. Thứ hai là những khoản “vay mềm” có thể được thanh toán lại bằng tiền trong nước. Một số được trả bằng ngoại tệ nhưng trong một thời gian dài chẳng hạn như 99 năm với lãi suất rất thấp, trong khi đó số nợ được thanh toán bằng tiền trong nước sẽ được cho vay lại để nước nhận tiếp tục các công trình phát triển. Đôi khi, trợ cấp trực tiếp được thực hiện. Dạng thứ ba là việc bán các sản phẩm dư thừa cho một nước để đổi lấy việc thanh toán bằng tiền trong nước của nước này như chương trình PL 480 của Mỹ. Điều này có thể rất có ý nghĩa cho một nước chậm phát triển có rất ít ngoại tệ vì nó sẽ giúp những nước này mua được hàng hóa từ nước ngoài. Các nước này thường phải nhập khẩu lương thực, thực phẩm và các hàng tiêu dùng khác vì khu vực nông nghiệp của họ không thể sản xuất ra đủ để nuôi sống công nhân thành thị trong các ngành xây dựng hoặc các công trình đầu tư khác. Dạng thứ tư của viện trợ, không hoàn toàn là một luồng vốn mà là sự trợ giúp về kỹ thuật dành cho các nước chậm phát triển. Lịch sử của Viện trợ nước ngoài Viện trợ nước ngoài khởi đầu bằng hoạt động tái thiết châu Âu sau Thế chiến thứ hai với kế hoạch Marshal và các khoản vay của Ngân hàng Thế giới. Viện trợ phát huy hiệu quả và châu Âu phục hồi nhanh chóng. Xuất phát từ thành công này, các nước giàu đẩy mạnh viện trợ cho các nước nghèo. Hỗ trợ phát triển hay viện trợ nước ngoài trở thành một bộ phận thống nhất của hệ thống tài chính truyền thống: - Chính phủ các nước đang phát triển can thiệp vào hệ thống tài chính để huy động và phân bổ vốn cho các dự án phát triển ưu tiên; - Tuy vậy, thiếu vốn vẫn là trở lực cho các nước đang phát triển; để đạt được một tốc độ tăng trưởng kinh tế cao cần phải duy trì một tỷ lệ đầu tư cao hơn nhiều so với tỷ lệ tiết kiệm trong nước;- Viện trợ nước ngoài cung cấp nguồn lực để bù đắp cho khoản thiếu hụt giữa nhu cầu đầu tư và lượng tiết kiệm nội địa. Những bài học rút ra trong báo cáo “Đánh giá viện trợ” của Ngân hàng Thế giới - Viện trợ tài chính phát huy tác dụng trong một môi trường chính sách tốt - Viện trở hiệu quả bổ sung hay “hút” đầu tư tư nhân - Nghèo khó có thể được giảm rất nhiều nhờ cải thiện các chính sách và thể chế kinh tế, (Những nỗ lực để “mua” hay ép buộc chính sách tốt sẽ thất bại. Cải cách phải do chính quốc gia đó làm chủ) - Giá trị các dự án phát triển là ở chỗ củng cố các thể chế và chính sách để có thể cung cấp các dịch vụ một cách hiệu quả. - Phương pháp tham gia từ dưới lên trong việc thiết kế và chuyển gia dự án tốt hơn phương pháp lập kế hoạch và thực hiện từ trên xuống. - Viện trợ có thể giúp thúc đẩy cải cách trong những môi trường chính sách kém, nhưng chỉ khi các ý tưởng được đề xuất và giữ lại không giải ngân các khoản viện trợ cho đến khi nào có những chính sách tốt hơn được đưa ra.
Foreign Agents Registration Act (FARA) / Luật Đăng Ký Đại Diện Nước Ngoài
Luật đăng ký đại diện nước ngoài được ban hành để chống lại ảnh hưởng quá mức của nước ngoài đối với chính sách của Mỹ. FARA quy định phải công bố công khai các mói quan hệ nhất định giữa các cá nhân và các cơ quan ở Mỹ và các nước liên quan bằng cách gửi báo cáo lên Bộ Tư pháp. Ngoài một số miễn trừ, có bốn loại hoạt động cần phải đăng ký với Bộ Tư pháp khi một cá nhân hoặc công ty đóng tại Mỹ (dù có quốc tịch Mỹ hay không) thực hiện một công việc nhằm phục vụ lợi ích bên ngoài. Thứ nhất là một số hoạt động chính trị nhất định, bao gồm tất cả các nỗ lực gây ảnh hưởng lên chính sách và dư luận Mỹ dưới danh nghĩa, hay thậm chí theo yêu cầu, của cá nhân hoặc cơ quan nước ngoài. Thứ hai, đóng vai trò là người đại diện cho các mối quan hệ của công chúng hay là cố vấn chính trị phục vụ lợi ích của người nước ngoài. Thứ ba, quyên góp hoặc chi tiền hoặc có đóng góp vì lợi ích của người nước ngoài. Cuối cùng là đại diện cho quyền lợi người nước ngoài trong quan hệ của Chính phủ Mỹ. The Language of Trade - 2001
Scitovsky Paradox / Nghịch Lý Scitovsky
Nghịch lý nảy sinh nếu bước chuyển từ phân bổ A sang phân bổ B thể hiện một cải thiện Pareto TIỀM NĂNG nhưng những người chịu thiệt thòi từ bước chuyển này sẽ thu lại từ khi lại chuyển về A để tạo điều kiện cho họ mua chuộc những người được lợi trở lại từ sự phân bổ ban đầu.
Excise Duty / Thuế Tiêu Thụ Đặc Biệt
Thuế tiêu thụ đặc biệt là một loại thuế gián thu, đánh vào một số hàng hóa, dịch vụ thuộc đối tượng chịu thuế theo qui định của luật thuế tiêu thụ đặc biệt. Thuế được cấu thành trong giá cả hàng hóa, dịch vụ và do người tiêu dùng chịu khi mua hàng hóa, sử dụng dịch vụ. - Đối tượng nộp thuế tiêu thụ đặc biệt là các tổ chức, cá nhân (gọi chung là cơ sở) có hoạt động sản xuất, nhập khẩu hàng hóa, kinh doanh dịch vụ thuộc đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt. Cơ sở sản xuất hàng hoá thuộc diện chịu thuế tiêu thụ đặc biệt phải nộp thuế tiêu thụ đặc biệt đối với hàng hoá, dịch vụ này ở khâu sản xuất,khâu nhập khẩu. - Các đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt của các nước qui định tương đối giống nhau gồm: rượu, bia, thuốc lá, xe ô tô, xăng...; kinh doanh cá cược, đua ngựa, đua xe, sòng bạc... bởi vì thông qua chế độ thu thuế tiêu thụ đặc biệt, nhà nước động viên một phần thu nhập đáng kể của người tiêu dùng vào ngân sách nhà nước, nhưng vẫn hạn chế được số lượng người sử dụng (cho những mặt hàng mà Nhà nước không khuyến khích sử dụng). - Thuế tiêu thụ đặc biệt phải nộp được tính theo công thức sau: Thuế TTĐB phải nộp = Số lượng hàng hóa × Giá tính thuế × Thuế suất tiêu thụ đơn vị hàng hóa






