Thuật Ngữ Kinh Tế

A B C D E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Z Tất cả

Free Rider / Người Xài Chùa; Người Ăn Không

Một hiện tượng nảy sinh từ đặc điểm của HÀNG HOÁ CÔNG CỘNG.

Free Reserves / Dự Trữ Tự Do

Các quỹ có ở ngân hàng để cho vay hoặc đầu tư, được xem như chỉ số tín dụng ngân hàng. Dự trữ vượt mức là khoản tiền còn lại sau khi dự trữ bó buộc bị trừ từ số dự trữ Liên bang được gửi ở Ngân hàng Dự trữ liên bang

Các quỹ có ở ngân hàng để cho vay hoặc đầu tư, được xem như chỉ số tín dụng ngân hàng. Dự trữ vượt mức là khoản tiền còn lại sau khi dự trữ bó buộc được trừ từ số dự trữ tiền gởi Ngân hàng dự trữ liên bang. Tổng dự trữ tự do được tính bằng cách lấy dự trữ vượt mức của ngân hàng (hoặc số dư tài khoản dự trữ trên mức dự trữ) trừ đi mọi khoản tiền vay từ Dự trữ Liên bang.

Structural Form / Dạng Cơ Cấu

Dạng của một hệ các PHƯƠNG TRÌNH ĐỒNG THỜI, trong đó các quan hệ nhân quả và định nghĩa giữa các BIẾN NỘI SINH được xem xét.

Structural Unemployment / Thất Nghiệp Cơ Cấu

Thất nghiệp cơ cấu là hiện tượng thất nghiệp xảy ra khi có hiện tượng cung về lao động đúng bằng số cầu về lao động (thậm chí cung còn nhỏ hơn cầu), nhưng người cần việc làm vẫn không được nhận vào làm. Hiện tượng này xảy ra khi các công nhân thiếu các kĩ năng cần thiết cho công việc hoặc bởi vì sự cách biệt về mặt địa lí khiến cung không gặp cầu. Thất nghiệp cơ cấu là hậu quả của thay đổi cấu trúc (tái cơ cấu) nền kinh tế hoặc ngành công nghiệp, ví dụ chuyển sang áp dụng công nghệ sản xuất tiên tiến và dây chuyền hiện đại yêu cầu người lao động phải có kĩ năng cao hơn. Một giải pháp cho vấn đề này là cung cấp hạ tầng để người lao động được đào tạo thêm kĩ năng, từ đó họ có thể làm được công việc yêu cầu. Chính phủ Mỹ hay mở các trường dạy nghề cộng đồng do đó nhiều người có cơ hội được đào tạo kĩ năng và làm việc hiệu quả hơn. Thất nghiệp cơ cấu còn được gọi là thất nghiệp tạm thời.

Tình hình xuất hiện khi dân cư mất việc làm vì có sự thay đổi trong nền kinh tế,làm kĩ năng của họ lỗi thời.

Free Market / Thị Trường Tự Do

Thị trường không có sự can thiệp của chính phủ và tại đó các tác nhân cung và cầu được phép hoạt động tự do.

Thị Trường Tự Do (Free Market) là một thuật ngữ trong tài chính. Nó mô tả khái niệm, cơ chế hoặc quy trình cụ thể, được sử dụng trong phân tích, định giá, giao dịch và quản trị rủi ro. Ví dụ: Thị Trường Tự Do (Free Market) có thể dùng trong phân tích báo cáo tài chính hoặc định giá doanh nghiệp, tùy ngữ cảnh. Ứng dụng: hỗ trợ lập báo cáo, phân tích, thẩm định và ra quyết định tài chính. Khi áp dụng, cần lưu ý đến bối cảnh pháp lý và thị trường để hiểu đúng.

Strutured Product / Sản Phẩm Tài Chính Cấu Trúc

Sản phẩm tài chính cấu trúc là những công cụ đầu tư tổng hợp được tạo ra để đáp ứng nhu cầu không thể thực hiện nếu sử dụng các công cụ tài chính tiêu chuẩn trên thị trường. Các sản phẩm tài chính cấu trúc có thể được sử dụng thay cho đầu tư trực tiếp; như một phần của quá trình phân bổ tài sản nhằm giảm thiểu rủi ro của danh mục đầu tư; hoặc nhằm tận dụng xu hướng thị trường hiện tại. Một sản phẩm tài chính cấu trúc thường là một chiến lược đầu tư "đóng gói" sẵn dựa trên chứng khoán phái sinh (như hợp đồng quyền chọn hoặc swaps), và có thể thực hiện chức năng bảo đảm vốn, bảo vệ các khoản đầu tư nếu khoản đầu tư đó được giữ đến khi đáo hạn. Ví dụ, một nhà đầu tư đầu tư 100 đôla, nhà phát hành sẽ dùng tiền này đầu tư vào loại trái phiếu không có rủi ro với lãi suất hợp lí, sau 5 năm sẽ có giá 100 đôla. Ví dụ, trái phiếu có giá 80 đôla ngày hôm nay, và sau 5 năm nữa sẽ có giá 100 đôla. Với số tiền dôi ra, nhà phát hành mua hợp đồng quyền chọn và swaps để thực hiện chiến lược kinh doanh của mình. Về lí thuyết, một nhà đầu tư có thể tự mình thực hiện vụ này, nhưng chi phí và yêu cầu đối với khối lượng giao dịch của các hợp đồng quyền chọn và swaps vượt xa khả năng nhà đầu tư cá nhân. Nguồn gốc Các khoản đầu tư tài chính cấu trúc phát sinh từ nhu cầu phát hành nợ với giá rẻ của các công ty. Thông thường, một trong những cách để làm việc này là phát hành trái phiếu chuyển đổi, nợ dưới những điều kiện nhất định có thể được chuyển thành cổ phần. Để đổi lấy cơ hội tiềm năng có thu nhập cao hơn (nếu giá trị của cổ phần tăng lên và trái phiếu có thể được chuyển đổi với lãi sinh ra), các nhà đầu tư sẽ chấp nhật mức lãi suất thấp hơn vào thời điểm đó. Tuy nhiên, sự thỏa hiệp này và giá trị thực tế rất gây tranh cãi, bởi vì giá trị cổ phần có thể thay đổi không thể dự đoán được. Các ngân hàng đầu tư (tổ chức tài chính giúp các công ty phát hành trái phiếu) khi đó quyết định thêm vào trái phiếu chuyển đổi cơ bản một số giá trị, như gia tăng lãi suất để đổi đưa ra giới hạn trong việc chuyển đổi thành cổ phần, hoặc đảm bảo cho phần tiền đầu tư. Tất cả những đặc điểm này đều dựa trên các chiến lược, bản thân nhà đầu tư có thể thực hiện các việc đó bằng cách sử dụng hợp đồng quyền chọn và các phái sinh khác, trừ khi họ bị "đóng gói" sẵn vào một sản phẩm tài chính. Mục tiêu ở đây là "mời mọc" để nhà đầu tư chấp nhận lãi suất thấp để đổi lấy một số giá trị tăng thêm nhất định. Mặt khác, mục tiêu của ngân hàng đầu tư là gia tăng lợi nhuận bởi vì các sản phẩm tài chính mới với các đặc điểm gia tăng sẽ khó định giá hơn, và vì vậy các khách hàng sẽ rất khó biết ngân hàng đang kiếm được bao nhiêu lợi nhuận từ đó.

Exhaustive Voting / Cách Bỏ Phiếu Thấu Đáo

Là hình thức lựa chọn tập thể mà trong đó người bỏ phiếu thể hiện phương án ít thích nhất của mình.

Là hình thức lựa chọn tập thể mà trong đó người bỏ phiếu thể hiện phương án ít thích nhất của mình.

Free Convertible Currency / Tiền Tệ Tự Do Chuyển Đổi

Tiền tệ tự do chuyển đổi là những tiền tệ mà luật tiền tệ của nước hoặc khối kinh tế có tiền tệ đó cho phép bất cứ ai có thu nhập tiền tệ này đều có quyền yêu cầu Ngân hàng nước đó chuyển đổi tự do tiền tệ này ra các tiền tệ nước khác mà không cần phải có giấy phép. Có hai loại tiền tệ tự do chuyển đổi: tự do chuyển đổi toàn bộ và tự do chuyển đổi một phần. Tiền tệ tự do chuyển đổi toàn bộ có thể chuyển đổi ra bất cứ loại tiền quốc gia nào mà không cần phải thỏa mãn một điều kiện nào, ví dụ như USD của Mỹ, EURO của châu Âu, GBP của Anh, JPY của Nhật Bản, AUD của Australia, CHF của Thụy Sĩ, CAD của Canada. Hầu hết đó đều là các đồng tiền mạnh của các nền kinh tế phát triển và ổn định. Trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, thường quy định đồng tiền thanh toán là tiền tự do chuyển đổi để tránh rủi ro đồng tiền xuống giá và linh hoạt đổi ra bất cứ tiền nước nào nếu người xuất khẩu muốn. Với tiền tệ tự do chuyển đổi một phần, việc chuyển đổi của nó phụ thuộc vào một trong 3 yếu tố sau: -Chủ thể chuyển đổi: có hai loại chủ thể chuyển đổi được luật quản lý ngoại hối của các quốc gia phân loại là người cư trú và người phi cư trú. Người cư trú phải có được giấy phép chuyển đổi thì mới đổi được tiền tệ đang nắm giữ, còn người phi cư trú được quyền chuyển đổi tự do -Mức độ chuyển đổi: từ hạng mức nào đó do luật quy định trở lên, muốn chuyển đổi thì phải có giấy phép chuyển đổi ngoại tệ, dưới hạng mức đó thì được tự do chuyển đổi -Nguồn thu nhập tiền tệ: các nguồn thu nhập bằng tiền của những người phi cư trú từ hoạt động kinh doanh thương mại và dịch vụ quốc tế, từ hoạt động đầu tư nước ngoài...tại nước có tiền tệ đó sẽ được chuyển đổi tự do, còn các nguồn thu nhập khác phi thương mại, phi đầu tư muốn chuyển đổi phải có giấy phép. Ví dụ những tiền tệ chuyển đổi tự do một phần là PHP- Peso Philippines, TWD- Đô la Đài Loan, THB- Bạt Thái Lan, KRW- Won Hàn Quốc, IDR- Rupiad Indonesia, EGP- Pound Ai Cập...

Subordinated Debenture Bond / Chứng Khoán Bổ Sung

Chứng khoán bổ sung là các loại trái phiếu mà khi công ty hay ngân hàng vỡ nợ người sở hữu nó chỉ có thể thu hồi được một phần hoặc toàn bộ trái khoản của mình sau những người chủ nợ trực tiếp (general creditors). Chủ nợ trực tiếp là những người cho công ty vay một khoản tiền trực tiếp thông qua giấy nhận nợ, ví dụ như ngân hàng, các tổ chức tài chính khác; hay là những người cho ngân hàng vay trực tiếp thông qua tiền gửi ngân hàng. Trong khi đó chủ sở hữu chứng khoán bổ sung là những người cho công ty hay ngân hàng vay thông qua việc mua trái phiếu của các tổ chức này. Thực chất trái phiếu cũng là một loại giấy nợ nhưng nó có chế độ thu hồi món nợ và huởng chế độ lãi suất khác với những khoản vay trực tiếp, thường là có ngày đáo hạn nhất định, lãi suất cố định và được mua bán một cách phổ biến trên thị trường chứng khoán. Chứng khoán bổ sung là một loại trái phiếu nên cũng có đặc điểm tuơng tự. Công ty phát hành chứng khoán bổ sung khi cần huy động thêm vốn, nhưng không muốn chia sẻ quyền quản lý (phát hành cổ phiếu sẽ chia sẻ quyền quản lý) và không muốn chịu trách nhiệm trước tiên về việc trả nợ khi công ty vỡ nợ. Chúng ta có thể thấy đây là một nhược điểm lớn của chứng khoán bổ sung, khi công ty hay ngân hàng phá sản, khả năng tài chính cuối cùng của họ dành trang trải cho trái phiếu thông thuờng trước nhất, sau đó đến cổ phiếu ưu đãi, cổ phiếu thông thuờng và sau cùng mới là chứng khoán bổ sung. Nên những người nắm giữ loại chứng khoán này có thể trắng tay hoặc cùng lắm cũng chỉ thu hồi được một phần món nợ khi công ty hay ngân hàng gặp trục trặc. Vì sự hạn chế của chứng khoán bổ sung nên nó không phải là loại trái phiếu được phát hành phổ biến trong một công ty. Công ty chỉ phát hành khi đang trên đà kinh doanh lợi nhuận mà thiếu vốn muốn huy động vốn từ nhiều nguồn khác nhưng vẫn muốn đảm bảo quyền lợi thích đáng cho các cổ đông. Chính vì vậy nó chỉ được coi là loại chứng khoán "bổ sung". Về phía các nhà đầu tư, họ chỉ mua chứng khoán này khi thấy rõ công ty làm ăn phát đạt ổn định trong một thời gian dài, và thuờng chấp nhận bán lại với giá rất thấp khi công ty có dấu hiệu đi xuống. Tuy nhiên loại chứng khoán này lại có lãi suất khá cao, nên nó thực sự phù hợp với các nhà đầu tư mạo hiểm có khả năng tài chính vững chắc.

Secular Trend / Xu Hướng Lâu Dài

Từ "secular" chỉ ra rằng đó là xu hướng tính toán cho những dữ liệu dài hạn.

Exhaust Price / Giá Thanh Lý Tài Khoản

Giá thanh lý tài khoản là mức giá mà các chứng khoán trong tài khoản đặt cọc kinh doanh chứng khoán sẽ bị thanh lý hoàn toàn để bù đắp cho khoản vay, hoặc để tránh lỗ cho người môi giới. Khi tham gia vào nghiệp vụ đặt cọc mua chứng khoán, nhà đầu tư chỉ thực sự sở hữu một phần trong tổng giá trị tài khoản của mình. Phần sở hữu của nhà đầu tư được gọi là giá trị đầu tư thuần, được tính bằng tổng giá trị số chứng khoán trừ đi phần vay từ người môi giới. Ví dụ: một nhà đầu tư A có $10,000 và vay thêm $10,000 từ người môi giới để mua cổ phiếu. Số cổ phiếu này sau đó sẽ được người môi giới giữ lại trong tài khoản đặt cọc làm khoản đặt cọc cho số tiền đã cho nhà đầu tư vay. Giả sử lúc đó giá lô cổ phiếu là $25,000 thì giá trị đầu tư thuần của nhà đầu tư sẽ là $15,000. Kiểu kinh doanh này đem lại thu nhập khá hấp dẫn cho người môi giới tuy nhiên nó cũng khá rủi ro nếu giá chứng khoán tụt xuống dưới giá trị khoản vay. Khi đó, giá trị đầu tư thuần sẽ âm, và người môi giới nhiều khả năng sẽ gánh chịu khoản lỗ này. Để tránh rủi ro này, người môi giới sẽ đặt ra mức giá mà khi lô chứng khoán chạm giá đó, lập tức người môi giới có quyền bán ngay để tránh thua lỗ. Mức giá này thường được tính toán ra từ tỉ lệ đặt cọc tối thiểu (tỉ lệ giữa giá trị đầu tư thuần với tổng giá lô chứng khoán) của nhà đầu tư theo công thức Giá thanh lý tài khoản = (Vốn vay) / (1 - tỉ lệ đặt cọc tối thiểu) Vẫn ví dụ trên, nếu người môi giới qui định, tỉ lệ đặt cọc của nhà đầu tư phải đạt tối thiểu 20%. Mức giá thanh lý tài khoản sẽ là $10,000/ (1 - 20%) = $12,500. Nếu giá cổ phiếu sụt giảm, làm cho lô cổ phiếu nói trên tụt xuống $12,500, người môi giới có thể ngay lập tức thanh lý lô cổ phiếu đó để tránh thua lỗ. Thông thường, các nhà môi giới sẽ cảnh báo các nhà đầu tư trước khi lô chứng khoán chạm giá thanh lý tài khoản để nhà đầu tư tăng đặt cọc và duy trì tài khoản. Một biện pháp khác hay được sử dụng là nhà đầu tư sẽ đặt lệnh dừng lỗ (stop loss order) cao hơn vài giá so với giá thanh lý tài khoản. Vì lý do an toàn, người môi giới luôn phải đặt ra tỉ lệ đặt cọc tổi thiểu để làm sao, mức giá thanh lý tài khoản luôn cao hơn số tiền cho nhà đầu tư vay. Khi giá chứng khoán giảm, việc tìm được người mua cho nó cũng là điều không dễ dàng, và cũng không loại trừ giá sẽ tiếp tục giảm nữa trong thời gian này. Vì vậy một mức biên an toàn tồn tại giữa giá thanh lý tài khoản và giá trị khoản vay là điều hoàn toàn hợp lý.

Secular Supply Curve / Đường Cung Lao Động Trường Kỳ

Khái niệm cung trong đoạn thuật ngữ này thường được hiểu là tổng tỷ lệ tham gia vào lực lượng lao động.

Free Cash Flow Per Share / Dòng Tiền Mặt Tự Do Trên Một Cổ Phiếu

Dòng tiền mặt tự do trên một cổ phiếu = Dòng tiền mặt tự do : số cổ phiếu đang lưu hành Phép đo này cho phép dự đoán khả năng trả nợ, trả cổ tức, mua lại cổ phần và tạo điều kiện tốt cho sự mở rộng của doanh nghiệp. Dòng tiền mặt tự do trên một cổ phiếu có thể được sử dụng để đưa ra các dự đoán ban đầu về giá cổ phiếu trong tương lai. Ví dụ, khi giá cổ phiếu của một doanh nghiệp là thấp và dòng tiền mặt tự do lại đang tăng lên; dòng tiền trên một cổ phiếu cao có nghĩa rằng thu nhập trên một cổ phiếu cũng có tiềm năng tăng lên và như vậy giá cổ phiếu sẽ tăng lên.

Subprime Mortgage / Thế Chấp Dưới Chuẩn

Một dạng cho vay thế chấp được thực hiện đối với người vay có xếp hạng tín dụng thấp. Do người vay có xếp hạng tín dụng dưới tiêu chuẩn, nên họ không được vay những khoản vay thông thường. Việc này cũng dễ hiểu bởi vì bên cho vay cho rằng bên đi vay có rủi ro vỡ nợ cao hơn mức trung bình. Những tổ chức cho vay thường yêu cầu mức lãi suất cao hơn thông thường để bù lại việc họ phải gánh rủi ro cao hơn. Người vay với chỉ số đánh giá tín dụng dưới 600 thường bị kẹt với các khoản thế chấp và phải trả lãi suất cao đi kèm. Những người đi vay dạng này thường trả tiền lãi vay muộn hoặc tuyên bố phá sản nếu họ không có tiền trả cho tổ chức cho vay. Vì vậy, những người có chỉ số tín dụng thấp thường phải đợi một thời gian cho đến khi họ đạt được chỉ số theo yêu cầu để đảm bảo rằng họ đủ tiêu chuẩn vay những khoản thế chấp thông thường. Cho vay mua nhà dưới chuẩn ở Mỹ hồi tháng 8/2007 đã biến thành một cuộc khủng hoảng trên thị trường tài chính Mỹ và lan rộng ra thế giới.

Subscription Warrant / Chứng Nhận Quyền Mua

Một loại chứng nhận thường được phát hành cùng với một trái phiếu hoặc cổ phiếu ưu đãi, chủ sở hữu của giấy chứng nhận có quyền mua một số lượng cụ thể chứng khoán ở một mức giá cụ thể, thường thì cao hơn mức giá hiện tại của thị trường tại thời điểm phát hành chứng khoán, chứng nhận này có hiệu lực trong một thời gian dài, có thể quy định bất kỳ thời gian nào trong giấy chứng nhận, từ một vài năm đến mãi mãi. Trong trường hợp giá của chứng khoán tại thời điểm hiện tại của thị trường cao hơn giá chứng khoán được mua trong giấy chứng nhận quyền mua thì nhà đầu tư có thể mua chứng khoán ở mức giá theo như giấy chứng nhận quyền mua và có thể bán lại số chứng khoán đó để thu lợi nhuận. Nếu không, đơn giản giấy chứng nhận quyền mua sẽ hết hạn hoặc vẫn duy trì tình trạng không được sử dụng. Giấy chứng nhận quyền mua được kê khai trên các Sở giao dịch quyền chọn và thương mại độc lập của chứng khoán mà nó được phát hành, còn được gọi là bảo đảm.

Free Cash Flow / Dòng Tiền Tự Do

Dòng tiền tự do là thước đo hoạt động của doanh nghiệp được tính toán bằng hiệu số giữa dòng tiền hoạt động và chi tiêu vốn. Nói cách khác, dòng tiền tự do đại diện cho lượng tiền mặt là doanh nghiệp có thể tạo ra sau khi để lại một phần để duy trì hoặc mở rộng các tài sản phục vụ cho sản xuất kinh doanh. Sở dĩ khái niệm dòng tiền tự do quan trọng là bởi vì nó cho phép doanh nghiệp có thể theo đuổi các cơ hội đầu tư nhằm tối đa hóa giá trị cho các cổ đông. Nếu không có tiền mặt thì doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn trong việc phát triển sản phẩm mới, thực hiện các vụ mua lại, chi trả cổ tức và trả nợ. Dòng tiền tự do được tính toán như sau: Thu nhập ròng + khấu hao – thay đổi trong vốn lưu động – chi tiêu vốn = dòng tiền tự do Dòng tiền tự do cũng có thể được tính toán một cách đơn giản bằng dòng tiền hoạt động trừ đi chi tiêu vốn. Một số nhà đầu tư lại quá xem trọng con số về thu nhập mà lại dường như quên đi con số về dòng tiền mặt thực sự mà doanh nghiệp có thể tạo ra. Thu nhập có thể bị "bóp méo" bởi các chuẩn mực về thực hành kế toán nhưng dòng tiền thì khó bị bóp méo hơn. Chính vì thế nhiều nhà đầu tư tin tưởng rằng dòng tiền tự do có thể cho thấy một viễn cảnh rõ ràng hơn về khả năng tạo ra tiền mặt và dĩ nhiên là từ đó tạo ra lợi nhuận của doanh nghiệp. Cũng cần phải nhớ rằng nếu doanh nghiệp có dòng tiền tự do âm không hòan tòan có nghĩa là doanh nghiệp ấy không tốt. Lý do có thể vì doanh nghiệp đã chi tiêu cho đầu tư quá nhiều. Nếu các khoản đầu tư là tiềm năng, thì bạn có thể thấy ngay sau những năm dòng tiền tự do bị âm (-) là những năm có dòng tiền dương (+) vô cùng mạnh mẽ.

Sector Funds / Các Quỹ Ngành

Các quỹ ngành tập trung vào các cổ phiếu của một ngành công nghiệp cụ thể nào đó hoặc một thành phần nào đó của nền kinh tế, như các ngành kỹ thuật, chăm sóc sức khoẻ và dịch vụ tài chính. Nếu xét về mặt này, các quỹ đã vượt ra khỏi quy tắc sau xa của các quỹ tương hỗ - đó là sự đa dạng hoá. Mặc dù một quỹ ngành thường đa dạng hơn một cổ phiếu đơn lẻ nào đó, trong portfolio của quỹ lại không có gì để bù đắp cho sự suy sụp của ngành đó. Do hoạt động của các ngành thường có tính bất ổn định rất cao nên các ngành này đều có thể mang đến cho nhà đầu tư nào đầu tư đúng hướng cơ hội có những khoản lợi nhuận lớn. Mặc dù vậy, thường thì một ngành phát triển "nóng" trong một năm nào đó sẽ phát triển chậm lại trong năm tiếp theo. Ngành chăm sóc sức khoẻ và các thị trường đang tăng trưởng chỉ là hai trong số các ngành có những bước ngoặt phát triển nổi bật trong những năm gần đây.

Exercise; Exercise/Strike Price; Aggregate Exercise Price / Giá Thực Hiện

Exercise: Người mua hợp đồng quyền chọn (hay còn gọi là người nắm giữ hợp đồng) có quyền quyết định thực hiện hay không thực hiện quyền chọn của mình. Một hợp đồng quyền chọn được tiến hành giao dịch, có nghĩa là có sự thanh toán thực sự giữa người mua và người bán và các luồng tiền trao đổi là xảy ra thực sự. Trong giao dịch quyền chọn, thì thuật ngữ “Exercise” được hiểu là: thực hiện quyền chọn. Nếu người nắm giữ hợp đồng muốn thực hiện quyền chọn, thì phải liên hệ với người bán để thực hiện quyền chọn của mình. Đồng người người bán phải luôn sẵn sàng và tiến hành giao dịch với người mua .Exercise price (strike price): giá thực hiện.Trong giao dịch quyền chọn tiền tệ, thì tỷ giá áp dụng gọi là giá thực hiện. Cần lưu ý rằng, tỷ giá trong các hợp đồng giao ngay  hay giao kỳ hạn là tỷ giá được hình thành trên cơ sở cung cầu ngoại hối trên thị trường, còn trong các hợp đồng quyền chọn tiền tệ thì không hoàn toàn như vậy mà các giá thực hiện trong các hợp đồng quyền chọn, ngoài yếu tố cung cầu, còn phụ thuộc vào mức phí quyền chọn là cao hay thấp, do đó nó có thể cao hơn hoặc thấp hơn đáng kể so với tỷ giá giao ngay hay giao kỳ hạn. Điều này có nghĩa là giá thực hiện có thể là bất cứ như thế nào nếu như người mua muốn; bởi vì giá thực hiện và phí quyền chọn mà người mua phải trả cho người bán luôn có mối quan hệ với nhau. Do đó, người bán sẵn sàng chấp nhận mọi giá thực hiện mà người mua đề nghị và đưa ra mức phí quyền chọn tương ứng. Aggregate Exercise Price: Tổng giá thực hiện.Trong giao dịch quyền chọn chứng khoán, số lượng cổ phiếu trong một hợp đồng mua hoặc bán (thường là 100), được nhân lên với giá thực hiện. Phí quyền chọn (price of the option), được gọi là Premium là con số tách biệt với tổng giá trị thực hiện. Ví dụ, một lệnh chọn mua tháng 7 cho 100 cổ phiếu XYZ với mệnh giá 70 sẽ có tổng giá thực hiện là 100 x 70 = 7000 $, nếu được thực hiện trước thời hạn tháng 7.

Second-Best / (Tình Trạng) Tốt Nhì

Định lý tình trạng tốt nhì do R.G.Lipsey và K.Lancaster đưa ra, cho rằng nếu một trong những điều kiện của tối ưu PARETO không thể thực hiện được thì nói chung tình thế có thể đạt được tốt nhất (phương án tốt nhất thứ hai) chỉ có thể đạt được bằng cách thoát khỏi mọi điều kiện Pareto khác.

Franked Investment Income / Thu Nhập Đầu Tư Được Miễn Thuế

Nhìn chung là để chỉ thu nhập đã chịu thuế công ty và vì vậy không là đối tượng để tính thuế công ty nữa, thu nhập này là thuộc về công ty nhận nó.

Sách Combo 4 Cuốn : Tư Duy Ngược + Tư Duy Mở + Biến Mọi Thứ Thành Tiền Chuột không dây Ugreen M751 với con lăn vô cực Máy chơi game retro Powkiddy X55