Thuật Ngữ Kinh Tế

A B C D E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Z Tất cả

Foreclosure / Phát mãi tài sản

Hành động pháp lý khởi xướng của bên cho vay để giành quyền sở hữu tài sản thế chấp đảm bảo cho khoản vay không chi trả. Một vài bang cho phép người cho vay quyền đối với tài sản, bằng việc đơn giản tuyên bố người vay khống chi trả, một quá trình được biết đến là phát mãi nghiêm ngặt. Mặc dù vậy, hầu hết các bang đều yêu cầu bên cho vay hoàn thành hồ sơ vụ kiện tịch thu tài sản phát mãi, và nhận quyết định của toàn án trước khi thu giữ và bán đấu giá tài sản của bên vay. Tiền thu được tài sản phát mãi được sử dụng trước hết trả nợ thế chấp và chi phí phát mãi, phần còn lại nếu có, sẽ trả lại cho người vay. Người vay vi phạm có quyền mua lại tài sản này, trong hầu hết các bang, gọi là quyền mua lại, bằng cách trả bên cho vay số dư nợ, cộng thêm các chi phí khác.

Scientific Tariff / Thuế Khoa Học

Thuế hay cấu trúc thuế để đạt được mục tiêu chính sách, thường là phi kinh tế như độc lập quốc gia hay sự sẵn sàng về quân sự, với chi phí tối thiểu cho xã hội.

Forecasting Futures Contract's Price / Xác Định Giá Của Hợp Đồng Tương Lai

Thị trường chứng khoán phái sinh theo dõi các mức giá tiền mặt (giá thanh toán ngay) rất chặt chẽ. Giá của hợp đồng tương lai trong tháng tiếp theo hoặc trong 5 tháng tới thường được xác định dựa trên giá ngày hôm nay, triển vọng thu hoạch theo mùa vụ, các thay đổi thời tiết dự đoán trước, bối cảnh chính trị và hàng chục các yếu tố khác mà thị trường có thể tạo ra. Sự biến động trong giá tiền mặt cung cấp những đấu mối để người tiêu dùng dự đoán mức giá họ sẽ phải trả trên thị trường cho những sản phẩm được tạo ra từ vật liệu thô.

Forecast Error / Sai Số Dự Đoán

Chênh lệch giữa giá trị dự đoán của một biến thu được bằng các phương pháp dự đoán kết qủa từ thực tế.

Schumpeter, Joseph A / (1883-1950)

Sinh trưởng và học tập ở Viên, Schumpeter là một môn đệ của WALRAS chứ không phải trường phái Áo. Ông là người tiên phong trong phân tích CHU KỲ THƯƠNG MẠI và PHÁT TRIỂN KINH TẾ, trong cả hai tác phẩm này, chủ doanh nghiệp giữ vai trò chủ đạo, chịu trách nhiệm cho việc sáng chế. Hành động của anh ta sau đó sẽ bị bắt chước, như vậy sáng chế và có thể gây ra sự bùng nổ mang lại. Là một tác giả có tầm nhìn lớn, ông lập luận trong cuốn CHỦ NGHĨA TƯ BẢN, CHỦ NGHĨA XÃ HỘI VÀ NỀN DÂN CHỦ (1947) rằng chủ nghĩa tư bản sẽ nhường chỗ cho chủ nghĩa xã hội không phải vì nó thất bại như C.Mác lập luận mà bởi vì thành công của nó. Công trình cuối cùng của ông, đến lúc mất vẫn chưa hoàn thành là một tác phẩm vĩ đại: Lịch sử phân tích kinh tế (1954).

Fordism / Học Thuyết Fordism

Học thuyết Fordism được đặt theo tên của Henry Ford - người sáng lập ra tập đoàn Ford - nhằm chỉ nhiều học thuyết xã hội liên qua. Thuật ngữ này có nhiều nghĩa khác nhau ở từng nước. Ở Mỹ, Fordism là một triết lí kinh tế phát biểu rằng sự thịnh vượng và lợi nhuận cao của doanh nghiệp có thể đạt được bằng cách trả lương cao và cho phép người làm việc có thể mua những gì mình sản xuất ra, ví dụ như ôtô. Ở Châu Âu, Fordism theo sau học thuyết Quản lí khoa học của Taylor, một phương pháp kỉ luật lao động và tổ chức nơi làm việc dựa trên những nghiên cứu giả định về hiệu quả của con người và hệ thống khích lệ tinh thần. Học thuyết này rất được ủng hộ ở Đức và Italia. Sau năm 1918, Châu Âu chuyển sang yêu thích học thuyết của Ford, đó là tổ chức lại toàn bộ quá trình sản xuất bằng cách thay thế dây chuyền sản xuất, tiêu chuẩn hóa, và thị trường lớn. Ở Xô Viết, theo nhà sử học Thomas Hughes, vào những năm 1920, và 1930 nước này đã rất háo hức áp dụng học thuyết Fordism và Taylorism, thuê các chuyên gia của Mỹ và các kĩ sư của Mỹ để xây dựng các bộ phận cho cơ sở hạ tầng công nghiệp hóa của mình. Kế hoạch 5 năm  và nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung có thể được lần theo dấu vết trực tiếp tới sự ảnh hưởng của học thuyết Fordism tới lối suy nghĩ của Xô-viết. Fordism còn được sử dụng trong Chủ nghĩa Macxit ở Phương Tây gọi là "hình thức sản xuất" hoặc "mô hình sản xuất," những mô hình này trải rộng từ Mỹ sang Tây Âu sau 1945. Học thuyết này phát biểu rằng việc sản xuất hàng loạt và ổn định chính sách kinh tế là những thứ tạo nguồn cung và ổn định xã hội bằng việc trả lương cao, và nó còn bao gồm nhiều chính sách kinh tế khác. Nghĩa khác: Fordism còn được miêu tả bằng cụm "chăm sóc công nhân" bằng việc tạo ra phúc lợi hoặc nghiêm cấm hoặc hạn chế công nhân (như hút thuốc chẳng hạn). Ngoài ra Fordism còn được hiểu là "năng suất lao động cao cho phép tăng lương, sản xuất hàng loạt cho phép lượng tiêu thụ lớn." Thế giới sản xuất ngày nay được ảnh hưởng bởi học thuyết hậu Ford (post-fordism).

Schultz, Theodore W / (1902-1998)

Nhà kinh tế học và giáo sư tại trường đại học Chicago, ông là đồng tác giả đoạt giải thưởng Nobel về kinh tế năm 1979. Những công trình chủ yếu của ông thuộc lĩnh vực kinh tế nông nghiệp nhưng ông cũng được biết tới như một người tiên phong trong lĩnh vực Vốn nhân lực.

Forced Saving / Tiết Kiệm Bắt Buộc

Một dạng tiết kiệm phát sinh do người tiêu dùng không có khả năng tiêu tiền của mình vào những hàng tiêu dùng mà mình muốn, đơn thuần là vì những hàng hoá này không có.

Forced Riders / Người Hưởng Lợi Bắt Buộc

Hình ảnh ngược của NGƯỜI XÀI CHÙA (free-rider). Người hưởng lợi bắt buộc là những người đánh giá lợi ích bằng tiền và không phải bằng tiền của việc trở thành thành viên của một tổ chức thấp hơn chi phí bằng tiền và chi phí không phải bằng tiền.

Schooling Functions / Các Hàm Giáo Dục

Mối quan hệ hàm số giữa trình độ học vấn đạt được và các yếu tố quyết định của các trình độ đó.

For Valuation Only - FVO / Chỉ Để Đánh Giá

FVO là cụm viết tắt của "For Valuation Only", có nghĩa là "chỉ để đánh giá".

Footloose Industries / Ngàng Rộng Cẳng; Ngành Không Cố Định

Những ngành không bị ràng buộc vào một nơi nhất định nhằm đáp ứng yêu cầu về vị trí địa lý và do vậy có thể bố trí ở bất cứ nơi nào.

Food And Agriculture Organization (Fao) / Tổ Chức Lương Thực Và Nông Nghiệp Của Liên Hợp Quốc

Được thành lập năm 1954, FAO có trụ sở ở Rome. Với ý định cải tiến việc sản xuất và phân phối lương thực và các sản phẩm nông nghiệp, tổ chức này được giao nhiệm vụ thu thập và nghiên cứu các số liêu thích hợp và thúc đẩy các hiệp định trao đổi hàng hoá quốc tế và trợ giúp kỹ thuật.

Scatter / Biểu Đồ Tán Xạ

Sự biểu diễn dữ liệu bằng đồ thị trong đó các giá trị quan sát được của một biến được vẽ thành từng điểm so với các giá trị của biến kia mà không nối các điểm đó lại với nhau bằng đường nối.

FOB / Giá Không Tính Phí Vận Tải, Giá FOB

Cụm thuật ngữ này chỉ giá hay giá trị của một hàng hoá được tính trên cơ sở quá trình sản xuất và không bao gồm chi phí vận chuyển hàng hoá đến người tiêu dùng.

Exchange-Traded Fund / Qũy ETF

ETF là một hình thức quĩ đầu tư tập thể mà cổ phiếu của nó được mua bán trên hầu hết các sàn giao dịch chứng khoán lớn trên thế giới. Về cơ bản, các quĩ ETF thường lựa chọn danh mục đầu tư mô phỏng theo các chỉ số chứng khoán như S&P 500, Hang Seng Index, theo một ngành nào đó (ví dụ: năng lượng, công nghệ), hoặc theo các loại hàng hóa như vàng hoặc dầu mỏ. ETF đầu tiên ra đời tại sàn giao dịch chứng khoán Toronto năm 1990, tuy nhiên hầu hết các ETF ngày nay đều xuất hiện ở thị trường chứng khoán Mỹ. Đã có hơn 100 ETF được giao dịch trên thị trường chứng khoán Mỹ, và một số ở các nước khác. Các ETF của Mỹ hiện nay thường đầu tư dựa trên một chỉ số chứng khoán nhất định; ví dụ, SPDRs (Standard & Poor's Depository Receipts, hay "Spiders") dựa vào chỉ số S&O 500. Chỉ số này lại được xác định bởi một công ty hoàn toàn độc lập với công ty quản lý quĩ. ETF có cách thức tiếp nhận đầu tư hơi khác so với các quĩ tương hỗ và quĩ đầu tư đóng. Thay vì việc người quản lý quĩ phải làm việc trực tiếp với các cổ đông, các tổ chức đầu tư sẽ tự mình tạo lập một danh mục đầu tư bao gồm các cổ phiếu giống như danh mục đầu tư của ETF và đem cho quĩ này vay. Sau đó danh mục đầu tư của quĩ sẽ được cộng thêm phần cổ phiếu này và tổ chức đầu tư kia sẽ nhận được một số lượng cổ phiếu tương ứng. Việc tạo lập thêm cổ phiếu mới thường chỉ tiến hành với số lượng đủ lớn để tạo thành 1 đơn vị đầu tư, thường là 50,000 cổ phiếu. Ví dụ: một ETF có danh mục đầu tư hiện tại gồm có 5,000,000 cổ phiếu X và 20,000,000 cổ phiếu Y (1X:4Y), tương đương với 25000 cổ phiếu quĩ (mỗi cổ phiếu gồm 200X và 800Y), một nhà đầu tư sẽ tự mua 10000 cổ phiếu X và 40000 cổ phiếu Y để góp vào quĩ, theo tỉ lệ tương ứng anh ta sẽ nhận được 50 cổ phiếu mới. Cổ phiếu ETF có thể được mua bán tự do giữa các nhà đầu tư lớn trên thị trường mở. Khi nhà đầu tư muốn rút cổ phiếu của mình ra, anh ta phải tập hợp được đủ 1 đơn vị đầu tư. Đơn vị đầu tư này sau đó sẽ bị xóa sổ khỏi quĩ và các cổ phiếu cơ sở sẽ được giao lại cho nhà đầu tư. Cấu trúc pháp lý và hình thức tổ chức của các quĩ ETF có thể rất đa dạng, nhưng chúng luôn có những điểm chính sau đây: Cổ phiếu của ETF được niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán và có khả năng giao dịch liên tục trong ngày ETF thường áp dụng chiến lược đầu tư thụ động, mô phỏng chỉ số hơn là đầu tư tích cực Giá trị (chứ không phải giá) của cổ phiếu ETF thường khác với giá trị của các tài sản cơ sở của nó Với các đặc điểm như vậy, ETF thường tỏ ra ưu việt hơn các quĩ đầu tư mở. Cấu trúc của ETF khiến cho nó trở thành một hình thức đầu tư chỉ số chứng khoán được phân tán rủi ro tốt, chi phí thấp, thu nhập thấp. Chính điều này đã thu hút các nhà đầu tư tổ chức cũng như cá nhân, đầu tư vào ETF để nắm giữ lâu dài, để bán khống hoặc cũng có thể phục vụ chiến lược ngăn ngừa rủi ro. Cơ chế của ETF làm cho giá cổ phiếu của nó thường theo sát giá trị thuần (NAV) chứ không biến động quá xa như các quĩ đầu tư đóng.

Fluctuation Limit/ Price Limit/ Daily Trading Limit / Biên Độ Dao Động

Biên độ là giá cao nhất và thấp nhất mà một hàng hóa hoặc một quyền chọn được phép giao dịch trong một phiên giao dịch. Biên độ giá được quy định nhằm kiểm soát sự dao động giá quá lớn của chứng khoán trong một phiên giao dịch. Biên độ dao động còn gọi là giới hạn giá hoặc giới hạn giao dịch. Thị trường chứng khoán Mỹ không có quy định về biên độ dao động, trừ trên các thị trường giao dịch hàng hóa tương lai. Một số các nước Châu Á cũng có quy định về biên độ dao động như Việt Nam, Nhật Bản, Thái Lan, Hàn Quốc...

Scarcity / Sự Khan Hiếm

Trong kinh tế học, sự khan hiếm thường sử dụng trong trường hợp các nguồn lực sẵn có để sản xuất ra sản phẩm không đủ để thoả mãn các mong muốn.

Flow-Through / Lưu Lượng Trôi Nổi

Thuật ngữ này dùng để diễn tả cải cách lợi tức, số giảm trừ và số tín dụng bắt nguồn từ hoạt động kinh doanh được sử dụng như thế nào đối với thuế cá nhân và chi phí cho lợi nhuận mặc dù mỗi loại đã phải chịu trực tiếp số lợi tức và giảm trừ.

Flow Of Funds Analysis / Phân Tích Luồng Tiền Quỹ

Sự phân tích trên các giác độ tổng hợp khác nhau, luồng tiền quỹ từ các khu vực thặng dư về tài chính tới các khu vực thâm hụt.

Sách Combo 4 Cuốn : Tư Duy Ngược + Tư Duy Mở + Biến Mọi Thứ Thành Tiền Chuột không dây Ugreen M751 với con lăn vô cực Máy chơi game retro Powkiddy X55