Thuật Ngữ Kinh Tế

A B C D E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Z Tất cả

Tangible Asset / Tài Sản Hữu Hình

Đây là tài sản thực hay tài sản cá nhân, như nhà cửa, máy móc, bất động sản. Tài sản hữu hình khác với các loại tài sản vô hình như nhãn hiệu, bản quyền, uy tín của công ty, các tài nguyên thiên nhiên (rừng, mỏ than, mỏ dầu). Trong kế toán, mặc dù tài sản hữu hình và tài sản vô hình được liệt kê riêng rẽ trong bản cân đối, các khoản phải thu vẫn được tính vào tài khoản hữu hình. Các tài sản thực sẽ bị mất dần giá trị qua thời gian sử dụng, trong khi tài sản vô hình bị khấu hao dần. Các quy tắc kế toán chưa thực sự rõ ràng trong việc phân biệt cụ thể tài sản vô hình và hữu hình. Nhìn chung, những tài sản nào không hội đủ điều kiện của tài sản vô hình sẽ được liệt kê là tài sản hữu hình.Với một doanh nghiệp, tài sản hữu hình bao gồm: nhà xưởng, máy móc, tài chính và cơ sở hạ tầng. Tài sản vô hình bao gồm danh tiếng, tinh thần và văn hóa ứng xử của đội ngũ nhân lực, bí quyết kinh doanh và bí quyết kỹ thuật, sáng chế, giải pháp kỹ thuật, kiểu dáng công nghệ, nhãn hiệu hàng hóa và các thành quả vô hình khác. Trải qua nhiều thế kỷ, tài sản hữu hình vốn được coi là thước đo giá trị và tính cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường. Tuy nhiên, cách hiểu này đã thay đổi đáng kể trong vài thập kỷ gần đây. Tài sản vô hình đang trở thành yếu tố quyết định giá trị của doanh nghiệp.

Bất động sản hoặc tài sản cá nhân như cao ốc, máy móc và bất động sản. Tài sản hữu hình khác với tài sản vô hình như nhãn hiệu thương mại, bản quyền và Goodwill (thương hiệu) và tài nguyển và tài nguyên thiên nhiên( đất rừng, dầu và than), cũng bao gồm các khoản phỉa thu của doanh nghiệp. tài sản vô hình và tài sản hữu hình được ghi riêng biệt trên bảng cân đối kế toán. Tài sản vật chất được khấu hao trên thời gian sử dụng của chúng, tài sản vô hình được tính giá giảm dần. Giá bút tóan của tài sản hao mòn như than, khi hay dầu giảm do cạn kiệt. Các quy tắc kế toán thì mơ hồ về phân biệt giữa vô hình và hữu hình. thường thì bất kỳ tài sản nào không xác định rõ ràng như một tài sản vô hình được xem như tài sản hữu hình.

Public Issue / Phát Hành Công Cộng

Phương pháp thực hiện một sự phát hành mới về CHỨNG KHOÁN trong đó cơ quan phát hành, chẳng hạn một công ty hoặc một chính quyền địa phương bán các chứng khoán một cách trực tiếp cho công chúng với mức giá ấn định.

Take-Over / Giao Dịch Thâu Tóm

Giao dịch thâu tóm công ty được thực hiện thông qua phương thức đấu thầu cổ phiếu (tender offer) trên thị trường thứ cấp. Mục tiêu của nhà đầu tư khi thực hiện giao dịch thâu tóm công ty là nắm giữ, kiểm soát một khối lượng lớn cổ phiếu có quyền biểu quyết, nhằm nắm quyền kiểm soát công ty, hoặc sáp nhập công ty. Do tác động của việc mua một khối lượng lớn cổ phiếu của công ty (thông thường là những giao dịch từ 20% cổ phiếu trở lên) làm ảnh hưởng đến giá chứng khoán trên thị trường, nên UBCK các nước thường quy định giao dịch thâu tóm sẽ thực hiện thông qua phương thức đấu thầu mua lại cổ phiếu. Nhà đầu tư muốn thực hiện giao dịch đầu thầu cổ phiếu phải xin phép UBCK và phải nêu rõ mục tiêu mua cổ phiếu, khối lượng mua, nguồn tiền để thực hiện mua, thời gian thực hiện mua lại, giá chào thầu dự kiến trên thị trường. Sau khi được UBCK chấp thuận cho phép giao dịch đấu thầu, nhà đầu tư phải công bố công khai thông tin đó trên các phương tiện thông tin đại chúng, công bố với tổ chức chào thầu, công ty niêm yết mà mình dự kiến mua lại cổ phiếu để công ty đó không được phép phát hành cổ phiếu bổ sung, tách, gộp cổ phiếu trong suốt thời gian thực hiện mua đấu thầu.

Perfect Market / Thị Trường Hoàn Hảo

Thị trường hoàn hảo là thị trường đặc trưng bởi rất nhiều người mua và người bán với những sản phẩm đồng nhất. Việc tham gia vào và rút ra vào trong một ngành là không (hoặc gần như không) tạo thêm chi phí. Thông tin được cung cấp đầy đủ và miễn phí cho các thành viên tham gia trên thị trường, không có sự thông đồng giữa các doanh nghiệp trong ngành.

Public Relation / Quan Hệ Công Chúng

Tìm hiểu một định nghĩa đầy đủ về PR (Public Relation) trong bối cảnh hiện nay là điều khá khó khăn vì theo thống kê chưa đầy đủ hiện nay có đến khoảng gần 500 định nghĩa khác nhau về PR. Theo Tổ chức Nghiên cứu và Đào tạo PR Mỹ (Foundation of PR Research and Education) có định nghĩa PR được tổng hợp từ 472 định nghĩa khác nhau: “PR là một chức năng quản lý giúp thiết lập và duy trì các kênh truyền thông, sự hiểu biết, chấp nhận và hợp tác lẫn nhau giữa một tổ chức với các nhóm công chúng có liên quan. PR bao gồm việc quản lý sự việc và vấn đề; giúp thông tin cho ban lãnh đạo để đáp ứng kịp thời trước ý kiến công chúng; xác định và nhấn mạnh trách nhiệm của ban lãnh đạo là phục vụ quyền lợi của các nhóm công chúng. PR giúp ban lãnh đạo bắt kịp và vận dụng hiệu quả các thay đổi, hoạt động như một hệ thống dự báo để tiên đón các xu hướng; sử dụng việc nghiên cứu và những kỹ thuật truyền thông hợp lý và có đạo đức làm công cụ chính.” Ở Việt Nam, PR được hiểu như một nối kết với truyền thông trong việc quảng bá hoạt động kinh doanh và giới thiệu sản phẩm, con đường nhanh và hiệu quả nhất trong kinh doanh hiện đại. Thay cho các hoạt động đăng quảng cáo cổ điển, các công ty PR tạo ra các hoạt động dễ gây chú ý đến hệ thống truyền thông và lồng vào đó các sản phẩm của mình. Hiệu ứng của nó trong giới tiêu dùng được xem là hiệu ứng cấp hai đối với hệ thần kinh tâm lý, khác hoàn toàn với thủ pháp “nhắc đi nhắc lại” trên các trang báo hay chương trình quảng cáo, tiếp thị tẻ nhạt, kích thích chủ yếu hệ thần kinh tâm lý quán tính.

Perfect Hedge / Phòng Ngừa Hoàn Hảo

Phòng ngừa hoàn hảo ý muốn nói đến vị thế nhà đầu tư đang nắm giữ có thể hạn chế được rủi ro của vị thế hiện tại hoặc là một vị thế có thể giúp danh mục hạn chế tất cả rủi ro thị trường. Nhằm mục tiêu phòng ngừa hoàn hảo, một vị thế cần có tương quan nghịch 100% với vị thế ban đầu. Vì thế, mà phòng ngừa hoàn hảo hiếm khi nào xảy ra. Ví dụ thường thấy cho một chiến lược phòng ngừa gần như hoàn hảo là một nhà đầu tư sử dụng một kết hợp giữa các cổ phiếu đang nắm giữ và thực hiện đối lập các vị thế quyền chọn để tự bảo vệ, chống các khoản lỗ trong vị thế cổ phiếu của mình.

Public Relations (PR) / Quan Hệ Công Chúng

Một trong những khái niệm ra đời sớm nhất về PR được khởi xướng bởi Edward Bernays. Theo ông: "Quan hệ công chúng là một chức năng của quản lý nhằm tìm hiểu thái độ của công chúng, xác định chính sách, quy trình kinh doanh và lợi ích của tổ chức, theo đó là việc thực hiện một chương trình hành động nhằm tạo ra sự hiểu biết về sản phầm cho công chúng và đi đến chấp nhận". Theo 2 chuyên gia về PR người Mỹ là Scott M. Cutlips và Allen H. Center "PR là một nỗ lực có kế hoạch nhằm tác động đến quan điểm của công chúng thông qua sản phẩm tốt và kinh doanh có trách nhiệm dựa trên giao tiếp 2 chiều đôi bên cùng có lợi" Ngoài ra PR còn được hiểu là nghệ thuật và khoa học của quản lý truyền thông giữa tổ chức và các phần tử then chốt của công chúng nhằm xây dựng, quản lý, và giữa vững hình ảnh tốt đẹp của tổ chức. Qua các khái niệm trên có thể rút ra mục đích cao nhất của PR là xây dựng được một hình ảnh tốt đẹp về công ty và sản phẩm trong lòng công chúng từ đó công ty nhằm tới các chiến lược phát triển riêng của mình. PR gồm:a. Đánh giá quan điểm và thái độ của công chúngb. Xây dựng công thức và tiến hành quy trình và chính sách liên quan đến giao tiếp với công chúng.c. Kết hợp tất cả các chương trình truyền thôngd. Phát triển mối quan hệ tốt và thiện chí của khách hàng thông qua giao tiếp 2 chiều.e. Bồi dưỡng mối quan hệ tốt đẹp giữa tổ chức và các nhóm công chúng. Ngày nay PR thường bị hiểu nhầm, và có lẽ đó là lỗi của ngành công nghiệp PR. Mọi người thường bị lẫn lộn không biết PR dừng lại ở giai đoạn nào và khi nào thì sẽ được gọi là Marketing, quảng cáo, xây dựng thương hiệu .v.v.. Tất nhiên các công ty PR có một đội bao gồm các cá nhân đến từ các lĩnh vực khác nhau của truyền thông và có khả năng ung cấp tất cả các dịch vụ liên quan đến PR như lập thương hiệu, marketing, quảng cáo... Chính điều này càng làm cho khái niệm PR dễ bị nhầm lẫn.

Take A Bath / Thua Lỗ Nặng Nề

"Take a bath" là cụm từ nóng dùng trong lĩnh vựcchứng khoán để chỉ một nhà đầu tư bị rơi vào tình trạng thua lỗ nặng nề sau một vụ đầu tư hoặc đầu cơ. Tất cả cổ phiếu anh ta nắm giữ đều bị rớt giá thảm hại khiến anh ta liên tục chìm trong thua lỗ. Cụm từ này xuất phát từ trò chơi cờ bạc ở Mỹ, con bạc đầu tiên chỉ bị thua lỗ nhỏ, nhưng muốn gỡ gạc lại nên càng lao vào trò đỏ đen và kết cục là bị cháy túi (cleaned out), khi đó người ta gọi con bạc này bị "taken a bath" hay "in the red". Các nhà đầu tư thường có biện pháp bảo vệ khoản vốn đầu tư của mình bằng cách đa dạng hóa đầu tưđể phân tán rủi ro, tức là phân chia vốn thành nhiều phần nhỏ và rót vào nhiều loại chứng khoán khác nhau để đề phòng lỗ do cổ phiếu này gây ra có thể được bù đắp bởi lãi từ cổ phiếu khác. Nhưng có những trường hợp đồng loạt các cổ phiếu trên thị trường đều giảm giá, lúc đó nguyên tắc "không bỏ trứng vào cùng một rổ" đã mất tác dụng, và đẩy nhà đầu tư vào tình trạng "taken a bath"- thua lỗ nặng nề và toàn diện. Nguyên nhân gây ra tình trạng hầu hết mọi chứng khoán trên thị trường đều đi xuống thường thuộc về rủi ro hệ thống, ví dụ như rủi ro về chiến tranh, lạm phát, lãi suất, sức mua hay thị trường. Chính rủi ro hệ thống có tác động mạnh mẽ tới toàn thị trường và gây nên hiện tượng đồng loạt cổ phiếu thoái trào, thế mới biết không có một phương thức đầu tư nào là an toàn hoàn hảo. Một ví dụ điển hình như cuộc bùng nổ công nghệ thông tin vào cuối những năm 1990 và đầu những năm 2000, tất cả những sản phẩm thuộc về công nghệ cũ cùng với công ty sản xuất ra chúng nhanh chóng bị loại ra khỏi thị trường, để nhường chỗ cho sản phẩm thế hệ mới với hàm lượng công nghệ cao. Khi đó đã có rất nhiều các nhà đầu tư đang nắm giữ cổ phiếu của các công ty này vội vàng bán tháo nhưng hầu như rất ít người muốn mua, hoặc nếu mua thì với giá rất thấp. Cho nên khoảng thời gian này đã có rất rất nhiều nhà đầu tư bị rơi vào khủng hoảng tài chính - taken a bath! Ngoài ra, cụm từ "Take a bath" còn được dùng để nói về một công ty bị thất bại nặng nề khi tung sản phẩm mới ra thị trường. Nguyên nhân có thể do chưa nghiên cứu kỹ thị trường, hoặc mắc sai lầm trong khâu tiếp thị, phân phối. Chi phí đổ vào việc nghiên cứu sản phẩm rất lớn nhưng kết quả không được thị trường chấp nhận và phải hủy bỏ sản phẩm đó, lúc này người ta gọi công ty bị thất bại nặng nề- taken a bath!

Public Sector Borrowing Requirement (PSBR) / Nhu Cầu Vay Của Khu Vực Công Cộng

Tổng giá trị mà số thu của các tổ chức Khu vực công cộng thiếu hụt so với số chi.

Perfect competition / Cạnh tranh hoàn hảo

Để mô tả sự kết hợp của các yếu tố cung, cầu, giá trong quy luật cung cầu, chúng ta sẽ phải giải quyết mô hình cạnh tranh hoàn hảo. Các điều kiện giả định để có cạnh tranh hoàn hảo: Có rất nhiều người mua và người bán độc lập với nhau. Không một người mua hay người bán nào đủ lớn để có thể ảnh hưởng tới giá thị trường. Các sản phẩm cạnh tranh với nhau giống nhau, vì vậy người mua và người bán của một sản phẩm đã cho sẽ không bị ảnh hưởng bởi sự khác biệt về chất lượng hay kiểu dáng. Tất cả người mua và người bán có đầy đủ thông tin về giá được niêm yết trên toàn thị trường. Người mua và người bán tự do ra nhập và ra khỏi thị trường. Nói cách khác, người mua tự do lựa chọn mua hoặc không mua sản phẩm, người bán tự do bán hoặc không bán sản phẩm.

Public Service Announcements (PSAS) / Quảng Cáo Dịch Vụ Công Cộng

Nhiều tổ chức và tập đoàn cùng nhau làm chung quảng cáo, không phải với mục đích bán sản phẩm mà để dành thiện cảm. Lấy một ví dụ về quảng cáo của một công ty rượu bia không ủng hộ việc vừa uống rượu vừa lái xe, hay một quảng cáo của công ty sản xuất thuốc lá kêu gọi thanh niên không hút thuốc lá.Những quảng cáo như vậy, được gọi là tuyên bố dịch vụ công (public service announcements - PSAs), không phải được đưa ra bởi mục tiêu tăng khả năng bán hàng, tuy nhiên thiện cảm họ tạo ra có thể hữu ích cho việc bán hàng bằng cách này hay cách khác.

Taiwan Capitalization Weighted Stock Index / Taiwan Weighted Index / Chỉ Số Chứng Khoán Đài Loan

Là chỉ số tính theo giá trị vốn hóa thị trường của tất cả các cổ phiếu được giao dịch trên Sàn giao dịch chứng khoán Đài Loan.

Perestroika / Đổi Mới, Cải Tổ

Một thuật ngữ thể hiện sự thay đổi cơ cấu ở Liên bang Xô viết và gắn liền với Mihail Gorbachev. Trong giai đoạn đầu từ giữa những năm 1980 đến 1987, quá trình cải cách phần lớn chỉ mang tính chất trang điểm tập trung vào việc cải thiện hệ thống kế hoạch hoá chỉ huy đang tồn tại và đạt những kết quả không gây ấn tượng lớn.

Percetile / Phân Vị

Một cách đo tính vị trí các dữ liệu mẫu hoặc các phân phối.

Public Utility / Ngành Dịch Vụ Công Cộng

Một công ty hay xí nghiệp là người cung cấp duy nhất một loại hàng hoá hoặc dịch vụ thiết yếu nào đó, do đó phải chịu hình thức kiểm soát của chính phủ.

Percentage Point / Điểm Phần Trăm

Ví dụ, vào năm 1980 có 40% dân số hút thuốc, và vào năm 1990 chỉ còn 30% dân số hút thuốc. Vì vậy chúng ta có thể nói rằng từ năm 1980 đến năm 1990 tỉ lệ người hút thuốc đã giảm 10 điểm phần trăm. Chúng ta không nói rằng số người hút thuốc giảm 10%, bởi vì phần trăm biểu thị tỉ lệ, không nói lên sự chênh lệch. Đây là cách giải thích của Wikipedia về cách sử dụng trong tiếng Anh. Có thể không phổ biến trong tiếng Việt.

Public Utililty Regulation / Điều Tiết Ngành Dịch Vụ Công Cộng

Quy định của chính phủ về việc kiểm soát đối với các Dịch vụ công cộng có những yếu tố của sức mạnh độc quyền; mục đích nhừm hài hoà quản lý kinh doanh với lợi ích công cộng.

Purchase Method / Phương Pháp Mua Theo Giá Vốn, Nguyên Giá

Một phương pháp kế toán đặc biệt liên quan tới việc sáp nhập và mua lại . Theo phương pháp mua theo giá vốn, công ty mua lại và giá trị thị trường của nó được liệt kê. Bất kỳ chênh lệch nào giữa giá trả cho việc mua lại và giá trị thị trường tại thời điểm mua lại đều được coi là thiện chí . Phương pháp này ngăn chặn một công ty có thể tạo ra một quy định cho việc tái cơ cấu của việc mua lại này, từ đó sẽ tạo ra thiệt hại trong tương lai, vì những thiệt hại này đều được xem như một phần chi phí của việc mua lại.

Purchase Order / Đơn Đặt Hàng

Là một văn bản uỷ quyền cho một nhà cung cấp để cung cấp hàng hoá, dịch vụ ở một mức giá quy định trong một khoảng thời gian quy định. Chấp nhận đơn đặt hàng tạo thành một hợp đồng mua bán và ràng buộc pháp lý trên tất cả các bên.

Purchase Tax / Thuế Mua Hàng

Một loại thuế doanh thu.Nó tồn tại ở nước Anh trước khi áp dụng thuế giá trị gia tăng vào năm 1973. Nó là loại thuế tính theo tổng giá trị đánh vào một số hàng đặc biệt ở mức bán buôn.

Sách Combo 4 Cuốn : Tư Duy Ngược + Tư Duy Mở + Biến Mọi Thứ Thành Tiền Chuột không dây Ugreen M751 với con lăn vô cực Máy chơi game retro Powkiddy X55