Tax Evasion / Trốn Thuế
Trốn thuế nghĩa là khai thuế sai sự thật cho cơ quan thuế.
Trốn Thuế (Tax Evasion) là một thuật ngữ trong tài chính. Nó mô tả khái niệm, cơ chế hoặc quy trình cụ thể, được sử dụng trong phân tích, định giá, giao dịch và quản trị rủi ro. Ví dụ: Trốn Thuế (Tax Evasion) có thể dùng trong phân tích báo cáo tài chính hoặc định giá doanh nghiệp, tùy ngữ cảnh. Ứng dụng: hỗ trợ lập báo cáo, phân tích, thẩm định và ra quyết định tài chính. Khi áp dụng, cần lưu ý đến bối cảnh pháp lý và thị trường để hiểu đúng.
Public Choice / Sự Lựa Chọn Công Cộng
Một ngành kinh tế học liên quan đến việc áp dụng kinh tế học vào việc phân tích sự quyết định "Phi thị trường".
Tax Credit / Tín Dụng Thuế
Trong các hệ thống thuế của châu Mỹ - như Canada, Mỹ hay tại Australia và Anh thì tín dụng thuế là thuật ngữ dùng để chỉ việc ghi nhận một phần thuế đã đóng trong tổng số thuế. Trên thực tế, Tín dụng thuế là ghi nhận rằng một phần tiền thuế đã được nộp trong tổng số thuế phải đóng và là phúc lợi do nhà nước trả cho người lao động thông qua hệ thống thuế nhằm giúp tăng thêm thu nhập ròng.
Public Company / Công Ty Đại Chúng
Công ty đại chúng là công ty cổ phần đã phát hành chứng khoán ra công chúng. Sau khi phát hành chứng khoán ra công chúng, tổ chức phát hành trở thành công ty đại chúng (có đăng ký). Công ty đại chúng có nghĩa vụ phải công khai thông tin về hoạt động của mình theo quy định của pháp luật, Ủy ban Chứng khoán Nhà nuớc và Sở Giao dịch chứng khoán nhằm đảm bảo cho nhà đầu tư có đuợc thông tin đầy đủ về hoạt động thuờng xuyên cũng như những sự kiện bất thuờng của công ty. Ưu điểm của hình thức tổ chức công ty đại chúng: - Công ty được xã hội biết đến do có tên tuổi xuất hiện công khai trên thị trường chứng khoán, trên báo chí, công ty đã khẳng định được danh tiếng uy tín thì khi cần huy động vốn ngoài xã hội, công ty dễ dàng có thể tiếp tục phát hành cổ phiếu, trái phiếu với chi phí phát hành thấp hơn lần phát hành truớc. - Công ty phải báo cáo công khai hoạt động của mình cho công chúng, nên chịu sự giám sát của công chúng, xã hội. Thêm vào đó, Hội đồng Quản trị và Ban giám đốc phải công khai các hoạt động quản lý và điều hành công ty. Ban giám đốc phải chăm lo việc phát triển công ty cải tiến kỹ thuật, cải tiến quản lý, cơ cấu hợp lý vốn, nếu không thì các giám đốc sẽ bị sa thải; nhu vậy hoạt động công ty đại chúng đã ràng buộc các giám đốc phải tuân thủ pháp luật, điều hành công ty theo đúng luật công ty. - Nhà nước bớt đuợc gánh nặng phải trợ giúp vốn ngân sách cho công ty, và như vậy Nhà nuớc có thể tập trung sức lực vào nhiệm vụ trọng đại của mình là đầu tư cơ sở hạ tầng. Tuy nhiên hình thức công ty đại chúng cũng tồn tại một số nhược điểm: - Sau khi hoàn tất việc phát hành công ty sẽ chịu áp lực giám sát của xã hội, chịu áp lực phải duy trì đuợc giá cổ phiếu của mình trên thị trường chứng khoán để thu hút nhà đầu tư. - Trong hoạt động của mình, công ty sẽ phải bỏ ra nguồn lực lớn về tài chính và con người để chuẩn bị các báo cáo tài chính thường niên, báo cáo các sự kiện bất thường xảy ra đối với công ty, báo cáo khi Uỷ ban Chứng khoán và Sở giao dịch chứng khoán (Trung tâm giao dịch chứng khoán) yêu cầu. - Khi phát hành, công ty sẽ phải chịu các chi phí đợt phát hành: chi phí thuê hãng kiểm toán độc lập để lập báo cáo kiểm toán hoạt động của công ty, chi phí thuê người bảo lãnhphát hành, chi phí chuẩn bị hồ sơ, giấy tờ để xin phép phát hành, chi phí quảng cáo cho đợt phát hành. - Cơ cấu cổ đông thuờng xuyên thay đổi dẫn đến sự biến đổi và bất ổn định trong quá trình quản lý công ty, và có thể đe doạ đến quyền kiểm soát của các cổ đông lớn.
Tax Competition / Cạnh Tranh Thuế
Một cách dễ thu hút doanh nghiệp là giảm thuế, đặc biệt là thuế thu nhập. Xu hướng cạnh tranh thuế quốc tế đang tăng lên do tính lưu động ngày càng cao của vốn và lao động. Có nhiều ý kiến ủng hộ cũng như chỉ trích xu hướng này. Phe ủng hộ giảm thuế thường lấy Ireland làm ví dụ. Quốc gia 3,8 triệu dân này có thuế thu nhập công ty chỉ 10% và trong vài năm qua nhận được đầu tư trực tiếp nước ngoài nhiều hơn cả Nhật hay Ý. Thu nhập bình quân đầu người của Ireland đã nhanh chóng bắt kịp với các nước còn lại ở châu Âu. Có ba lập luận thường được đưa ra. Thứ nhất, một nước có thuế thấp sẽ thu hút nhiều doanh nghiệp. Thứ hai, thuế thấp sẽ làm giảm mất mát vô ích do đánh thuế. Cuối cùng, cạnh tranh thuế làm cho các chính phủ mất thế độc quyền và buộc phải trở nên hiệu quả hơn. Tuy nhiên, nhiều người lại cho rằng cạnh tranh thuế là có hại. Thứ nhất, quyết định đầu tư có thể bị biến dạng. Lao động và vốn có thể chuyển đến các nước có thuế thấp, nhưng có thể nơi đó không phải là nơi có năng suất cao nhất. Thứ hai, thuế lũy tiến cao không còn khả thi vì các doanh nghiệp và cá nhân có thu nhập cao có thể chuyển sang những nước có thuế thấp. Như vậy cạnh tranh thuế làm giảm tác dụng tái phân phối của thuế. Hơn nữa, thu ngân sách giảm do cạnh tranh thuế chưa hẳn làm cho chi tiêu của chính phủ trở nên hiệu quả hơn. Điều này đặc biệt nguy hiểm đối với các nước nghèo đang cần phải đầu tư để giải quyết vấn đề hạ tầng cơ sở bị quá tải. Càng giảm số thu thuế thì càng phải đi vay nhiều. Quốc gia mắc nợ cao sẽ khiến các nhà đầu tư e ngại, trong khi tạo gánh nặng nợ cho thế hệ sau. Tóm lại, các quốc gia cần cạnh tranh bằng việc đưa ra môi trường kinh doanh tốt, trong đó thuế chỉ là một yếu tố, nhằm thu hút lao động tay nghề cao và các ngành kinh doanh có giá trị gia tăng cao. Các chính phủ cũng phải tránh bị hút vào “cuộc đua tụt xuống đáy” do giảm thu thuế và tăng nợ vay.
Tax Cheat / Gian Lận Thuế
Một cá nhân ( hay một tổ chức) đã có những hành vi gian lận, không trung thực hoặc trốn tránh việc không thực hiện nghĩa vụ đóng thuế bắt buộc, làm giảm số thuế phải nộp hoặc làm tăng số thuế được hoàn hoặc được miễn, giảm.. Một trường hợp gian lận thuế thường là các hành vi cố ý làm sai lệch thông tin kinh tế, tài chính do một người hay nhiều người trong Hội đồng quản trị, Ban Giám đốc, các nhân viên hoặc bên thứ ba thực hiện, làm ảnh hưởng đến Báo cáo tài chính. Chế tài cho những hành vi gian lận thuế có thể là bị phạt tiền hoặc phạt tù. Ví dụ như ở Mỹ, Cục thuế nội địa Hoa Kỳ khuyến khích việc thông báo và tố giác những trường hợp bị nghi ngờ là gian lận thuế. Những trường hợp tố giác đúng người có hành vi gian lận thuế trong thực tế sẽ được nhận những phần thưởng có giá trị.
Public Expediture / Chi Tiêu Công Cộng
Nói một cách rộng rãi, chi tiêu của các cơ quan chính quyền địa phương và quốc gia được phân biệt với chi tiêu tư nhân, những tổ chức hoặc doanh nghiệp tư nhân.
Tax Avoidance / Tránh Đánh Thuế
Tránh đánh thuế: giảm số tiền thuế bạn phải trả tối thiểu quy phạm pháp luật.
Perpetual Bond / Trái Phiếu Vĩnh Viễn
Trái phiếu vĩnh viễn (perpetual bond hay Perpetual hay gọi ngắn gọn chỉ là Perp) là trái phiếu không có ngày đáo hạn. Loại trái phiếu này không phổ biến ở Mỹ, nhưng cũng phổ biến ở một số nước như Anh Quốc (công trái hợp nhất - Consols), ở Pháp (Công trái thực lợi - Rentes). Do không có ngày đáo hạn nên tổ chức phát hành này sẽ không thu hồi trái phiếu này, và coi như người nắm giữ trái phiếu sẽ sở hữu một "khoản cho vay" có thể coi là vĩnh viễn, chính vì vậy họ cũng sẽ được hưởng lãi suất mãi mãi. Đa phần trái phiếu vĩnh viễn mà công ty phát hành hiện nay thuộc loại trái phiếu bổ sung, nó đáp ứng nhu cầu về vốn cho tổ chức đó mà việc thanh toán những khoản nợ này không qui định quá nghiêm ngặt. Trên thực tế những trái phiếu loại này có thể thanh toán được, tức là người cầm giữ chúng vẫn có thể thu hồi lại khoản tiền của mình, nhưng lần yêu cầu trả nợ đầu tiên ít nhất phải là 10 năm kể từ ngày phát hành. Có thể công ty sẽ thực hiện việc trả nợ trái phiếu này vào lúc làm ăn hiệu quả, lợi nhuận cao nhưng việc trả nợ này hoàn toàn phụ thuộc vào công ty phát hành. Ngược lại nếu công ty vỡ nợ thì việc trả nợ trái phiếu này sẽ là nghĩa vụ sau cùng của công ty, và khả năng người cầm giữ trái phiếu mất trắng hoặc chỉ thu hồi được tiền một phần là rất cao. Và nếu xét về bản chất thì trái phiếu vĩnh viễn là "vốn loại 1". Vốn loại 1 là những nguồn vốn bắt nguồn từ những chứng khoán mà chủ sở hữu (cổ đông) không thể thu hồi lại bằng cách đòi tiền trực tiếp từ tổ chức phát hành, ví dụ như cổ phiếu phổ thông, cổ phiếu ưu đãi, trái phiếu bổ sung. Đây là những nguồn vốn "chặt" của một công ty, có thể hiểu là không bao giờ bị suy giảm. Trái phiếu vĩnh viễn là một trong loại trái phiếu bổ sung nên nó thuộc "Vốn loại 1", một khi công ty đã phát hành trái phiếu này có thể coi công ty sẽ sở hữu khoản vốn này một cách mãi mãi, tất nhiên sẽ phải trả lãi suất cho người cầm giữ mãi mãi. Chính vì vậy tương tự như trái phiếu bổ sung, công ty sẽ phát hành trái phiếu vĩnh viễn khi nhu cầu vốn lên cao nhưng không muốn chia sẻ quyền quản lý, và muốn giữ nguồn vốn từ loại trái phiếu này ổn định. Trái phiếu vĩnh viễn thích hợp với những người có khoản tiền nhàn rỗi ưa hưởng lãi suất cố định hàng năm và không muốn đầu tư chứng khoán mạo hiểm.
Permanent Income Hypothesis / Giả Thuyết Thu Nhập Thường Xuyên
Giả thiết cho rằng tiêu dùng của cá nhân hoặc hộc gia đình phụ thuộc vào thu nhập thường xuyên của cá nhân ấy hoặc hộ ấy.
Tarrif War / Cuộc Chiến Thuế Quan
Một cuộc chiến kinh tế giữa hai quốc gia trong đó Quốc gia A tiến hành bảo hộ xuất khẩu trong nước bằng cách tăng thuế xuất khẩu của quốc gia B vào nước này và để đáp trả lại, quốc gia B cũng tăng thuế xuất khẩu của nước A vào thị trường nội địa của mình. Mức thuế được tăng lên nhằm gây tổn hại về kinh tế cho quốc gia khác bởi thuế quan có vai trò thúc đẩy chi tiêu của người dân, nếu thuế suất lên cao thì người tiêu dùng chuyển từ nhu cầu mua sản phẩm ngoại sang sản phẩm nội địa, qua đó tăng tổng chi tiêu quốc nội đối với tất cả các loại mặt hàng. Một lý do khác giải thích vì sao một quốc gia có thể kích động một cuộc chiến thuế quan là bởi vì quốc gia này không đồng tình với một quyết định mang tính chất chính trị về thương mại của quốc gia đối tác. Hành động này được hy vọng sẽ đủ để làm gia tăng áp lực kinh tế lên một quốc gia khác, qua đó gây sức ép để quốc gia đối đầu thay đổi về chính sách của mình. Cuộc chiến thuế quan này còn được biết đến với khái niệm khác là cuộc chiến hải quan. Một cuộc chiến thuế quan cũng được biết đến với tên gọi khác đó là cuộc chiến về giá được thực hiện thông qua hành vi liên tục giảm giá của hai hay nhiều công ty đang cạnh tranh để dành thị phần. Định nghĩa này được dựa trên ý nghĩa thứ hai của “thuế quan”, trong đó có thể được hiểu là giá cả, đặc biệt là khi đề cập đến những lợi ích từ thị trường tiêu dùng. Ví dụ, vào giữa cuối năm 2009, tập đoàn viễn thông Ấn Độ bao gồm Bharti Airtel, Tata DoCoMo, Reliance Communications, Idea Cellular và những công ty khác tham gia vào một chiến tranh thuế quan, những công ty này đã đưa ra mức giá rẻ hơn cho mỗi phút sử dụng điện thoại di động so với các công ty khác. Điều này đã tạo nên một cuộc chiến hỗn loạn trên thị trường viễn thông.
Permanent Income / Thu Nhập Thường Xuyên
Thu nhập thường xuyên cũng có nghĩa là thu nhập bình thường và thu nhập dự kiến trung bình. Nó là thu nhập trung bình mà cá nhân hoặc hộ gia đình dự kiến nhận được trong một số năm trong khi vẫn giữ nguyên của cải của mình.
Tariff / Thuế Quan
Một khoản thuế đánh vào hàng hóa di chuyển từ một khu vực hải quan này tới khu vực khác vì mục đích bảo hộ hoặc tăng thu nhập thuế. Thuế quan làm tăng giá cả hàng hóa nhập khẩu, vì vậy làm cho chúng nói chung có ít khả năng cạnh tranh hơn trên thị trường nước nhập khẩu trừ khi nước nhập khẩu không sản xuất loại hàng bị đánh thuế náy. Sau bảy "vòng" đàm phán thương mại của GATT mà chủ yếu tập trung vào việc giảm thuế quan, các loại thuế quan không còn là những biện pháp bảo hộ quan trọng như chúng đã từng được sử dụng. Thuật ngữ "thuế quan" (tariff) thường ám chỉ một danh mục hay một "biểu" hàng hóa với thuế suất phải trả ch chính phủ đối với các sản phẩm nhập khẩu được đưa vào danh mục, trong khi thuật ngữ "thuế" (duty) chỉ là thuế suất áp dụng cho một khoản mục thuế quan riêng biệt.
Permanent Consumption / Mức Tiêu Dùng Thường Xuyên
Mức tiêu dùng trung bình mà một cá nhân hoặc hộ gia đình dự định thực hiện trong một số năm.
Mức Tiêu Dùng Thường Xuyên (Permanent Consumption) là một thuật ngữ trong tài chính. Nó mô tả khái niệm, cơ chế hoặc quy trình cụ thể, được sử dụng trong phân tích, định giá, giao dịch và quản trị rủi ro. Ví dụ: Mức Tiêu Dùng Thường Xuyên (Permanent Consumption) có thể dùng trong phân tích báo cáo tài chính hoặc định giá doanh nghiệp, tùy ngữ cảnh. Ứng dụng: hỗ trợ lập báo cáo, phân tích, thẩm định và ra quyết định tài chính. Khi áp dụng, cần lưu ý đến bối cảnh pháp lý và thị trường để hiểu đúng.
Targeted Investments / Các Khoản Đầu Tư Mục Tiêu
Các quỹ tương hỗ luôn luôn hướng tới một mục tiêu cụ thể nào đó. Để đạt được những mục tiêu đó, các quỹ sẽ thực hiện một số loại hình đầu tư. Mọi quỹ tương hỗ dù là quỹ cổ phiếu, trái phiếu hoặc thị trường tiền tệ - thường được thành lập với các mục tiêu đầu tư cụ thể tương ứng với một trong ba mục tiêu cơ bản sau: Thu nhập hiện tại Thu nhập ở một mức nào đó và sự tăng trưởng Tăng trưởng trong tương lai Để thực hiện được mục tiêu của mình, một quỹ tương hỗ thường đầu tư vào các chứng khoán mà quỹ tin rằng các chứng khoán đó sẽ mang lại kết quả như quỹ mong muốn. Để xác định được các loại chứng khoán phù hợp với đầu tư, quỹ thường phải thực hiện một khối lượng lớn các nghiên cứu, bao gồm cả thể thức bottom-up, tức là phương pháp nghiên cứu sử dụng các phân tích chi tiết về các công ty riêng lẻ. Khi mục tiêu của quỹ là sự tăng trưởng của các công ty nhỏ, hoặc quỹ chỉ đặt sự tập trung vào các thị trường đang tăng trưởng thì việc thực hiện nghiên cứu có thể khó khăn hơn vì ở những thị trường này, chỉ có được một khối lượng thông tin rất giới hạn. Ngoài ra, mỗi người quản lý của quỹ tương hỗ có một phong cách mua hàng riêng, tìm kiếm một loại hình đầu tư riêng nào đó từ một nhóm các loại hình đầu tư có thể phù hợp với mục tiêu của quỹ đó. Ví dụ, một số nhà quản lý quỹ cổ phiếu thường chú trọng đến phần giá trị, có nghĩa là mua các loại cổ phiếu có giá thấp hơn giá kỳ vọng. Các nhà quản lý khác có thể là những người theo xu hướng ngược lại, mua các khoản đầu tư mà những nhà đầu tư khác e ngại.
Periodic Inventory Method / Phương Pháp Kiểm Kê Định Kỳ
Hệ thống kiểm soát hàng tồn kho trong đó ghi chép lại những thay đổi không liên tục theo chu kỳ của hàng hóa được lưu giữ ( biên lai và các vấn đề của hàng tồn kho). Khi kết thúc kỳ kế toán, việc kết thúc đợt kiểm kê hàng tồn kho sẽ được xác định bởi một số lượng (vật lý) thực tế của hàng còn trong kho và chi phí của nó được tính toán bằng cách sử dụng một phương pháp phù hợp như FIFO, LIFO, trung bình trọng.v.v… Số tiền này được trừ vào số tiền mua hàng ( hoặc chi phí của hàng hóa đầu vào) và thời điểm ban đầu của kê khai hàng tồn kho của một kỳ kế toán mới cho đến chi phí của hàng bán.
Phương Pháp Kiểm Kê Định Kỳ (Periodic Inventory Method) là một thuật ngữ trong tài chính. Nó mô tả khái niệm, cơ chế hoặc quy trình cụ thể, được sử dụng trong phân tích, định giá, giao dịch và quản trị rủi ro. Ví dụ: Phương Pháp Kiểm Kê Định Kỳ (Periodic Inventory Method) có thể dùng trong phân tích báo cáo tài chính hoặc định giá doanh nghiệp, tùy ngữ cảnh. Ứng dụng: hỗ trợ lập báo cáo, phân tích, thẩm định và ra quyết định tài chính. Khi áp dụng, cần lưu ý đến bối cảnh pháp lý và thị trường để hiểu đúng.
Public Finance / Tài Chính Công
Trên thực tế, có nhiều ý kiến khác nhau về phạm trù tài chính công - có ý kiến cho rằng tài chính công đồng nghĩa với tài chính nhà nước, nhưng có ý kiến khác lại cho rằng tài chính công là một bộ phận tài chính nhà nước. Nhìn lại lịch sử ra đời và phát triển của tài chính có thể thấy, khi nhà nước xuất hiện thì đồng thời cũng xuất hiện các khoản chi tiêu về quản lý hành chính, tư pháp, quốc phòng nhằm duy trì quyền lực chính trị của nhà nước và những khoản chi tiêu này được tài trợ từ các nguồn lực đóng góp của xã hội như: thuế, công trái, vay nợ, tiền lãi phát hành tiền - đó là nguồn tài chính để phục vụ các chi tiêu của Chính phủ. (Nếu có sự chênh lệch giữa khoản thu vào và chi ra thì được gọi là thặng dư hoặc thâm hụt ngân sách.) Và thuật ngữ tài chính nhà nước đã bắt đầu xuất hiện. Đây là một khái niệm dùng để phản ảnh những hoạt động tài chính gắn liền với chủ thể nhà nước. Tài chính công (hay còn gọi là kinh tế công hoặc tài chính nhà nước, tài chính chính phủ) là một thuật ngữ trong lĩnh vực kinh tế học, dùng để nghiên cứu về chi phí hoạt động của Chính phủ và các tổ chức tự nguyện, tập trung kiểm soát và thiết kế hoạt động đó. Trong đó các vấn đề cần ưu tiên giải quyết là Chính phủ nên làm gì - đang làm gì - làm thế nào - để có tiền chi trả cho các hoạt động đó. Chính phủ được xác định có 3 loại chi tiêu chính: Tiêu dùng: Chính phủ mua hàng hoá và dịch vụ để sử dụng; Đầu tư: Chính phủ mua hàng hoá và dịch vụ với mục đích tạo ra lợi nhuận trong tương lai; Phân phối phúc lợi: chi phí không dùng để mua sắm hàng hoá, dịch vụ mà chi tiêu vào các hoạt động phúc lợi xã hội.
Tài Chính Công (Public Finance) là một thuật ngữ trong tài chính. Nó mô tả khái niệm, cơ chế hoặc quy trình cụ thể, được sử dụng trong phân tích, định giá, giao dịch và quản trị rủi ro. Ví dụ: Tài Chính Công (Public Finance) có thể dùng trong phân tích báo cáo tài chính hoặc định giá doanh nghiệp, tùy ngữ cảnh. Ứng dụng: hỗ trợ lập báo cáo, phân tích, thẩm định và ra quyết định tài chính. Khi áp dụng, cần lưu ý đến bối cảnh pháp lý và thị trường để hiểu đúng.
Target Funds / Các Quỹ Với Mục Tiêu Tập Trung
Các công ty quỹ tương hỗ thường mở rộng phạm vi hoạt động của họ và mở rộng các cơ hội họ mang đến cho nhà đầu tư bằng cách phát triển các quỹ đặc biệt. Quỹ trái phiếu là loại quỹ tương hỗ lâu đời nhất và vẫn còn là loại quỹ tương hỗ thông dụng nhất. Nhưng khi việc đầu tư vào các quỹ đã trở nên ngày càng phổ biến, các công ty quỹ đáp ứng nhu cầu này bằng cách tăng thêm các phương án đầu tư nhằm nỗ lực nhằm thu hút thêm nhiều người vào các mục tiêu đầu tư cụ thể nào đó. Rất nhiều các quỹ ra đời sau đã xác định mục tiêu và chiến lược của họ ở một phạm vi hẹp hơn, tập trung vào các yếu tố thị trường trước đây chưa từng được khai thác. Các quỹ khác thì bổ sung thêm các mục tiêu và chiến lược nhằm cạnh tranh với các quỹ hiện đã rất được ưa chuộng. Một số quỹ dạng này là: Index Fund-Các quỹ đầu tư theo chỉ số Market Neutral Funds - Các quỹ điều hoà theo thị trường Tax-Free Funds - Quỹ theo đuổi mục tiêu miễn thuế Sector Funds - Các quỹ ngành Các quỹ kim loại quý Quỹ môi trường và các quỹ khác Quant funds
Performance Bond / Trái Phiếu Bảo Đảm
1. Trái phiếu đòi hỏi thanh toán khoản tiền cho người vay thụ hưởng, nếu người mua hay người ký phát không thực hiện điều gì đó hay vi phạm hợp đồng. Nó có thể là trái phiếu bảo đảm được mua từ công ty bảo hiểm, hay tiền mặt được giữ trong tài khoản giám hộ bởi ngân hàng hay bên thứ ba. 2. Thư tín dụng hỗ trợ được phát hành bởi một ngân hàng, bảo đảm cho một ngân hàng phát hành sẽ trả cho người thụ hưởng là bên thứ ba, trong trường hợp khách của ngân hàng không đáp ứng nghĩa vụ hợp đồng. Ví dụ. một nhà thầu có thể đề nghị công ty bảo hiểm phát hành một giấy bảo chứng vì quyền lợi của khách hàng mà nhà thầu này kí hợp đồng xây dựng một toà nhà. Nếu nhà thầu này không hoàn thành công trình theo như thiết kế đã nêu lên trong hợp đồng (thường là do phá sản) thì khách hàng sẽ được đảm bảo bồi thường mọi tổn thất về mặt tài chính trong phạm vi số tiền của giấy bảo chứng. Giấy bảo chứng thường được sử dụng phổ biến trong phát triển các dự án bất động sản, trong đó nhà đầu tư hoặc chủ công trình có thể yêu cầu nhà phát triển dự án(developer) đảm bảo các nhà thầu hay các nhà quản lý dự án có mua những bảo lãnh kiểu như vậy để chắc chắn rằng giá trị công trình sẽ không bị tổn thất trong trường hợp cố sự cố bất ngờ. Ngoài ra giấy bảo chứng cũng được sử dụng để đảm bảo thực hiện các hợp đồng kì hạn, nếu đến kì hạn mà bên kí hợp đồng không mua hàng (nếu giá bất lợi chẳng hạn) thì bên kia sẽ được bồi thường bằng số tiền như trong giấy bảo chứng. Trong lĩnh vực ngoại thương người mua có thể yêu cầu người bán phải có giấy bảo chứng của ngân hàng, đảm bảo rằng người bán sẽ giao hàng đúng hẹn. Đến thời hạn giao hàng, nếu người mua đã chỉ định một con tàu đến cảng bốc để nhận hàng mà người bán không có hàng để giao thì người mua sẽ nhận được số tiền bồi thường từ phía ngân hàng bảo lãnh cho người bán. Số tiền này giúp người mua bù đắp một phần hoặc toàn bộ các chi phí đã bỏ ra để chuẩn bị cho việc thực hiện hợp đồng như tiền thuê tàu, các loại chi phí lệ phí liên quan khi vào cảng.
1. Trái phiếu đòi hỏi thanh toán khoản tiền cho người thụ hưởng, nếu người mua hay người ký phát không thực hiện điều gì đó hay vi phạm hợp đồng. Nó có thể là trái phiếu bảo đảm được mua từ công ty bảo hiểm, hay tiền mặt được giữ trong tài khoản giám hộ bởi ngân hàng hay bên thứ ba. 2. Thư tín dụng hỗ trợ được phát hành bởi một ngân hàng, bảo đảm cho ngân hàng phát hành sẽ trả cho người thụ hưởng là bên thứ ba, trong trường hợp khách hàng của ngân hàng không đáp ứng nghĩa vụ hợp đồng.
Public Good / Hàng Hóa Công Cộng
Một hàng hoá hoặc dịch vụ mà nếu đã cung cấp cho một người nào đó thì đối với những người khác cũng được cung cấp như vậy mà không phải chịu bất cứ chi phí nào thêm.






