Time-Of-Day Order / Lệnh Đặt Vào Thời Gian Nhất Định
Một lệnh để mua hoặc bán một tài sản được đặt vào một quãng thời gian nhất định trong một phiên giao dịch. Một lệnh như thế được đưa ra vào một mốc thời gian ấn định trước và vẫn còn hiệu lực cho đến khi kết thúc. Lệnh đặt vào thời điểm cụ thể cho phép nhà đầu tư tham gia vào thị trường vào những khoảng thời gian nhất định. Một nhà đầu tư đang có ý định đặt lệnh ngay sau khi kết thúc các cuộc họp báo hoặc ngay sau khi thông tin về vấn đề nào đó được đưa ra sẽ đặt lệnh để bán hoặc mua chứng khoán vào thời điểm thông tin vừa được công bố. Ví dụ, một nhà đầu tư có thể đặt lệnh bán 100 cổ phiếu của Microsoft vào ngày 15 tháng 7 lúc 2 giờ chiều.
Time Value Of Money / Giá Trị Tiền Tệ Theo Thời Gian
Đây là lý thuyết cơ bản trong lĩnh vực tài chính, cho rằng lượng tiền mà chúng ta nắm giữ trong hiện tại sẽ có giá trị hơn so với lượng tiền tương tự mà ta nắm giữ trong tương lai vì tiền có khả năng sinh lợi. Tất cả mọi người đều biết rằng khi gửi tiền ở ngân hàng ta sẽ thu được một khoản tiền lãi nhất định. Chính vì thế ai cũng lựa chọn việc nhận tiền vào ngày hôm nay hơn là nhận cùng một số lượng tương tự vào ngày nào đó trong tương lai, nhận tiền sớm chừng nào thì càng có lợi chừng đó. Ví dụ: giả định rằng với tỷ lệ lãi suất là 5%, khoản đầu tư trị giá 100 đôla hôm nay sẽ có giá 105 đôla sau một năm (100x1.5 = 105 ). Ngược lại, khoản tiền 100 đôla nhận được sau một năm chỉ có giá là 95.24 đôla ở thời điểm hiện tại (100/ 1.5 = 95.24 ) Có thể lấy một ví dụ khác để dễ hình dung hơn. Giả định rằng bạn nhận được hai lời đề nghị : Nhận ngay 10.000 đôla Nhận 10.000 đôla trong vòng 3 năm Vậy thì bạn sẽ lựa chọn đề nghị nào? Đương nhiên giống như phần lớn mọi người bạn có thể sẽ lựa chọn nhận ngay 10.000 USD vì 3 năm là khoảng thời gian quá dài và chẳng ai muốn chờ đợi lâu như vậy. Nhưng tại sao không ai lựa chọn cách thứ hai, nhận tiền sau 3 năm vì dù sao đó vẫn là số tiền 10.000USD? Đơn giản là vì nếu nhận ngay số tiền trên bạn sẽ có cơ hội để làm tăng giá trị của nó trong tương lai bằng cách đầu tư kiếm lời hoặc ít nhất là cũng có thể gửi ngân hàng để hưởng lãi. Vd: bạn đầu tư vào cổ phiếu và nhận được lãi 20%/năm. Sau 1 năm bạn sẽ có : 10.000x1.2 = 12.000USD. năm sau đó bạn tiếp tục đầu tư cả 12000USD vào thị trường chứng khoánvà hưởng lãi bình quân là 15%/năm, khi đó số tiền mà bạn có là: 12.000x 1.15 = 13.800 USD. Sang năm thứ 3 nhận thấy đầu tư tiếp vào thị trường chứng khoán là quá mạo hiểm, bạn quyết định gửi ngân hàng với mức lãi suất là 9%/ năm. Như vậy tính đến năm thứ ba bạn sẽ có 13.800x1.09 = 15.042USD. Tuy nhiên nếu lựa chọn cách thứ hai bạn sẽ không có cơ hội để đầu tư ngay ở hiện tại, và 10.000USD đã chính là giá trị tương lai. Rõ ràng là cùng một số tiền như nhau nhưng sau 3 năm đã chênh lệch nhau đến 1.042USD_một số tiền đáng kể. Tuy những con số trên chỉ là giả thiết nhưng rõ ràng rằng số tiền ở hiện tại chắc chắn sẽ cho ta một cơ hội để làm nó sinh lời và do đó có giá hơn lượng tiền tương tự trong tương lai.
Project Financing / Tài Trợ Dự Án
Tài trợ dự án được định nghĩa là hoạt động cung cấp tài chính cho dự án đầu tư trong đó nhà đầu tư căn cứ chủ yếu vào dòng tiền (cash flow) phát sinh từ dự án để hoàn tất trách nhiệm tài chính, và căn cứ vào chính tài sản và năng lực sinh lợi của dự án là giá trị bảo đảm các trách nhiệm tài chính. Tài trợ dự án có các thuộc tính quan trọng sau: Tài trợ dự án hướng về tương lai, hiệu quả của đối tượng đầu tư Kích thước đầu tư linh động Giải pháp tổng thể, đề cập tới một tập hợp các yếu tố từ ý đồ, cấu trúc, nguồn lực, nhân sự... Tài trợ cấu trúc: Có khả năng thiết kế tài trợ cấu trúc phức hợp, phân lớp rủi ro giữa nhiều nhà cung cấp tín dụng. Cấu trúc còn thể hiện ở chỗ một số nhà đầu tư còn thể hiện ở chỗ một số nhà đầu tư sẽ nhận được một số quyền ưu tiên trong cấu trúc chia lãi, trả nợ và thanh toán phần thanh lý, mà chi tiết cụ thể và mức tham gia của nhà đầu tư quyết định. Một quá trình tài trợ dự án chất lượng thường được cấu thành như sau: Xác định dự án Thẩm định tiền khả thi Nghiên cứu khả thi Kết nối nguồn tài trợ Triển khai tài trợ và theo dõi dự án
Tight Monetary Policy / Chính Sách Tiền Tệ Thắt Chặt
Trái ngược với Chính sách tiền lệ dễ dàng, khi đó cơ quan tiền tệ trung ương, ví dụ Cục dự trữ Liên Bang, tìm kiếm các biện pháp giới hạn tín dụng và tăng tỉ lệ lãi suất.Một loạt các hành động được bảo đảm thực hiện bởi ngân hàng Trung ương của một quốc gia nhằm mục đích thắt chặt chi tiêu của một nền kinh tế khi nó có xu hướng đang tăng trưởng quá nhanhh, hoặc để kiềm chế lạm phát khi lạm phát cũng tăng cao ở tốc độ quá nhanh, vượt xa mức lạm phát dự kiến. Các Ngân hàng Trung ương thường thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt bằng cách tăng lãi suất ngắn hạn (ví dụ như lãi suất chiết khấu). Cách này sẽ làm gia tăng chi phí đi vay tiền, do đó việc vay tiền lúc này sẽ kém hấp hẫn hơn. Khi đó các chủ thể cần vốn trong nền kinh tế sẽ tự động xem xét lại, thắt chặt hơn trong chi tiêu, phân bổ nguồn vốn. Trong suốt thời kỳ thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt, Ngân hàng Trung ương cũng có thể bán trái phiếu chính phủ ra thị trường mở để thu tiền về. Một chính sách tiền tệ thắt chặt sẽ được ngân hàng Trung ương xem xét thực hiện trong giai đoạn nền kinh tế tăng trưởng quá mạnh.
Promissory Note / Notes Payable / Chứng Từ Nhận Nợ / Hối Phiếu Nhận Nợ
Là một văn bản quy định chi tiết các điều khoản cam kết vô điều kiện của một bên (người làm ra chứng từ) để trả một khoản tiền cho bên kia. Nghĩa vụ này có thể phát sinh từ việc trả lại một khoản vay hoặc một hình thức khác của nợ. Ví dụ, trong bán hàng, giá mua có thể bao gồm cả tiền mặt trả ngay và một hoặc các chứng từ nhận nợ. Các điều khoản của chứng từ thường bao gồm khoản tiền gốc, lãi suất và ngày đáo hạn. Đôi khi sẽ có các điều khoản liên quan đến quyền của bên kia (bên được trả tiền) trong trường hợp bên phải trả bị vỡ nợ, có thể bao gồm cả việc thu tài sản của bên có nghĩa vụ trả nợ. Chứng từ nhận nợ yêu cầu (demand promissory notes) là những chứng từ không có ngày đáo hạn cụ thể, mà đến hạn theo yêu cầu của người cho vay. Thông thường người cho vay chỉ báo trước cho người đi vay một vài ngày trước khi đến hạn trả. Một chứng từ nhận nợ khác so với một IOU bởi vì IOU là một dạng thừa nhận đơn giản của khoản nợ, còn một chứng từ nhận nợ bao gồm cả nhiệm vụ cam kết trả khoản nợ đã được xác định.
Tier 2 Capital / Supplementary Capital / Vốn Cấp Hai
Vốn cấp 2 là thước đo tiềm lực tài chính của một ngân hàng liên quan đến các dạng nguồn lực tài chính có độ tin cậy ở hàng thứ hai (sau vốn cấp 1), xét từ quan điểm của cơ quan quản lý ngành ngân hàng. Các dạng nguồn lực tài chính này được tiêu chuẩn hóa rất rõ ràng trong Basel I và không có gì thay đổi trong Basel II. So với vốn cấp 1, vốn cấp 2 được coi là có độ tin cậy, an toàn thấp hơn. Cơ quan quản lý của hầu hết các quốc gia, kể cả ban thống đốc của FED, đều áp dụng tiêu chuẩn về vốn này trong hệ thống pháp lý của mình. Có một vài cách phân loại vốn cấp 2, nếu theo chuẩn Basel I, vốn cấp 2 bao gồm: lợi nhuận chưa công bố, giá trị tài sản đánh giá lại, các khoản dự phòng rủi ro chung và các công cụ lai giữa nợ và vốn, và các khoản nợ thứ cấp. Với cách phân loại này, trái phiếu chuyển đổi cũng được xếp vào vốn cấp 2 vì nó chính là một dạng công cụ tài chính lai giữa cổ phiếu và trái phiếu. Tuy có vai trò và độ tin cậy thấp hơn vốn cấp 1, song vốn cấp 2 là một trong hai thành tố quan trọng để đánh gia mức độ an toàn vốn của một ngân hàng.
Property / Tài Sản; Quyền Sở Hữu Tài Sản
Tier 1 Capital/ Core Capital / Vốn Cấp Một/ Vốn Nòng Cốt
Vốn cấp 1 là thước đo chủ yếu đánh giá sức mạnh, tiềm lực tài chính của một ngân hàng từ quan điểm của cơ quan quản lý, được định nghĩa trong Basel. Vốn cấp 1 bao gồm các loại nguồn lực tài chính có độ tin cậy cao nhất và có tính thanh khoản tốt nhất, ở chủ yếu đề cập đến vốn cổ đông. Các ví dụ về vốn cấp 1 có thể kể đến: cổ phiếu thường, cổ phiếu ưu đãi không hoàn lại và không tích luỹ, lợi nhuận giữ lại. Theo nghĩa này, vốn cấp 1 không hoàn toàn giống nhưng có liên quan mật thiết đến khái niệm vốn cổ đông, đây là phần chính nhưng không phải tất cả vốn cấp 1. Khái niệm chung là như vậy, tuy nhiên cơ quan quản lý hệ thống ngân hàng mỗi nước, tuỳ theo ý mình lại có những qui định cụ thể riêng về những công cụ tài chính cụ thể nào có thể được tính vào vốn cấp 1. Điều này hoàn toàn dễ hiểu khi mà khung pháp lý ở mỗi hệ thống pháp luật lại khác nhau đôi chút. Ở Việt Nam, theo Quyết Định số 457/2005/QĐ-NHNN ngày 19 tháng 4 năm 2005 của Thống Đốc NHNN ban hành quy định về các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của các tổ chức tín dụng, vốn cấp 1 về cơ bản gồm (i) vốn điều lệ, (ii) lợi nhuận không chia và (iii) các quỹ dự trữ được lập trên cơ sở trích lập từ lợi nhuận của tổ chức tín dụng như quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ, quỹ dự phòng tài chính và quỹ đầu tư phát triển. Về mặt lý thuyết, nguyên nhân để dự trữ vốn là nó giúp các ngân hàng phòng vệ trước những rủi ro ngoài dự kiến. Khác với rủi ro ngoài dự kiến, rủi ro lường trước được thường đã có một phần trích riêng để phòng ngừa. Cụ thể hơn, vốn cấp 1 là một trong những thước đo tỉ lệ đủ vốn của Ngân hàng, đó là tỉ lệ giữa vốn nòng cốt của ngân hàng với tổng tài sản có điều chỉnh rủi ro. Tài sản điều chỉnh rủi ro là tổng tất cả các tài sản do ngân hàng nắm giữ được tính toán theo trọng số đối với rủi ro tín dụng theo một công thức do cơ quan quản lý (thường là Ngân Hàng Trung Ương) đưa ra. Hầu hết các ngân hàng Trung ương đều theo chuẩn BIS - Ngân hàng thanh toán quốc tế - để đặt ra những trọng số này. Các tài sản như tiền mặt, tiền xu thường có trọng số rủi ro là 0, trong khi các khoản vay không có bảo đảm có trọng số 100%. Tỉ lệ an toàn vốn cấp 1 được tính theo công thức: Vốn cấp 1 / Tổng tài sản điều chỉnh rủi ro
Property Rights / Các Quyền Sở Hữu Tài Sản
Những quyền này nói đến việc cho phép sử dụng tài nguyên, hàng hoá và dịch vụ.
Tick Value / Giá Trị Giá Nhỏ Nhất
Trong thị trường hàng hóa tương lai, 'tick value' là giá trị tiền tệ của một 'tick'. Ví dụ: Nếu thị trường tương lai EUR có tick value là 12,50$ thì với mỗi 0,0001 thay đổi trong giá, hợp đồng sẽ tăng thêm hoặc mất đi 12,50 đôla. Ví dụ: Hợp đồng tương lai/ cỡ hợp đồng/ tick size E-Mini S&P 500 50$ x 0.25 = $12.50 E-Mini Nasdaq CME 20$ x 0.50 = $10.00 Australian Dollar 100,000 đôla Australia x 0.0001 = $10.00 British Pound 62,500£ x 0.0001 = $6.25
Proportional Tax / Thuế Tính Theo Tỷ Lệ
Trước hết, ở nơi mà tỷ lệ của thu nhập được lấy ra để nộp thuế vẫn giữ nguyên khi thu nhập tăng, thì có một THUẾ SUẤT BIÊN không thay đổi bằng với thuế suất trung bình hoặc thuế suất hiệu lực. Định nghĩa thứ hai là một thứ thuế tỷ lệ nếu thuế suất không đổi khi cơ sở thuế tăng lên.
Tick Size / Thay Đổi Giá Nhỏ Nhất
Các sàn giao dịch hàng hóa tương lai quy định mức tối thiểu mà giá của hàng hóa có thể dao động lên hoặc xuống. Mức dao động tối thiểu này được gọi là tick size. Mỗi hợp đồng tương lai có độ lớn (size), chất lượng... khác nhau, nên mỗi "tick size" được áp dụng với một hợp đồng phụ thuộc vào những biến số khác nhau. Tick size rất quan trọng đối với việc xác định giá của hợp đồng. Ví dụ, Thị trường giao dịch tương lai EUR có tick size là 0,0001. Điều đó có nghĩa rằng thay đổi nhỏ nhất từ mức 1,2902 là lên mức 1,2903 hoặc xuống 1,2901. Liên quan đến 'tick size' còn có 'TICK VALUE'.
Propulsive Industries / Các Ngành Động Lực
Một ngành then chốt mà sự tương tác và sự mở rộng của chúng có thể tạo nên sự kích thích tăng trưởng trong một nền kinh tế.
Prospect Theory / Lý Thuyết Viễn Cảnh
Một lý thuyết về việc ra quyết định trong tình trạng không chắc chắn. Lý thuyết này gắn với Kahneman và Tversky.
Theory Of Dualism / Lý Thuyết Nhị Nguyên
Thuyết này ban đầu do Mathus đề xướng, ông xem nền kinh tế gồm 2 khu vực chính: nông nghiệp và công nghiệp; chia nền kinh tế thành 2 khu vực và xem xét sự tác động qua lại giữa chúng được coi là làm tăng sự hiểu biết về quá trình phát triển.
The Theory Of The Invisible Hand / Thuyết "Bàn Tay Vô Hình"
Thuyết "Bàn tay vô hình" được Adam Smith – nhà kinh tế học người Scotland đưa ra trong những năm của thế kỉ 18 mà giá trị của nó đến nay vẫn còn được công nhận. Theo Adam Smith thì "Bàn tay vô hình" có nghĩa là: "Trong nền kinh tế thị trường, các cá nhân tham gia muốn tối đa hóa lợi nhuận cho mình. Ai cũng muốn thế cho nên vô tình chung đã thúc đẩy sự phát triển và củng cố lợi ích cho cả cộng đồng." Ông dùng thuật ngữ này mô tả khả năng của cơ chế thị trường trong việc điều chỉnh cung cầu trên thị trường. Và ví sức mạnh của cơ chế thị trường như bàn tay vô hình định hướng người bán và người mua, phân bố nguồn lực kinh tế đạt được hiệu quả xã hội lớn nhất mà không cần sự can thiệp của chính phủ. Theo quan điểm của Adam Smith chính phủ chỉ nên giữ chức năng quản lý. Bởi, "Chính bàn tay vô hình với tư cách là cơ chế tự cân bằng của thị trường cạnh tranh làm cho phúc lợi cá nhân và hiệu quả kinh tế đạt tối đa. Trong khi chạy theo lợi ích riêng của mình, con người phụng sự xã hội nhiều hơn anh ta chủ trương làm điều đó”. Tư tưởng của Adam Smith thích hợp với chủ nghĩa tư bản trong một thời kì dài - thời kì tự do cạnh tranh. Nhưng về sau này, khi vấp phải những cuộc khủng hoảng kinh tế sâu sắc thì những nhà kinh tế học khác lại kêu gọi đến bàn tay hữu hình của Nhà nước để điều chỉnh kinh tế. Để khắc phục những khuyết tật của cơ chế bàn tay vô hình, nền kinh tế hiện đại cần được điều hành bởi sự kết hợp giữa bàn tay vô hình của thị trường với bàn tay hữu hình của Nhà nước thông qua các kênh luật pháp, thuế và nhiều biện pháp kinh tế, tài chính khác.
Prospectus / Bản Cáo Bạch
Khi phát hành chứng khoán ra công chúng, công ty phát hành phải công bố cho người mua chứng khoán những thông tin về bản thân công ty, nêu rõ những cam kết của công ty và những quyền lợi của người mua chứng khoán... để trên cơ sở đó người đầu tư có thể ra quyết định đầu tư hay không. Tài liệu phục vụ cho mục đích đó gọi là Bản cáo bạch hay Bản công bố thông tin. Bản cáo bạch chính là một lời mời hay chào bán để công chúng đầu tư đăng ký hoặc mua chứng khoán của công ty phát hành. Bản cáo bạch bao gồm mọi thông tin liên quan đến đợt phát hành, do đó thông tin đưa ra coi như là một điều kiện thực hiện lời chào bán đó. Thông thường một công ty muốn phát hành chứng khoán phải lập Bản cáo bạch để Ủy ban chứng khoán Nhà nước xem xét, gọi là Bản cáo bạch sơ bộ. Khi đã được chấp thuận bản sơ bộ sẽ được coi là Bản chính thức. Đối với nhà đầu tư, bản cáo bạch là một tài liệu rất quan trọng, là phương tiện giúp họ đánh giá mức độ sinh lời và triển vọng của công ty trước khi ra quyết định có đầu tư hay không, vì một quyết định thiếu thông tin có thể khiến các nhà đầu tư phải trả giá đắt. Bản cáo bạch thường có các nội dung chính như: tóm tắt bản cáo bạch, các nhân tố rủi ro, các khái niệm, các chứng khoán phát hành, các đối tác liên quan đến đợt phát hành, tình hình và đặc điểm của tổ chức phát hành và phụ lục. Trong đó thông tin quan trọng nhất của bản cáo bạch là thông tin tài chính: trong quá khứ và trong tương lai. Thông tin tài chính trong quá khứ là các bản báo cáo tài chính đã được kiểm toán đồng thời có phần thuyết minh và phân tích hoạt động thường là trong 2 năm trước. Dựa vào thông tin này, thông tin tài chính trong tương lai là những kế hoạch dự tính về doanh thu, lợi nhuận, cổ tức...trong năm tới. Qua đó người đầu tư sẽ hình dung được mức lợi nhuận mình có.
Chứng từ thông tin phát biểu ý đinh phát hành chứng khoán, theo yêu cầu của Ủy ban Hối đoái và Chứng khoán. Bản cáo bạch là chứng từ pháp lý nêu lên mục đích của việc phát hành chứng khoán, mô tả chi tiết công việc kinh doanh chủ yếu của công ty phát hành và tình hình tài chính của công ty phát hành, liệt kê các viên chức chính. Nó cũng mô tả cách thức bán cổ phần và chia cổ tức. Bản cáo bạch của quỹ tương hỗ mô tả các quyền mua lại của các nhà đầu tư muốn thanh lý tài sản của họ, và cũng liệt kê phí quản lý, phí thu hồi, và các phí khác phải trả bởi nhà đầu tư, nếu quỹ được chào là quỹ có phí bán. Bản cáo bạch theo sau bản giải trình sơ bộ được gọi là Red herring (giới thiệu sơ bộ). Bản cáo bạch là lời chào bán cổ phần cho công chúng. Bản phụ lục của bản cáo bạch là báo cáo bổ sung cho SEC, bao gồm thông tin về công ty phát hành, không được đề cập trước đó; các bản phụ lục thường được phát hành kết hợp các chứng khoán đăng ký trước, và có thông tin thêm về đợt phát hành cụ thể sẽ được bán. Đạo luật Chứng khoán năm 1933 yêu cầu các công ty phát hành giải trình thông tin đầy đủ liên quan đến việc chào bán để xuất. SEC không chấp thuận hay từ chối việc chào bán, nhưng nó cho phép bản cáo bạch và báo cáo đăng ký được thông qua vào ngày thứ 20 sau ngày lập hồ sơ. Nếu SEC phản đối việc chào bán hay yêu cầu thêm thông tin, thì thời hạn chờ đợi 20 ngày lại bắt đầu trừ khi có ngoại lệ.
The State Securities Commission Of Vietnam - SSC / Uỷ Ban Chứng Khoán Nhà Nước
Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN), trực thuộc Bộ Tài chính, là cơ quan quản lý nhà nước về chứng khoán và TTCK; quản lý nhà nước các dịch vụ công thuộc lĩnh vực chứng khoán và TTCK. Bên cạnh việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Luật Chứng khoán, UBCKNN có trách nhiệm trình Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành theo thẩm quyền hoặc để Bộ trưởng Bộ Tài chính trình cấp có thẩm quyền ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, chiến lược, quy hoạch, chính sách, kế hoạch phát triển …về chứng khoán và thị trường chứng khoán. UBCKNN cũng có trách nhiệm tổ chức thực hiện chiến lược, quy hoạch, chính sách phát triển thị trường chứng khoán và hướng dẫn quy trình nghiệp vụ về chứng khoán, thị trường chứng khoán… Chủ tịch UBCKNN do Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm, miễn nhiệm theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tài chính, chịu trách nhiệm trước Bộ trưởng Bộ Tài chính về toàn bộ hoạt động của UBCKNN.
Province Competitive Index / Chỉ Số Năng Lực Cạnh Tranh Cấp Tỉnh
PCI là chỉ số xếp hạng chất lượng điều hành kinh tế của chính quyền cấp tỉnh trong việc tạo lập môi trường chính sách thuận lợi cho việc phát triển Doanh nghiệp dân doanh. PCI là con số nói lên năng lực cạnh tranh giữa các địa phương trong vấn đề tạo điều kiện cho lực lượng DN phát triển. PCI đảm bảo mang tính đại diện của cộng đồng DN vừa và nhỏ, đồng thời là kênh thông tin tốt đối với chính quyền địa phương cũng như các cấp lãnh đạo trung ương trong việc xác định môi trường kinh doanh của địa phương, giúp lãnh đạo địa phương định hướng trong việc cải thiện môi trường kinh doanh, cũng như nâng cao năng lực cạnh tranh để thu hút các nguồn lực đầu tư.Thứ bậc xếp hạng trong bảng chỉ số PCI chỉ có ý nghĩa tương đối. Điều quan trọng sau chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI là chính quyền mỗi địa phương phải thấy luôn có cảm nhận của DN và nhân dân địa phương mình - như một công cụ giám sát về điều hành, quản lý kinh tế - xã hội, từ đó nỗ lực cải cách.Cạnh tranh trong PCI là sự cạnh tranh về sự hài lòng của DN với chất lượng dịch vụ công. Vấn đề không phải là thứ hạng cao thấp, mà vấn đề nằm ở mức độ thân thiện, làm hài lòng cộng đồng DN ở địa phương đó. Ở nhiều quốc gia, thay vì xem GDP/đầu người là bao nhiêu để đánh giá sự thành công của điều hành, quản lý, chỉ số hạnh phúc và hài lòng của dân chúng được đặt là ưu tiên hàng đầu. PCI chính là dạng chỉ số như vậy, đo sự hài lòng của DN với quản trị địa phương. Chỉ số PCI của Việt Nam sử dụng thang điểm từ 10 (cao nhất) đến 1 (thấp nhất) cho 10 chỉ tiêu sau: Gia nhập thị trường, Tiếp cận đất đai, Tính minh bạch, Chi phí thời gian, Chi phí không chính thức, Ưu đãi với Doanh nghiệp nước ngoài, Tính năng động, Chính sách Phát triển kinh tế tư nhân, Đào tạo lao động, Thiết chế pháp lý. Tổng điểm từ 10 chỉ tiêu này tính trên thang điểm 100 sẽ là cơ sở để xếp hạng. Các địa phương sẽ được xếp hạng như sau: Rất tốt - PCI trên 70 điểm Tốt - PCI từ trên 60 đến 70 điểm Khá - PCI từ trên 55 đến 60 điểm Trung bình - PCI từ trên 50 đến 55 điểm Tương đối thấp - PCI từ trên 40 đến 50 điểm Thấp - PCI dưới 40 điểm.
The Rule Of 72 / Nguyên Tắc 72
Đã bao giờ bạn tự hỏi, với một lãi suất nhất định thì phải mất bao lâu số tiền gửi ngân hàng của mình sẽ tăng gấp đôi? Hay bạn có nghĩ xem tốc độ tăng trưởng của Việt Nam phải là bao nhiêu để đạt mục tiêu cứ sau mười năm thì thu nhập lại tăng gấp đôi? Tất nhiên cách thông thường là vận dụng khái niệm giá trị hiện tại và tương lai với bảng tính tài chính hay máy tính. Tuy nhiên có một cách dễ hơn là chỉ cần áp dụng nguyên tắc 72. Đây là một mẹo phân tích trong đó nếu lấy số 72 chia cho tốc độ tăng trưởng, thì kết quả là một ước lượng gần đúng với số năm cần thiết để con số ban đầu tăng gấp đôi. Công cụ nhỏ bé này rất tiện lợi nếu bạn muốn so sánh tốc độ tăng trưởng của các nước. Ví dụ, với mức tăng trưởng dân số hàng năm là 1,5 phần trăm, tăng trưởng GDP 7% của Việt Nam hiện nay tương đương với tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người 5,5% mỗi năm. Nguyên tắc 72 cho thấy là thu nhập bình quân đầu người sẽ tăng gấp đôi trong khoảng 13 năm. Nói cách khác, đến khoảng 2017 thì thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam sẽ đạt 940 đô-la (gấp đôi mức 470 đô-la hiện nay). Nguyên tắc 72 cũng tiện dụng nếu bạn muốn biết phải mất bao lâu để 1000 đô-la gửi ngân hàng tăng lên gấp đôi, với lãi suất 4% mỗi năm, trong đó lãi hàng kỳ được tính vào gốc và trả một lần khi đáo hạn. Chỉ cần chia 72 cho 4, bạn sẽ có con số 18 năm, rất gần với giá trị chính xác là 17,7 năm. Hiện Việt Nam đang có trái phiếu đô thị dài hạn lãi suất 9%, nguyên tắc này cho biết nếu mua một trái phiếu kỳ hạn 8 năm, bạn có thể kỳ vọng nhận được gấp đôi khoản đầu tư khi trái phiếu đáo hạn. Hãy thử tính số năm để một khoản tiết kiệm ở Nhật tăng gấp đôi với lãi suất hiện hành là 0,1%, bạn sẽ ngạc nhiên với câu trả lời.






