Profit Constraint / Ràng Buộc Về Lợi Nhuận
Một khái niệm thường được sử dụng trong các thuyết QUẢN LÝ DOANH NGHIỆP. Nó là lợi nhuận tối thiểu đòi hỏi để đảm bảo sự đồng ý của cổ đông đối với chính sách của công ty.
Trade Credit / Tín Dụng Thương Mại
Tín dụng thương mại là loại tín dụng rất phổ biến trong tín dụng quốc tế, là loại tín dụng giữa các nhà doanh nghiệp cấp cho nhau vay, không có sự tham gia của ngân hàng hoặc cũng có thể hiểu là loại tín dụng được cấp bằng hàng hóa dịch vụ chứ không phải bằng tiền. Có ba loại tín dụng thương mại: 1. Tín dụng thương mại cấp cho nhà nhập khẩu (gọi là tín dụng xuất khẩu) là loại tín dụng do người xuất khẩu cấp cho người nhập khẩu để đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa. Tím dụng xuất khẩu được cấp dưới hình thức chấp nhận hối phiếu và mở tài khoản Cấp tín dụng bằng chấp nhận hối phiếu tức là thương nhân nhập khẩu ký chấp nhận trả tiền vào hối phiếu do người xuất khẩu ký phát để nhận bộ chứng từ hàng hóa thông qua ngân hàng hoặc người xuất khẩu gửi trực tiếp cho họ. Thời hạn của loại tín dụng này phụ thuộc vào sự thỏa thuận của hai bên bán và mua. Tuy nhiên để phòng tránh rủi ro luật các nước thường can thiệp bằng cách định ra thời hạn cho loại tín dụng này. Ví dụ, luật nước Anh, Pháp quy định thời hạn từ 30 đến 90 ngày, luật Mỹ là 180 ngày, luật Nhật Bản quy định từ 180 đến 360 ngày. Cấp tín dụng bằng cách mở tài khoản tức là thương nhân xuất khẩu và thương nhân nhập khẩu ký với nhau hợp đồng mua bán hàng hóa, trong đó qui định quyền của bên bán được mở một tài khoản để ghi nợ bên mua sau mỗi chuyến giao hàng mà bên bán đã thực hiện. Sau từng thời gian nhất định, người mua sẽ phải thanh toán số nợ đó bằng chuyển tiền, chuyển Séc hoặc bằng Kỳ phiếu trả tiền ngay. 2. Tín dụng thương mại cấp cho người xuất khẩu (gọi là tín dụng nhập khẩu) là loại tín dụng do người nhập khẩu cấp cho người xuất khẩu để nhập hàng thuận lợi. Hình thức tồn tại của loại tín dụng nay là tiền ứng trước để nhập hàng. Việc ứng tiền trước có tính chất khác nhau tùy theo từng trường hợp cụ thể. Nếu người xuất khẩu thiếu vốn do phải thực hiện các hợp đồng xuất khẩu có kim ngạch lớn thì tiền ứng trước mang tính chất tín dụng; còn ngược lại, nếu người xuất khẩu không tin vào khả năng thực hiện hợp đồng của người nhập khẩu mà bắt phải đặt cọc cho việc giao hàng, tiền ứng trước mang tính chất là vật đảm bảo thực hiện hợp đồng. Khoản tiền ứng trước được hoàn trả bằng cách khấu trừ dần vào số tiền hàng theo tỷ lệ cố định hoặc theo tỷ lệ tăng dần hoặc chỉ một lần vào chuyến hàng giao cuối cùng. 3. Tín dụng nhà môi giới cấp cho người xuất khẩu và nhập khẩu: các ngân hàng thương nghiệp cỡ lớn thường không cấp tín dụng trực tiếp cho các nhà xuất nhập khẩu mà thông qua nhà môi giới, loại hình này sử dụng rộng rãi ở các nước Anh, Đức, Bỉ và Hà Lan. Người môi giới là các công ty lớn, có vốn vay được từ các ngân hàng, hình thức cấp tín dụng rất đa dạng. Ví dụ cấp cho nhà xuất khẩu gồm cho vay không phải cầm cố hàng hóa, cho vay cầm cố chứng từ hàng hóa, cho vay chiết khấu hối phiếu...Mọi tín dụng của người môi giới đều là tín dụng ngắn hạn.
Tín Dụng Thương Mại (Trade Credit) là một thuật ngữ trong tài chính. Nó mô tả khái niệm, cơ chế hoặc quy trình cụ thể, được sử dụng trong phân tích, định giá, giao dịch và quản trị rủi ro. Ví dụ: Tín Dụng Thương Mại (Trade Credit) có thể dùng trong phân tích báo cáo tài chính hoặc định giá doanh nghiệp, tùy ngữ cảnh. Ứng dụng: hỗ trợ lập báo cáo, phân tích, thẩm định và ra quyết định tài chính. Khi áp dụng, cần lưu ý đến bối cảnh pháp lý và thị trường để hiểu đúng.
Personal Income / Thu Nhập Cá Nhân
Lưu lượng thu nhập tích luỹ lại của một cá nhân hoặc hộ gia đình.
Thu Nhập Cá Nhân (Personal Income) là một thuật ngữ trong tài chính. Nó mô tả khái niệm, cơ chế hoặc quy trình cụ thể, được sử dụng trong phân tích, định giá, giao dịch và quản trị rủi ro. Ví dụ: Thu Nhập Cá Nhân (Personal Income) có thể dùng trong phân tích báo cáo tài chính hoặc định giá doanh nghiệp, tùy ngữ cảnh. Ứng dụng: hỗ trợ lập báo cáo, phân tích, thẩm định và ra quyết định tài chính. Khi áp dụng, cần lưu ý đến bối cảnh pháp lý và thị trường để hiểu đúng.
Trade / Giao Dịch
Giao dịch tài chính là hoạt động làm thay đổi tình trạng tài chính của hai hay nhiều thực thể tài chính. Mua bán: Hình thức thường gặp nhất của giao dịch tài chính. Một món hàng được trao đổi với một món hàng khác hoặc được quy thành tiền. Giao dịch này làm cho lượng tiền của người mua giảm đi và người bán tăng lên. Vay nợ: Giao dịch phức tạp hơn một chút là giao dịch trong đó bên cho vay cung ứng một lượng tiền duy nhất có giá trị nào đó cho bên đi vay để đổi lấy nhiều lần trả nợ nhỏ từ phía bên đi vay cho bên vay theo thời gian, thường là theo lịch trình cố định. Tổng số các khoản hoàn trả nhỏ theo chu kỳ này thường là lớn hơn giá trị của khoản cho vay ban đầu. Số chênh lệch trong các khoản thanh toán đó là tiền lãi. Cầm cố: Cầm cố hay còn gọi là thế chấp, là sự kết hợp của mua bán và cho vay. Bên cho vay cung cấp một lượng tiền lớn cho bên đi vay để chi vào một mục đích cụ thể của việc mua bán một mặt hàng rất đắt tiền (thường là nhà đất). Như là một phần của giao dịch, bên đi vay thông thường là đồng ý giao lại mặt hàng đó (hay mặt hàng nào khác có giá trị cao) cho bên cho vay nếu khoản đã vay không được hoàn trả đúng kỳ hạn. Bảo đảm hoàn trả này được biết đến dưới tên gọi đồ ký quỹ.
Profit Margin / Biên Lợi Nhuận
Đây là tỉ lệ được tính toán bằng cách lấy tổng thu nhập hoặc lãi ròng chia cho doanh thu. Chỉ số này cho biết mỗi đồng doanh thu thu về tạo ra được bao nhiêu đồng thu nhập. Biên lợi nhuận là một chỉ số rất hữu ích khi tiến hành so sánh các công ty trong cùng một ngành. Công ty nào có biên lợi nhuận cao hơn chứng tỏ công ty đó có lãi hơn và kiểm soát chi phí hiệu quả hơn so với đối thủ cạnh tranh của nó. Biên lợi nhuận được biểu hiện bằng con số phần trăm(%), ví dụ nếu biên lợi nhuận là 20% tức là một công ty sẽ tạo ra được 0.2 đồng thu nhập trên mỗi đồng doanh thu bán hàng. Chỉ đơn thuần nhìn vào thu nhập của một công ty sẽ không thể nắm hết được toàn bộ thông tin về công ty đó. Thu nhập tăng là dấu hiệu tốt nhưng sự tăng đó không có nghĩa là biên lợi nhuận của công ty đang được cải thiện. Ví dụ nếu một công ty có tốc độ tăng chi phí cao hơn so với doanh thu, biên lợi nhuận của công ty đó sẽ giảm. Điều này có nghĩa là các doanh nghiệp cần kiểm soát tốt các chi phí của mình. Giả định rằng một công ty có thu nhập ròng là 10 triệu USD, doanh thu là 100 triệu USD, biên lợi nhuận là 10%. Nếu trong năm tiếp theo thu nhập ròng tăng lên 15 triệu USD, doanh số tăng lên 200 triệu USD, biên lợi nhuận sẽ chỉ còn 7.5%. Như vậy khi một công ty tăng thu nhập ròng thì đồng thời cũng phải tìm cách làm tăng biên lợi nhuận theo tỉ lệ tương ứng. Mục tiêu quan trọng nhất của một công ty đó là tạo ra tiền và nắm giữ tiền. Điều này phụ thuộc rất nhiều vào tính lỏng và tính hiệu quả bởi các đặc tính này sẽ quyết định khả năng trả cổ tức cho các nhà đầu tư. Chính vì thế nhà đầu tư cần phải phân tích khả năng sinh lợi (profitability) của một công ty dưới nhiều góc độ, bao gồm cả hiệu quả sử dụng các nguồn lực và lượng thu nhập tạo ra từ hoạt động của công ty. Tính toán biên lợi nhuận của một công ty là một cách hữu để có được cái nhìn thấu đáo về công ty. Lợi nhuận (bottom line) là điều đầu tiên mà rất nhiều nhà đầu tư xem xét để đánh giá khả năng sinh lợi của một công ty. Tuy nhiên không phải lúc nào chỉ số này cũng cho ta một cái nhìn đúng đắn về công ty đó. Biên lợi nhuận, mặt khác, lại có thể đem lại những thông tin cụ thể hơn về hiệu quả hoạt động của công ty. Xem xét ví dụ về hai công ty công ty máy tính hàng đầu trên thế giới là Dell và HP. Năm 2003, công ty Dell có thu nhập ròng là 749 triệu USD, doanh thu bán hàng là 11,5 tỉ USD. Trong khi các số liệu tương ứng của HP là 990 triệu USD và 19,1 tỉ USD. Nếu chỉ nhìn vào lợi nhuận của hai công ty thì rõ ràng HP đã thu lợi nhiều hơn Dell. Nhưng nếu nhìn vào biên lợi nhuận thì rõ ràng mức của Dell là 6,5% cao hơn của HP là 5%. Sự khác biệt là không lớn nhưng đó lại chính là lý do khiến cho thị trường đánh giá Dell cao hơn HP.
Tradability / Khả Năng Thương Mại Không Bị Giới Hạn Bởi Vị Trí Địa Lý
Tradability là việc hàng hóa hoặc dịch vụ có thể được bán ở những nơi cách xa nơi mà nó được sản xuất ra. Những hàng hóa khác nhau có khả năng thương mại khác nhau: chi phí vận chuyển cao và vòng đời ngắn làm cho khả năng thương mại bị giảm xuống. Ví dụ, những thức ăn đã được chế biến (dùng để ăn ngay) thường không được coi là hàng hóa có khả năng này; những thức ăn như vậy chỉ được bán ở thành phố nơi chúng được sản xuất ra, hoặc ở những vùng lân cận, và không có khả năng cạnh tranh với các loại thức ăn tương tự ở thành phố khác. Những sản phẩm có khả năng thương mại hoàn hảo là những cổ phiếu, bởi vì chúng phụ thuộc vào quy luật một giá (giá cả của hàng hóa như nhau ở bất cứ nơi nào chúng được bán). Tuy nhiên quy luật này hoạt động yêu cầu cần phải có thị trường hoạt động hiệu quả.
Profit Motive / Động Cơ Lợi Nhuận
Sẽ xảy ra khi lợi nhuận mang lại sự thúc đẩy quyết định.
Tracker Fund, Index Tracking Fund, Tracker / Quĩ Đầu Tư Chỉ Số
Quĩ đầu tư chỉ số là dạng quĩ đầu tư xây dựng danh mục đầu tư của mình mô phỏng theo một chỉ số chứng khoán nhất định như Dow Jone, S&P 500, FTSE 100. Quĩ đầu tư chỉ số bắt đầu dần trở nên phổ biến vào thập niên 1990, khi mà một số công ty tài chính bắt đầu đưa ra những sản phẩm đầu tư này ra thị trường. Dạng đầu tư này trước đó đã được rất nhiều nhà quản lý tài chính cũng như những nhà đầu tư nhỏ lẻ sử dụng. Thành công của quĩ đầu tư chỉ số dựa trên ý tưởng rằng họ có thể khắc phục được những hạn chế của các quĩ đầu tư tích cực truyền thống. Các nhà quản lý quĩ truyền thống, mua cổ phiếu của các công ty mà họ hy vọng rằng sẽ hoạt động trội hơn hẳn so với chỉ số chứng khoán liên quan đến nó. Nói cách khác, họ hướng đến mục tiêu thu được tỉ suất lợi nhuận cao hơn phần đông thị trường. Tuy nhiên, khi thực hiện chiến lược này, rất nhiều nhà quản lý quĩ đã chọn sai cổ phiếu và quĩ của họ hoạt động thậm chí còn kém bình quân thị trường. Các quỹ đầu tư chỉ số thì ngược lại. Họ chỉ cố gắng bám sát biến động của bản thân chỉ số bằng cách mô phỏng danh mục đầu tư của mình theo các cổ phiếu mà chỉ số đó lấy làm căn cứ tính toán chứ không đặt mục tiêu có kết quả đầu tư tốt hơn bình quân thị trường. Điều này là bởi vì họ tin rằng, về lâu về dài không nhà quản lý quĩ tích cực nào lại đầu tư tốt hơn thị trường được, đó là chưa kể đến việc các chi phí giao dịch liên tục sẽ là một gánh nặng cho họ. Tuy nhiên, quĩ đầu tư chỉ số về cơ bản chỉ thích hợp với những nhà đầu tư ưa chuộng sự an toàn chứ bản thân nó khó có thể tạo ra lợi nhuận cao được. Hầu hết các quĩ chỉ số thường mua cổ phiếu của tất cả các công ty theo tỉ lệ mà chỉ số chứng khoán mục tiêu sử dụng để tính toán. Ví dụ: trên sàn X có 3 cổ phiếu A,B,C với số lượng cổ phiếu phát hành lần lượt là 5 triệu, 10 triệu, 5 triệu. Quĩ T, đầu tư theo "X index", có thể xây dựng danh mục đầu tư của mình theo tỉ lệ 1:2:1, ví dụ như 400.000 cp A, 800.000 cp B và 400.000 cp C. Một số quĩ khác lại sử dụng những công cụ tài chính rất phức tạp để lựa chọn mua cổ phiếu của các công ty ở nhiều ngành khác nhau với mục tiêu mô phỏng tốt nhất hoạt động của chỉ số chứng khoán. Đó là lý do khiến các quĩ, tuy cùng đầu tư theo chỉ số FTSE 100 của Anh, nhưng lại thu được kết quả hơi khác nhau một chút.
Profit Rate / Tỷ Lệ Lợi Nhuận
Lợi nhuận được thể hiện dưới dạng một tỷ lệ của giá trị ghi trong sổ sách của các tài sản vốn.
Toxic Asset / Tài Sản Độc Hại
Tài sản độc hại là thuật ngữ dùng để chỉ những loại tài sản mà không ai muốn sờ tới bởi vì nó bị coi là rất nguy hiểm. Có thể lý giải như sau: Ví dụ một người dùng nhà để có khoản vay cầm cố, người vay trả lãi đủ và đúng hạn thì đó là Tài sản khỏe mạnh, và các ngân hàng có thể bán đi các tài sản khoẻ mạnh này cho các ngân hàng khác. Nhưng nếu cầm cố không hoàn thành nghĩa vụ trả nợ dẫn đến bị tịch thu nhà và giá của ngôi nhà giảm xuống thấp hơn giá trị của khoản nợ thì lập tức tài sản cầm cố bị giảm giá trị và trở thành tài sản độc hại.
Profit, Falling Rate Of / Tỷ Lệ Sút Giảm Lợi Nhuận
Một xu hướng đối với tỷ lệ lợi tức của vốn sút giảm theo thời gian.
Total Loss / Tổn Thất Toàn Bộ
Là tổn thất xảy ra với toàn bộ đối tượng bảo hiểm theo một hợp đồng bảo hiểm khi đối tượng bảo hiểm bị mất mát, hư hỏng hay thiệt hại ở mức hoàn toàn.Có hai loại tổn thất toàn bộ là:Tổn thất toàn bộ thực tế: Là dạng tổn thất mà đối tượng bảo hiểm bị phá hủy hoàn toàn, bị hư hỏng nghiêm trọng không còn hình dạng như ban đầu hoặc người được bảo hiểm bị tước quyền sở hữu đối với đối tượng bảo hiểmTổn thất toàn bộ ước tính: Là tổn thất của đối tượng bảo hiểm chưa ở mức hoàn toàn nhưng xét thấy tổn thất toàn bộ là không tránh khỏi hoặc có thể tránh được nhưng chi phí để cứu chữa, khôi phục, hay đưa đối tượng bảo hiểm về nơi đích thì ngang bằng hoặc vượt quá giá trị của nó.
Profits-Push Inflation / Lạm Phát Do Lợi-Nhuận-Đẩy
Một biến thể của lạm phát chi phí đẩy, quy nguồn gốc của quá trình lạm phát cho các nhà tư bản định tìm một phần gia tăng trong thu nhập quốc dân.
Total Debt To Equity Ratio / Tỷ Lệ Tổng Nợ Trên Vốn Chủ Sở Hữu
Tỷ lệ tổng nợ trên vốn chủ sở hữu là chỉ số phản ánh quy mô tài chính của công ty. Nó cho ta biết về tỉ lệ giữa 2 nguồn vốn cơ bản (nợ và vốn chủ sở hữu) mà doanh nghiệp sử dụng để chi trả cho hoạt động của mình. Hai nguồn vốn này có những đặc tính riêng biệt và mối quan hệ giữa chúng được sử dụng rộng rãi để đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp. Tỷ lệ tổng nợ trên vốn chủ sở hữu được tính bằng cách chia tổng nợ cho vốn chủ sở hữu: DER = Tổng nợ / Vốn chủ sở hữu Trong đó nợ của doanh nghiệp bao gồm cả nợ ngắn hạn và nợ dài hạn . Vốn chủ sở hữu hay vốn cổ phần của cổ đông gồm cổ phần thông thường, cổ phần ưu đãi, các khoản lãi phải trả và nợ ròng. Tỷ lệ tổng nợ trên vốn chủ sở hữu cũng phụ thuộc nhiều vào ngành, lĩnh vực mà công ty hoạt động. Ví dụ, các ngành sản xuất cần sử dụng nhiều vốn thì Tỷ lệ tổng nợ trên vốn chủ sở hữu có xu hướng cao hơn, trong khi các công ty dịch vụ thì Tỷ lệ tổng nợ trên vốn chủ sở hữu thường thấp hơn. Tỷ lệ tổng nợ trên vốn chủ sở hữu giúp nhà đầu tư có một cái nhìn khái quát về sức mạnh tài chính, cấu trúc tài chính của doanh nghiệp và làm thế nào doanh nghiệp có thể chi trả cho các hoạt động. Thông thường, nếu hệ số này lớn hơn 1, có nghĩa là tài sản của doanh nghiệp được tài trợ chủ yếu bởi các khoản nợ, còn ngược lại thì tài sản của doanh nghiệp được tài trợ chủ yếu bởi nguồn vốn chủ sở hữu. Về nguyên tắc, hệ số này càng nhỏ, có nghĩa là nợ phải trả chiếm tỷ lệ nhỏ so với tổng tài sản hay tổng nguồn vốn thì doanh nghiệp ít gặp khó khăn hơn trong tài chính. Tỷ lệ này càng lớn thì khả năng gặp khó khăn trong việc trả nợ hoặc phá sản của doanh nghiệp càng lớn. Trên thực tế, nếu nợ phải trả chiếm quá nhiều so với nguồn vốn chủ sở hữu có nghĩa là doanh nghiệp đi vay mượn nhiều hơn số vốn hiện có, nên doanh nghiệp có thể gặp rủi ro trong việc trả nợ, đặc biệt là doanh nghiệp càng gặp nhiều khó khăn hơn khi lãi suất ngân hàng ngày một tăng cao. Các chủ nợ hay ngân hàng cũng thường xem xét, đánh giá kỹ tỷ lệ nợ (và một số chỉ số tài chính khác) để quyết định có cho doanh nghiệp vay hay không. Tuy nhiên, việc sử dụng nợ cũng có một ưu điểm, đó là chi phí lãi vay sẽ được trừ vào thuế thu nhập doanh nghiệp. Do đó, doanh nghiệp phải cân nhắc giữa rủi ro về tài chính và ưu điểm của vay nợ để đảm bảo một tỷ lệ hợp lý nhất. Một điểm cần lưu ý là khi xem báo cáo tài chính của các doanh nghiệp Việt Nam, bạn có thể thấy một số doanh nghiệp có tỷ lệ tổng nợ trên vốn chủ sở hữu rất cao, có khi lên đến cả chục lần, nhất là các doanh nghiệp nhà nước có tham gia kinh doanh bất động sản. Trong thuyết minh báo cáo tài chính thông tin này được lý giải là công ty đã triển khai nhiều dự án bất động sản có hiệu quả kinh tế cao. Do phần vốn nhà nước hạn chế, doanh nghiệp đã huy động thêm nguồn vốn kinh doanh từ các tổ chức, cá nhân có nhu cầu nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu căn hộ chung cư để thực hiện các dự án này. Tuy nhiên, theo quy định hiện hành về chế độ và nội dung báo cáo quyết toán tài chính của doanh nghiệp thì các khoản thu từ việc huy động nguồn vốn kinh doanh như trên khi chưa đủ điều kiện ghi nhận doanh thu và kết quả sản xuất - kinh doanh thì không tính vào phần vốn chủ sở hữu, mà phải tính vào khoản nợ phải trả, mặc dù thực chất đây không phải là khoản nợ phải trả dẫn đến tỷ lệ tổng nợ trên vốn chủ sở hữu rất cao. Từ lưu ý trên bạn cần rất thận trọng trong việc nghiên cứu, theo dõi các chỉ số tài chính cũng như phương pháp hạch toán, kế toán và các thông tin liên quan để có thể kết luận chính xác tình hình tài chính của doanh nghiệp.
Topix Index / Tokyo Stock Price Index / Chỉ Số Topix
Topix là viết tắt của TOkyo stock Price IndeX- chỉ số đo đo lường giá cổ phiếu trên Sàn giao dịch chứng khoán Tokyo (TSE). Chỉ số này được tính toán dựa trên giá trị vốn hóa thị trường của tất cả doanh nghiệp được cho là "loại 1" trên TSE. "Loại 1" xếp tất cả những doanh nghiệp lớn nhất trên sàn giao dịch thành 1 nhóm. "Loại 2" bao gồm những doanh nghiệp nhỏ hơn. Thời điểm gốc của chỉ số Topix là 4/1/1968 với giá trị gốc là 100.Chỉ số Topix cùng với chỉ số Nikkei 225 là những chỉ số quan thị quan trọng nhất cho thị trường chứng khoán Nhật Bản. Tuy nhiên, chỉ số Topix được xem là hàn thử biểu có độ chính xác hơn bởi nó phản ánh công bằng hơn những thay đổi về giá và bao gồm được tất cả những công ty lớn trên sàn giao dịch.Hiện nay có khoảng 1700 doanh nghiệp "loại 1" được niêm yết trên TSE, cùng với khoảng 500 doanh nghiệp "loại 2".
Programming Methods / Phương Pháp Quy Hoạch
Một tên chung để gọi một loạt các kỹ thuật tối ưu hoá, thường bao gồm các phương pháp giải pháp lặp lại, một ví dụ là QUY HOẠCH TUYẾN.
Progressive Tax / Thuế Lũy Tiến
Nói chung đề cập đến một tình huống trong đó tỷ lệ của thu nhập được tính thuế tăng lên tỷ lệ cùng với thu nhập hoặc sức mạnh chi tiêu.
Thuế Lũy Tiến (Progressive Tax) là một thuật ngữ trong tài chính. Nó mô tả khái niệm, cơ chế hoặc quy trình cụ thể, được sử dụng trong phân tích, định giá, giao dịch và quản trị rủi ro. Ví dụ: Thuế Lũy Tiến (Progressive Tax) có thể dùng trong phân tích báo cáo tài chính hoặc định giá doanh nghiệp, tùy ngữ cảnh. Ứng dụng: hỗ trợ lập báo cáo, phân tích, thẩm định và ra quyết định tài chính. Khi áp dụng, cần lưu ý đến bối cảnh pháp lý và thị trường để hiểu đúng.
Tobin's Q Ratio / Tỷ Suất Tobin's Q
Lý thuyết đầu tư của Tobin (1969) đưa ra một cơ chế, qua đó, chính sách tiền tệ có thể tác động đến nền kinh tế thông qua kênh định giá cổ phiếu. Tobin định nghĩa q là thị giá của một công ty trên chi phí thay thế vốn của công ty đó. Nếu hệ số q cao, công ty sẽ đầu tư nhiều hơn vì việc huy động thêm vốn sẽ rẻ hơn do thị giá của công ty khá cao so với chi phí huy động thêm vốn. Ngược lại, nếu hệ số q thấp, công ty sẽ không gia tăng đầu tư vì chi phí huy động thêm vốn khá đắt. Chính sách nới lỏng tiền tệ có thể làm tăng hệ số q qua 2 kênh. Thứ nhất, lãi suất thấp sẽ không khuyến khích nhà đầu tư gửi tiền vào ngân hàng và nhà đầu tư có thể vay thêm vốn với chi phí thấp hơn trước. Nhà đầu tư sẽ phải tìm kiếm các kênh đầu tư khác hấp dẫn hơn, một trong những kênh đầu tư đó là thị trường chứng khoán. Do đó, thị giá cổ phiếu có thể sẽ tăng lên do cầu kéo. Thứ hai, lãi suất thấp còn làm cho các công cụ có lãi suất cố định như trái phiếu sẽ trở nên kém hấp dẫn hơn so với cổ phiếu, nhà đầu tư có thể cũng sẽ chuyển từ kênh trái phiếu sang kênh cổ phiếu. Tóm lại, chính sách nới lỏng tiền tệ sẽ làm tăng giá cổ phiếu, và do đó, làm tăng hệ số q, và kết quả là đầu tư cũng tăng theo.
Project / Dự Án
Dự án theo những gì tôi hiểu biết và thực hành nhiều năm qua là một hệ thống các công việc cần hoàn thành chứa các tính chất sau đây: Có các bước công việc được xác định từ trước (mặc dù có thể điều chỉnh); Có mục tiêu hoàn thành rõ ràng; Các phương tiện vật chất, con người, đối tác và nguồn tài chính phục vụ việc triển khai; Có phương pháp và lộ trình để có thể thực hiện, triển khai và hoàn thành; Có kế hoạch kiểm tra-giám sát đánh giá mức độ hoàn thành, căn cứ trên nhiệm vụ đề ra. Như vậy có rất nhiều thứ trong kinh doanh, cuộc sống và học tập có thể xem là dự án.
Project Finance / Cung Cấp Tài Chính Dự Án
Cung cấp tài chính dự án là việc cung cấp tài chính cho các dự án công nghiệp và cơ sở hạ tầng dài hạn dựa trên một cấu trúc tài chính phức tạp, ở đó việcvay nợ và phát hành vốn cổ phần được sử dụng để cung cấp tài chính cho dự án. Nợ được trả bằng cách sử dụng nguồn tiền tạo ra khi dự án hoạt động chứ không phải là tài sản chung hoặc việc đủ tiêu chuẩn tín dụng của những nhà tài trợ dự án. Đảm bảo cho nguồn tài chính được cung cấp thường là các tài sản của dự án, bao gồm cả các hợp đồng tạo ra doanh thu. Những nhà cho vay được phép nắm giữ lien đối với tất cả các tài sản này, và có khả năng nắm giữ quyền kiểm soát dự án nếu công ty tiến hành dự án gặp phải khó khăn trong việc thực hiện các quy định của hợp đồng cho vay. Việc cung cấp tài chính cho dự án thường được kết hợp bởi rất nhiều bên, cũng là để đa dạng các rủi ro gặp phải, đồng thời đảm bảo được lợi nhuận cho mỗi bên liên quan. Thông thường, cung cấp tài chính dự án bao gồm các nhà đầu tư vốn cổ phần, được gọi là nhà tài trợ, và các ngân hàng cho vay nợ hoạt động. Các khoản nợ thường là các khoản nợ Non-recourse - các khoản nợ này chỉ được bảo đảm bởi riêng dự án và trả từ nguồn tiền dự án tạo ra.






