Thuật Ngữ Kinh Tế

A B C D E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Z Tất cả

Transactional Account/ Checking Account/ Current Account / Tài Khoản Giao Dịch

Tài khoản giao dịch là một tài khoản tiền gửi được giữ ở một ngân hàng hay các tổ chức tài chính khác, nhằm mục đích cung cấp khả năng tiếp cận bảo đảm và nhanh chóng tới các nguồn tiền theo yêu cầu, thông qua nhiều kênh khác nhau. Bởi vì tiền trong các tài khoản này rất sẵn có theo nhu cầu, nên chúng còn được gọi là Các tài khoản yêu cầu (demand accounts) hoặc Các tài khoản tiền gửi theo yêu cầu (demand deposit accounts). Tài khoản giao dịch cho phép người giữ tài khoản nhận hoặc trả tiền bằng các công cụ: Tiền mặt Séc (hoặc lệnh trả tiền) Chuyển khoản Ghi nợ trực tiếp Chuyển khoản tự động Thẻ ATM hoặc thẻ ghi nợ SWIFT Khách hàng có thể thực hiện các giao dịch thông qua mạng lưới chi nhánh của ngân hàng, hệ thống máy như ATM, qua dịch vụ ngân hàng Internet (Internet banking), dịch vụ ngân hàng qua điện thoại (telephone banking), dịch vụ ngân hàng qua thư (mail banking), hoặc qua những đại lý cung cấp dịch vụ thẻ ghi nợ khác (Stores and merchants providing debit card access).

Phiên Giao Dịch / Trading Session

Khoảng thời gian tương đương một ngày kinh doanh trên thị trường tài chính, bắt đầu từ khi mở cửa cho đến khi đóng cửa. Ví dụ, một phiên giao dịch tại sàn giao dịch chứng khoán New York (NYSE) bắt đầu tại giờ mở cửa là 9:30 am EST và kết thúc tại giờ đóng cửa là 4pm EST. Trong khung thời gian của một phiên giao dịch, tất cả các lệnh đủ điều kiện của ngày hôm đó phải được khớp, và cả người bán và người mua đều tham gia vào việc tạo nên giá cả thị trường hiện hành. Khái niệm về phiên giao dịch của các nhà đầu tư ngày càng mở rộng trong thập kỷ qua bởi giao dịch chứng khoán ngoài giờ, sàn giao dịch ECN và các công nghệ khác ngày đang dần tham gia vào thị trường. Sự tiếp cận dễ dàng hơn với thị trường và thông tin có thể khiến các nhà đầu tư cá nhân ngập trong các luồng thông tin, nhưng các nhà đầu tư dài hạn hiểu rằng biết thanh lọc thông tin trên thị trường chứng khoán chính là chìa khóa để thành công.

Transaction / Giao Dịch

Một thỏa thuận giữa người mua và người bán để trao đổi hàng hóa hoặc dịch vụ để lấy một khoản tiền nhất định.Các bên tham gia vào giao dịch bắt buộc phải thực hiện phần của mình. Ví dụ, nếu 2 bên tham gia vào một hợp đồng tương lai, người bạn bị buộc phải bán và giao tài sản cơ sở, còn người mua buộc phải trả số tiền theo giá đẫ thỏa thuận và chấp nhận việc giao hàng.Trong Ngân hàng: Một sự kiện gây ra sự thay đổi trong vị thế tài chính hay vốn tự có của tổ chức, gây ra bởihoạt động kinh doanh thông thường. Nó được ghi lại trong sổ cái kế toán bởi những phiếu ghi nợ hoặc tín dụng. Tạm ứng trước quỹ, như tạm ứng trước tiền mặt trong một thẻ tín dụng, để mua hàng hóa tại các cửa hàng bán lẻ. Các hoạt động ảnh hưởng lên một tài khoản tiền gửi, như gửi tiền hoặc rút tiền, được tiến hành theo yêu cầu của người sở hữu tài khoản.

i. Bất kỳ sự kiện nào gây ra sự thay đổi trong vị thế tài chính hoặc tài sản ròng của một tổ chức, tạo ra hoạt động kinh doanh bình thường. Nó được ghi vào trong sổ cái chung bằng thẻ ghi có hoặc ghi nợ. ii. Ứng trước tiền, như ứng trước tiền mặt cho thẻ tín dụng, mua hàng tại cửa hàng bán lẻ, hoặc khi bên vay bắt đầu sử dụng hạn mức tín dụng tuần hoàn. Xem STANDBY COMMITMENT.

Trading Orders On VSE / Các Lệnh Giao Dịch Trên TTCKVN

Các lệnh giao dịch trên TTCKVN (Trích Điều 12, Quy chế giao dịch chứng khoán tại SDGCK Tp.Hồ Chí Minh do Tổng Giám Đốc Sở ký ban hành ngày 9/10/2007) 12.1. Lệnh giới hạn: 12.1.1. Là lệnh mua hoặc lệnh bán chứng khoán tại một mức giá xác định hoặc tốt hơn. 12.1.2. Lệnh giới hạn có hiệu lực kể từ khi lệnh được nhập vào hệ thống giao dịch cho đến lúc kết thúc ngày giao dịch hoặc cho đến khi lệnh bị hủy bỏ. 12.2. Lệnh thị trường (viết tắt là MP): 12.2.1. Là lệnh mua chứng khoán tại mức giá bán thấp nhất hoặc lệnh bán chứng khoán tại mức giá mua cao nhất hiện có trên thị trường. 12.2.2. Nếu sau khi so khớp lệnh theo nguyên tắc ở điểm 12.2.1 mà khối lượng đặt lệnh của lệnh thị trường vẫn chưa được thực hiện hết thì lệnh thị trường sẽ được xem là lệnh mua tại mức giá bán cao hơn hoặc lệnh bán tại mức giá mua thấp hơn tiếp theo hiện có trên thị trường. 12.2.3. Nếu khối lượng đặt lệnh của lệnh thị trường vẫn còn sau khi giao dịch theo nguyên tắc tại điểm 12.2.2 và không thể tiếp tục khớp được nữa thì lệnh thị trường sẽ được chuyển thành lệnh giới hạn mua tại mức giá cao hơn một bước giá so với giá giao dịch cuối cùng trước đó hoặc lệnh giới hạn bán tại mức giá thấp hơn một bước giá so với giá giao dịch cuối cùng trước đó. Trường hợp giá thực hiện cuối cùng là giá trần đối với lệnh thị trường mua hoặc giá sàn đối với lệnh thị trường bán thì lệnh thị trường sẽ được chuyển thành lệnh giới hạn mua tại giá trần hoặc lệnh giới hạn bán tại giá sàn. 12.2.4. Các thành viên không được nhập lệnh thị trường vào hệ thống giao dịch khi chưa có lệnh giới hạn đối ứng đối với chứng khoán đó. 12.2.5. Lệnh thị trường được nhập vào hệ thống giao dịch trong thời gian khớp lệnh liên tục. 12.3. Lệnh giao dịch tại mức giá khớp lệnh xác định giá mở cửa (viết tắt là ATO): 12.3.1. Là lệnh đặt mua hoặc đặt bán chứng khoán tại mức giá mở cửa. 12.3.2. Lệnh ATO được ưu tiên trước lệnh giới hạn trong khi so khớp lệnh. 12.3.3. Lệnh ATO được nhập vào hệ thống giao dịch trong thời gian khớp lệnh định kỳ để xác định giá mở cửa và sẽ tự động bị hủy bỏ sau thời điểm xác định giá mở cửa nếu lệnh không được thực hiện hoặc không được thực hiện hết. 12.4. Lệnh giao dịch tại mức giá khớp lệnh xác định giá đóng cửa (viết tắt là ATC): 12.4.1. Là lệnh đặt mua hoặc đặt bán chứng khoán tại mức giá đóng cửa. 12.4.2. Lệnh ATC được ưu tiên trước lệnh giới hạn trong khi so khớp lệnh. 12.4.3. Lệnh ATC được nhập vào hệ thống giao dịch trong thời gian khớp lệnh định kỳ để xác định giá đóng cửa và sẽ tự động bị hủy bỏ sau thời điểm xác định giá đóng cửa nếu lệnh không được thực hiện hoặc không được thực hiện hết. Hiện tại SGDCK Tp.HCM chưa áp dụng lệnh thị trường (MP), SGDCK sẽ thông báo khi chính thức áp dụng loại lệnh này (Thông báo số 1269/TTGDHCM-TV ngày 16/07/2007).

Trader / Nhà Kinh Doanh Ngắn Hạn

Nhà kinh doanh ngắn hạn là một cá nhân sẽ thực hiện việc chuyển giao tài sản tài chính trên một thị trường tài chính bất kỳ, có thể là họ thực hiện cho chính mình, hoặc nhân danh người khác. Sự khác nhau cơ bản giữa một nhà kinh doanh (trader) và nhà đầu tư (investor) là độ dài thời gian nắm giữ tài sản tài chính của người đó. Các nhà đầu tư thường có khuynh hướng đầu tư dài hạn. Trong khi đó các nhà kinh doanh ( trader) thường có khuynh hướng nắm giữ các tài sản tài chính trong thời gian ngắn hơn nhằm thu lợi tốt nhất từ các xu hướng ngắn hạn của thị trường. Nói cách khác, các nhà kinh doanh (trader) chỉ nắm giữ tài sản tài chính trong một khoảng thời gian rất ngắn. Trở ngại chính xẩy ra với các giao dịch ngắn hạn đó là chi phí hoa hồng môi giới (commission costs). Bởi vì các nhà kinh doanh ngắn hạn thường xuyên thực hiện việc mua bán các tài sản tài chính trong chiến lược kinh doanh ngắn hạn để kiếm lời, do đó họ thường phải chịu phí hoa hồng môi giới rất lớn. Tuy nhiên, trên thị trường tài chính càng có nhiều các nhà môi giới thì sự cạnh tranh giữa các nhà môi giới sẽ giúp cho các nhà kinh doanh (trader) tìm được một mức phí hoa hồng giá cạnh tranh, có thể giúp anh ta giảm chi phí giao dịch xuống và như thế lợi nhuận sẽ tăng lên.

Production Sphere And Budgetary Sphere / Lĩnh Vực Sản Xuất Và Lĩnh Vực Ngân Sách

Một cách phân loại việc làm đã được sử dụng ở các nước Xã hội chủ nghĩa và (vẫn còn) sử dụng ở một số nước Đông Âu. Lĩnh vực sản xuất bao gồm việc làm trong nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, công nghiệp, xây dựng, vận tải, thương nghiệp, các nghành gọi là dịch vụ sản xuất và trong khu vực tư nhân. Lĩnh vực ngân sách bao gồm việc làm trong hành chinh, lực lượng vũ trang, công an, toà án, trường công, viện nghiên cứu, cơ quan y tế  nhà nước, thuế quan..

Trade-Off Theory Of Capital Structure / Lý Thuyết Đánh Đổi Cấu Trúc Vốn

Lý thuyết đánh đổi cấu trúc vốn là một lý thuyết trong lĩnh vực kinh tế tài chính nói chung, trong lĩnh vực tài chính doanh nghiệp nói riêng. Lý thuyết này nhằm mục đích giải thích vì sao các doanh nghiệp thường được tài trợ một phần bằng nợ vay, một phần bằng vốn cổ phần. Một lý do lớn khiến các doanh nghiệp không thể tài trợ hoàn toàn bằng nợ vay là vì, bên cạnh sự hiện hữu lợi ích tấm chắn thuế từ nợ, việc sử dụng tài trợ bằng nợ cũng phát sinh nhiều chi phí, điển hình nhất là các chi phí kiệt quệ tài chính bao gồm cả chi phí trực tiếp lẫn chi phí gián tiếp của việc phá sản có nguyên nhân từ nợ.Với mỗi phần trăm tỷ lệ nợ tăng thêm, trong khi lợi ích tấm chắn thuế gia tăng thì chi phí kiệt quệ tài chính cũng gia tăng. Sẽ đến một lúc nào đó, khi mà với mỗi tỷ lệ nợ tăng thêm, hiện giá lợi ích từ tấm chắn thuế không cao hơn hiện giá chi phí kiệt quệ tài chính thì việc vay nợ không còn mang lại lợi ích cho doanh nghiệp. Chính vì điều này, các công ty luôn tìm cách tối ưu hóa tổng giá trị doanh nghiệp dựa trên nguyên tắc cân bằng này để xác định nên lựa chọn bao nhiêu nợ và bao nhiêu vốn cổ phần trong cấu trúc vốn của mình. Điểm xác định cấu trúc vốn tối ưu là tại đó với mỗi lượng nợ tăng thêm thì PV(tấm chắn thuế)= PV( chi phí kiệt quệ tài chính).

Trade-Off / Sự Đánh Đổi

Trade-off dùng để chỉ việc cân nhắc việc bỏ ra một chi phí, tài sản hay thứ gì đó để thu được một tài sản hay một vật khác. Quyết định được đưa ra dựa trên sự nhận thức rõ cái được và mất giữa các cách lựa chọn. Thuật ngữ trên cũng có liên quan đến thuật ngữ “Chí phí cơ hội”. Một ví dụ về “Trade – off” đứng trên quan điểm kinh tế là: quyết định của con người trong việc “Chi tiêu” hay “Tiết kiệm”. Một ví dụ khác đó là “sử dụng thời gian”. Khi sử dụng một khoảng thời gian làm một việc gì đó thì bạn sẽ không thể làm được việc khác nữa. Vậy sự đánh đổi ở đây chính là việc “bạn đánh đổi khoảng thời gian không thoải mái khi làm việc, công tác, nấu ăn,...(ví dụ) để đổi lây khoảng thời gian thoải mái khi nghỉ ngơi, thưởng thức,... Có một câu thành ngữ phổ biến “Time is money”.Một bộ ba của "Sự đánh đổi" thường được nhắc đến là “Thời gian”, “Tiền bạc” và “Chất lượng”. Thường trong các trường hợp chỉ đáp ứng được 2 trong 3 yêu cầu trên.Bạn có thể gặp thuật ngữ này trong rất nhiều lĩnh vực như:Kinh tế, Chính trị, Nhân khẩu học (Demography), Y học, Công nghệ thông tin,... hay như trong Âm nhạc. Trong Âm nhạc, “Trade-off” dùng để chỉ sự sắp xếp, diễn xuất trao đổi giữa 2 solo chính trong dàn nhạc hoặc ban nhạc.

Petroleum Revenue Tax / Thuế Thu Nhập Dầu Lửa

Đây là loại thuế đặc biệt do chính phủ Anh đưa ra đối với thu nhập do khai thác dầu ở biển Bắc, thuế này cộng thêm vào tiền thuê mỏ và thuế lợi tức.

Trademark / Thương Hiệu

Thương hiệu là khái niệm trong người tiêu dùng về sản phẩm với dấu hiệu của nhà sản xuất gắn lên mặt, lên bao bì hàng hoá nhằm khẳng định chất lượng và xuất xứ sản phẩm. Thương hiệu thường gắn liền với quyền sở hữu của nhà sản xuất và thường được uỷ quyền cho người đại diện thương mại chính thức. Theo định nghĩa của website wikipedia.com, thương hiệu là những dấu hiệu được các cá nhân, công ty, các tổ chức hoặc các thực thể sử dụng để đặc biệt hóa, tạo nên nét riêng biệt cho sản phẩm hàng hóa mà họ cung cấp tới khách hàng, phân biệt với các loại sản phẩm hàng hóa của các thực thể khác. Thương hiệu là một loại tài sản của công ty, thường được cấu thành từ một cái tên, hay các chữ, các cụm từ, một logo, một biểu tượng, một hình ảnh hay sự kết hợp của các yếu tố trên. Tuy nhiên trên thực tế cũng có các kí hiệu cấu thành nên thương hiệu không nằm trong số được liệt kê ở trên. Thương hiệu - theo định nghĩa của Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO): là một dấu hiệu (hữu hình và vô hình) đặc biệt để nhận biết một sản phẩm hàng hoá hay một dịch vụ nào đó được sản xuất hay được cung cấp bởi một cá nhân hay một tổ chức. Việt Nam không đưa ra định nghĩa về thương hiệu mà chỉ đưa ra định nghĩa về nhãn hiệu, do đó chỉ có nhãn hiệu mới là đối tượng được bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ tại Việt Nam. Trong khi đó, theo hệ thống luật Anh Mỹ, thương hiệu có thể được bảo hộ và người chủ sở nhãn hiệu đã đăng kí sẽ có quyền kiện bất cứ ai xâm phạm đến thương hiệu của mình. Lưu ý phân biệt thương hiệu với nhãn hiệu. Một nhà sản xuất thường được đặc trưng bởi một thương hiệu, nhưng ông ta có thể có nhiều nhãn hiệu hàng hóa khác nhau. Ví dụ, Toyota là một thương hiệu, nhưng đi kèm theo có rất nhiều nhãn hiệu hàng hóa: Innova, Camry... Thuật ngữ thương hiệu đôi khi cũng được sử dụng để đề cập tới bất cứ đặc tính khác biệt nào của hàng hóa đã được xác nhận, đặc biệt là các tính chất đặc trưng của sản phẩm được nhiều người biết tới, ví dụ thời trang Gucci, kính râm Elton John's... Cần phải chú ý rằng quyền bảo hộ thương hiệu chỉ thực sự có được khi đã sử dụng và đăng kí thương hiệu đó cho một dòng sản phẩm hoặc dịch vụ nhất định. Quyền sở hữu đối với thương hiệu có thể sẽ bị loại bỏ hoặc không tiếp tục được bảo hộ nữa nếu nó không tiếp tục được sử dụng vì thế chủ thương hiệu phải sử dụng thương hiệu của mình nếu muốn duy trì quyền này. Ở Anh những thuật ngữ như: kí hiệu (mark), nhãn hiệu (brand), hay logo đôi khi vẫn được sử dụng thay cho trademark.

Productivity Bargaining / Thương Lượng Theo Năng Suất

Theo truyền thống đây là một thoả thuận lao động theo đó những thuận lợi loại này hoặc loại khác, chẳng hạn lương cao hơn hoặc được nghỉ nhiều hơn dành cho công nhân để đổi lấy những thay đổi trong cách làm việc hoặc tổ chức công việc nhằm tạo ra lao động hiệu quả hơn.

Perverse Migration / Di Cư Ngược

Di cư của cá nhân, đặc biệt là công nhân từ khu vực có điều kiện (hiệu suất) kinh tế tương đối tốt đến khu vực có điều kiện kinh tế thấp kém hơn.

Personal Saving / Tiết Kiệm Cá Nhân

Phần của thu nhập cá nhân không thanh toán trả thuế cũng không chi cho hàng hoá và dịch vụ.

Tiết Kiệm Cá Nhân (Personal Saving) là một thuật ngữ trong tài chính. Nó mô tả khái niệm, cơ chế hoặc quy trình cụ thể, được sử dụng trong phân tích, định giá, giao dịch và quản trị rủi ro. Ví dụ: Tiết Kiệm Cá Nhân (Personal Saving) có thể dùng trong phân tích báo cáo tài chính hoặc định giá doanh nghiệp, tùy ngữ cảnh. Ứng dụng: hỗ trợ lập báo cáo, phân tích, thẩm định và ra quyết định tài chính. Khi áp dụng, cần lưu ý đến bối cảnh pháp lý và thị trường để hiểu đúng.

Productivity Ratio / Tỷ Lệ Sản Xuất

TỶ LỆ SẢN SUẤT là tỷ lệ các kết quả đầu ra so với đầu vào. + với tỷ lệ là 1.0, năng suất cao hơn; + với tỷ lệ là 0,năng suất thấp hơn. Năng suất là quan trọng bởi vì nó liên quan đến khả năng của một tổ chức để cạnh tranh, và sự giàu có tổng thể và tiêu chuẩn mức sống của một quốc gia. Năng suất bị ảnh hưởng bởi phương pháp làm việc, vốn, chất lượng, công nghệ, và quản lý.

Trade Surplus / Thặng Dư Thương Mại

Thuật ngữ này được hiểu là giá trị biểu thị sự chênh lệch của cán cân xuất nhập khẩu. Thặng dư thương mại chỉ xuất hiện khi giá trị xuất khẩu (được tính bằng tiền mặt) cao hơn giá trị nhập khẩu (được tính bằng tiền mặt) của một quốc gia trong cùng một giai đoạn.

Professional Ethic / Đạo Đức Nghề Nghiệp

Các quy tắc đạo đức là rất quan trọng bởi vì nó mang lại cho chúng ta ranh giới mà chúng ta phải ở lại trong trong sự nghiệp chuyên nghiệp của chúng ta trong công việc, cũng như trong hành vi ứng xử . Vấn đề với các quy tắc đạo đức mà chúng ta có thể không phải luôn luôn có câu trả lời màu đen và trắng. Đôi khi có những vùng màu xám mà câu trả lời là không đơn giản như vậy. Đạo đức nghề nghiệp cũng được biết đến như thực hành đạo đức kinh doanh.

Trade Finance / Tài Trợ Tài Chính Thương Mại

Tài trợ tài chính thương mại là hoạt động mang tính ổn định đối với các ngân hàng thương mại quốc tế. Đây là nghiệp vụ được triển khai gần như ngay từ khi ngân hàng ra đời. Nhiều ngân hàng hiện đại vẫn hoạt động với tỷ trọng doanh thu đáng kể từ tài trợ thương mại. Công cụ được sử dụng chính trong tài trợ thương mại là thư tín dụng, ký hiệu L/C (viết tắt từ chữ LETTER OF CREDIT). Thư tín dụng do một công ty hay cá nhân gửi tới ngân hàng, còn gọi là mở tại ngân hàng, yêu cầu ngân hàng thực hiện thanh toán một số tiền cụ thể, vào thời điểm xác định, được ngân hàng chấp nhận, cho người thụ hưởng được ghi tên trong L/C. Thương mại quốc tế được đảm bảo vận hành trơn tru nhờ rất nhiều vào thư tín dụng. Rất ít người bán chịu gửi hàng đi trước khi nhận được thư tín dụng đã được ngân hàng chấp nhận của người mua. Ngân hàng áp dụng một mức phí với mỗi lần mở L/C. Trong nhiều trường hợp, ngân hàng không phải sử dụng tiền của mình để thực hiện khoản thanh toán theo yêu cầu của L/C mà người mua đã chủ động hoàn thành nghĩa vụ này. Do vậy, ngân hàng coi đây là một nghĩa vụ nợ bất thường. Một vài loại L/C có thêm điều khoản cam kết thực hiện nghĩa vụ thanh toán của ngân hàng trong trường hợp người mua không thể thanh toán hoặc không thể đảm bảo các dịch vụ và hàng hóa như đã cam kết. Ngân hàng còn tài trợ thương mại bằng việc cung cấp các khoản vay để thực hiện hợp đồng xuất, nhập khẩu căn cứ vào hợp đồng và thư tín dụng của bên đối tác. Ví dụ một doanh nghiệp xuất khẩu nông sản Việt Nam ký hợp đồng với đối tác ở châu Âu. Đối tác sẽ mở một thư tín dụng và gửi tới ngân hàng của doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam để xác nhận việc thanh toán. Căn cứ vào thư tín dụng này, ngân hàng sẽ cung cấp khoản vay (ở một tỷ lệ với khoản thanh toán mà doanh nghiệp sẽ nhận được, và có hưởng lãi suất) để doanh nghiệp triển khai thu mua và chế biến hàng xuất khẩu.

Personal Loan / Khoản Vay Cho Cá Nhân

Khoản vay do ngân hàng và một số thể chế tài chính khác quy định cho những người đi vay mang tính cá nhân (có nghĩa là không để kinh doanh) để mua hàng tiêu dùng, để sửa chữa nhà cửa…, và có thể được thanh toán lại trong một khoảng thời gian.

Profit / Lợi Nhuận

Thu nhập ròng có được do sản xuất hay bán được các hàng hóa và dịch vụ nghĩa là: số tiền còn lại dành cho nhà doanh nghiệp sau khi thanh toán tất cả các khoản vốn (lãi suất), đất đai (tô), lao động (bao gồm chi phí quản lý, lương và tiền công), nguyên liệu thô, thuế và khấu hao. Nếu như doanh nghiệp làm ăn kém cỏi, lợi nhuận có thể là số âm, và trong trường hợp đó thì chúng biến thành các khoản lỗ.

Lợi Nhuận (Profit) là một thuật ngữ trong tài chính. Nó mô tả khái niệm, cơ chế hoặc quy trình cụ thể, được sử dụng trong phân tích, định giá, giao dịch và quản trị rủi ro. Ví dụ: Lợi Nhuận (Profit) có thể dùng trong phân tích báo cáo tài chính hoặc định giá doanh nghiệp, tùy ngữ cảnh. Ứng dụng: hỗ trợ lập báo cáo, phân tích, thẩm định và ra quyết định tài chính. Khi áp dụng, cần lưu ý đến bối cảnh pháp lý và thị trường để hiểu đúng.

Trade Diversion / Chệch Hướng Thương Mại

Chệch hướng thương mại là một thuật ngữ được sử dụng trong kinh tế học quốc tế, nói về sự chuyển hướng của mối quan hệ thương mại của một quốc gia sau khi  quốc gia này kí kết những hiệp định kinh tế song phương hoặc gia nhập các khối kinh tế.Thông thường khi một quốc gia áp dụng cùng một mức thuế đối với tất cả các quốc gia khác, nó có xu hướng nhập khẩu hàng hóa từ nơi có giá rẻ nhất, mang lại hiệu quả cao nhất. Tuy nhiên, một khi các hiệp định thương mại song phương hay khu vực được kí kết, hàng hóa của các quốc gia tham gia hiệp định sẽ trở nên rẻ hơn so với hàng hóa của các quốc gia bên ngoài do có sự khác biệt về mức thuế. Chính điều này gây ra sự chuyển hướng trong thương mại, các quốc gia có xu hướng chuyển việc nhập khẩu hàng hóa từ các nước bạn hàng quen thuộc sang các nước nằm trong hiệp định.Sự chuyển hướng này gây ra thiệt hại cho những nước không là thành viên của một hiệp định hay khu vực thương mại tự do nào đó. Những nước này mặc dù sản xuất hiệu quả hơn, giá rẻ hơn nhưng vẫn bị mất thị trường do sự phân biệt về thuế.Một ví dụ cho việc chệch hướng thương mại là việc nhập khẩu thịt cừu của Anh. Trước khi gia nhập EU, hầu hết thịt cừu ở Anh được nhập khẩu từ New Zealand, nước sản xuất thịt cừu rẻ nhất thế giới. Nhưng sau khi gia nhập EU, thuế nhập khẩu chung đối với các nước ngoài khối đã làm cho việc nhập thịt cừu từ New Zealand trở nên đắt đỏ hơn so với việc nhập từ các nước thuộc EU. Từ đó Pháp lại trở thành nước cung cấp thịt cừu lớn nhất cho Anh. Thương mại đã bị chệch hướng khỏi New Zealand.

Sách Combo 4 Cuốn : Tư Duy Ngược + Tư Duy Mở + Biến Mọi Thứ Thành Tiền Chuột không dây Ugreen M751 với con lăn vô cực Máy chơi game retro Powkiddy X55