Thuật Ngữ Kinh Tế

A B C D E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Z Tất cả

Product Innovation / Phát Kiến Về Sản Phẩm

Sự thay đổi của một doanh nghiệp đối với sản phẩm có thể bán được của nó và sự thay đổi đó có thể xuất hiện do một sự bổ sung về công nghệ, hoặc một sự thay đổi về các giá tương đối có thể là sự thay đổi sở thích của người tiêu dùng.

Treasury Inflation Protected Securities - TIPS / Trái Phiếu Chính Phủ Ngừa Lạm Phát

Đây là một loại trái phiếu chính phủ đặc biệt giúp bảo vệ người nắm giữ chúng trước các tác động của lạm phát. Giống như các trái phiếu chính phủ khác, trái phiếu ngừa lạm phát trả lãi sau mỗi 6 tháng và trả tiền gốc khi chứng khoán đáo hạn. Sự khác biệt là ở chỗ việc thanh toán coupon và tiền gốc cho trái phiếu tự động tăng theo mức độ lạm phát trên thị trường_đo lường bằng chỉ số giá tiêu dùng CPI, từ đó bù đắp cho người đầu tư khỏi những sự mất giá do lạm phát gây ra. chính vì thế mà TIPS còn được gọi là chứng khoán chỉ số lạm phát (Treasury inflation-indexed securities) Nếu như trái phiếu kho bạc là loại chứng khoán an toàn nhất thì có thể nói rằng TIPS là loại chứng khoán an toàn nhất trong các loại an toàn. Đó là bởi vì tỉ lệ lãi suất thực tế_đại diện cho mức độ tăng sức mua của bạn _được đảm bảo. Tuy nhiên nhược điểm  của TIPS là ở chỗ chính vì nó là một công cụ an toàn nên TIPS có thu nhập thấp hơn các loại chứng khoán khác.Trái phiếu TIPS khá phổ biến tại các nền kinh tế lớn như Mỹ, Canda. Tại Canada thì người ta sử dụng thuật ngữ RRB (real return bond) để chỉ loại chứng khoán này.

Product Life Cycle / Vòng Đời Sản Phẩm

Khái niệm vòng đời sản phẩm gắn liền với đổi mới công nghệ và sáng tạo sản phẩm mới, ngày nay là chủ đề đặc biệt quan trọng của công nghệ kinh doanh hiện đại. Trên thực tế, khi đưa sản phẩm ra thị trường thì tất cả các sản phẩm đều trải qua 4 thời kỳ chủ yếu đó là: 1. Khuếch trương: Giai đoạn này thường là giai đoạn tiếp sau của quá trình phát triển sản phẩm thành công (giai đoan nghiên cứu và triển khai). Nó bắt đầu từ thời điểm sản phẩm được tung ra thị trường, khối lượng tiêu thụ thấp vì người tiêu dùng chưa quen sử dụng. 2. Tăng trưởng: Là thời kỳ sản phẩm được thị trường chấp nhận và mức tiêu thụ tăng lên nhanh chóng khi sản phẩm tạo lập được thị trường tiêu thụ hàng loạt. Vì các đối thủ cạnh tranh có thể tham gia thị trường và bán các sản phẩm cạnh tranh nên doanh nghiệp có thể phải có những chính sách để giữ khách hàng truyền thống và thu hút thêm khách hàng mới. 3. Bão hòa: Trong thời kỳ này, doanh thu bắt đầu suy giảm vì người tiêu dùng thay đổi thị hiếu của mình hay có sản phẩm tốt hơn được tung ra thị trường. Vì thị trường đã bão hòa nên các đối thủ cạnh tranh không thu được lợi nhuận từ  quá trình tăng trưởng mà phải cạnh tranh một cách khốc liệt để duy trì hoặc gia tăng thị phần trong một thị trường có quy mô không đổi. 4. Suy giảm: Trong thời kỳ này, doanh thu bắt đầu suy giảm vì người tiêu dùng thay đổi thị hiếu của mình và có những sản phẩm tốt hơn được tung ra thị trường. Nếu tiếp tục đi theo xu thế này thì sản phẩm sẽ "chết" tức là sẽ biến mất trên thị trường. Chính vì vậy mà các công ty phải có những chính sách để cải tiến sản phẩm cũ hoặc nghiên cứu đưa ra những sản phẩm mới phù hợp với thị hiếu tiêu dùng cả thị trường. Thông qua chu kỳ sản phẩm mà các công ty đua ra một chiến lược sản phẩm hay chiến lược mặt hàng phù hợp với các thời kỳ khác nhau của chu kỳ sản phẩm, qua đó duy trì một cơ cấu sản phẩm thích hợp, bao gồm các sản phẩm được tung ra thị trường, sản phẩm tăng trưởng và sản phẩm thuộc thị trường đã bão hòa.

Treasury Deposit Receipt - TDR / Biên Nhận Tiền Gửi Bộ Tài Chính

Đây là chứng khoán không buôn bán ngắn hạn (6 tháng) được chính phủ Anh áp dụng năm 1940 với tư cách là công cụ tài chính thời chiến, và bán ra giá trị hàng tuần đã định cho ngân hàng. Loại chứng khoán này giảm dần và bị loại bỏ vào năm 1953.

Treasury Bond / Trái Phiếu Kho Bạc

Chứng khoán kho bạc Mỹ dài hạn; thường có kỳ đáo hạn ban đầu là 10 năm hoặc lâu hơn, và được phát hành theo mệnh giá $1000 hoặc lớn hơn.

Chứng khoán kho bạc Mỹ dài hạn; thường có kỳ đáo hạn ban đầu là 10 năm hoặc lâu hơn và được phát hành theo mệnh giá $1000 hoặc lớn hơn.

Product Positioning / Định Vị Sản Phẩm

Sản phẩm (Product) là một P trong Marketing hỗn hợp (Marketing Mix). Sản phẩm cũng là điều kiện tiên quyết để đảm bảo thành công cho các mục tiêu cơ bản của chiến lược tổng thể của doanh nghiệp. Định vị sản phẩm là việc xác định vị trí sản phẩm của doanh nghiệp trên thị trường so với sản phẩm cạnh tranh. Doanh nghiệp định vị sản phẩm của mình thông  qua việc xác định chính xác đối tượng khách hàng hướng đến, trên cơ sở những lợi thế và nguồn lực của mình để tạo ra vị thế riêng biệt của sản phẩm của mình trong môi trường cạnh tranh, nhằm phân biệt sản phẩm của mình với các sản phẩm của đối thủ cạnh tranh.Khi định vị sản phẩm, cần phải so sánh và đánh giá tương quan giữa doanh nghiệp và đối thủ cạnh tranh theo những nội dug chính sau:1. Định vị sản phẩm phải bám sát theo 5 cấp sản phẩm: Lợi ích cốt lõi (Core Benefit) Sản phẩm hiện thực (Generic Product) Sản phẩm mong đợi (Expected Product) Sản phẩm bổ sung (Augmented Product) Sản phẩm tiềm năng (Potential Product) 2. Định vị sản phẩm phải được liên kết với những nội dung còn lại của Marketing Mix như  giá cả (Price), Phân phối (Place) và yểm trợ (Promotion)3. Định vị sản phẩm phải căn cứ vào kết quả cuối cùng của các mục tiêu chiến lược mà doanh nghiệp và các đối thủ đạt được như doanh số, thị phần, lợi nhuận.

Product Proliferation / Đa Dạng Hóa Sản Phấm

Một chiến lược ngăn chặn việc gia nhập ngành do một số doanh nghiệp thiết lập nhằm theo đuổi làm bão hoà thị trường với một số lớn các nhãn hiệu khác nhau đến mức bất kỳ người nào mới gia nhập cũng thấy khó mà kiếm được lãi trong việc đưa ra thị trường một sản phẩm với một tổ hợp thuộc tính có thể phân biệt với loạt nhãn hiệu có sẵn.

Treasury Bill (T-Bill) / Trái Phiếu Chính Phủ Ngắn Hạn

Một công cụ nợ của Chính phủ Mỹ với khoảng thời gian đáo hạn dưới 1 năm. T-bill có mệnh giá 1000 USD, giá trị mua tối đa là 5 triệu đôla, và thông thường có thời gian đáo hạn là 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng. T-bill được bán thông qua các cuộc bán đấu giá có cạnh tranh, giá mua thấp hơn mệnh giá. Khác với trái phiếu thông thường khi đó người sở hữu trái phiếu nhận được lãi suất cố định, việc mua với giá thấp hơn mệnh giá của trái phiếu đã tạo ra cho người mua một phần lãi. Ví dụ, nếu bạn mua trái phiếu T-bill có thời gian đáo hạn trong 3 tháng, bạn trả 9800 đôla. Chính phủ Mỹ sẽ viết cho bạn một giấy nhận nợ IOU với giá trị khoản nợ là 10 000 đôla và đồng ý là sẽ trả lại bạn số tiền này trong 3 tháng. Bạn sẽ không nhận được một khoản lãi suất trái phiếu (trái tức) thường kì, thay vào đó, bạn sẽ nhận được một khoản chênh lệch giữa giá bạn đã nộp và giá bạn sẽ được nhận lại, trong trường hợp này là (10000 - 9800 = 200) thức là bạn đã được nhận lãi suất là 200/9800 = 2,04% trong 3 tháng. T-bill tương tự như trái phiếu có trái tức bằng 0.

Product Rule / Quy Tắc Tích Số

Một quy tắc để xác định đạo hàm của một hàm theo một biến, khi hàm số bao gồm tích của hai hoặc nhiều hàm số riêng biệt của biến số.

Treasury Bill / Tín Phiếu Bộ Tài Chính

Một phương tiện vay ngắn hạn của chính phủ Anh được đưa vào năm 1877 và vào thời gian đó là mô hình theo hối phiếu thương mại. Ở Mỹ cũng có công cụ tương ứng. Tín phiếu bộ tài chính Mỹ do bộ tài chính phát hành có thời hạn ba, sáu, chín và mười hai tháng. Các chứng khoán này là sự đầu tư không có rủi ro, nhưng vẫn có rủi ro trên thị trường thứ cấp trước khi đáo hạn, bởi vì giá biến động với thay đổi trong lãi suất thị trường.

Production / Sản Xuất

Hành động biến đổi các yếu tố sản xuất thành hàng hoá và dịch vụ do yêu cầu của tiêu dùng và đầu tư.

Treasury Bill / Tín Phiếu

Tín phiếu là một loại "trái phiếu ngắn hạn" do ngân hàng nhà nước(NHNN) phát hành, khác nhau về thời gian có giá trị tối đa là 364 ngày. Theo qui định, tín phiếu có thời hạn dưới 12 tháng, còn thời hạn của trái phiếu là trên 12 tháng. Về nguyên tắc, tín phiếu do các ngân hàng thương mại tự nguyện mua, trên cơ sở tính toán nguồn vốn của mình và có thời hạn dưới 12 tháng. Trường hợp cần thiết, ngân hàng thương mại có thể bán lại tín phiếu cho NHNN để lấy tiền về. Tuy nhiên, trong một số trường hợp cần thiết NHNN "bắt buộc" các ngân hàng thương mại... phải mua một lượng tín phiếu để điều chỉnh chính sách tiền tệ, như tháng 02/2008 vừa qua.

Production And Operations Management - POM / Quản Trị Vận Hành - Sản Xuất (POM)

Quản trị vận hành-sản xuất (POM hoặc P/OM). Sản xuất được hiểu là quá trình sử dụng các nguồn lực để tạo ra hàng hóa và dịch vụ. POM là các hoạt động liên quan tới quá trình tạo ra hàng hóa và dịch vụ của sản xuất thông qua việc chuyển đổi các đầu vào sản xuất thành đầu ra là hàng hóa và dịch vụ. Các hoạt động tạo hàng hóa-dịch vụ diễn ra trong mọi tổ chức. Trong các công ty sản xuất-chế tạo, các hoạt động tạo ra hàng hóa có thể thấy rõ ngay, vì chúng tạo ra những vật thể trực giác có thể quan sát được như ti-vi, xà-phòng hay xe hơi. Khi này ta có ngay khái niệm Quản trị sản xuất. Nhưng trong một số loại hình tổ chức khác, con người lại không nhất thiết tạo ra hàng hóa vật chất, vì thế chức năng sản xuất khó có thể nhìn thấy rõ rệt. Loại tổ chức ta có thể lấy ví dụ minh họa thuộc nhóm này bao gồm ngân hàng, hãng hàng không, hay trường học. Đây chính là các tổ chức cung ứng dịch vụ. Hoạt động sản xuất-chế tạo lúc này được gọi chung là "vận hành" và chúng ta có khái niệm tương ứng là Quản trị vận hành. POM là các hoạt động thuộc khoa học ra quyết định nhằm hỗ trợ các quyết định về sản xuất và vận hành tối ưu trong các điều kiện cho phép. Chức năng POM nằm rải rác ở các bộ phận chức năng chuyên môn của các doanh nghiệp. Về lịch sử, loài người ghi nhận các thành tựu đột phá của khoa học quản trị liên quan tới POM như nhà công nghiệp Eli Whitney (1800) với ý tưởng phụ tùng lắp lẫn; Frederick Taylor (1881) được xem là cha đẻ của ngành Khoa học quản trị công nghiệp với các ý tưởng về tuyển dụng lao động, phương pháp luận lập kế hoạch tối ưu và quản trị thời gian, phân chia chức năng lao động quản lý và sản xuất-vận hành trực tiếp; Henry Ford và Charles Soreson (1913) về dây chuyền lắp ráp phụ tùng sản xuất hàng loạt và đưa ra khái niệm dây chuyền lắp ráp được điều phối khoa học. Trong Thế chiến II, chính Sorenson là người thiết kế dây chuyền Willow Run nổi tiếng góp phần sản xuất máy bay ném bom B-24 The Liberator. Tới 1924, lại xuất hiện tư tưởng quản trị chất lượng chế tạo của Walter Shewhart nhằm ứng dụng kiến thức thống kê toán đáp ứng nhu cầu kiểm soát chất lượng sản phẩm đầu ra bằng việc lấy mẫu ngẫu nhiên. Tới 1950, Edwards Deming với tư tưởng rằng bộ máy quản trị cần làm việc hiệu quả hơn nữa để cải thiện các quá trình vận hành và môi trường làm việc để cuối cùng dẫn tới cải thiện chất lượng tổng thể TQM. Nhật Bản đã áp dụng hoàn hảo và phát triển mạnh mẽ tư tưởng của Deming để trở thành nhà sản xuất công nghiệp chất lượng cao nhất thế giới trong mọi lĩnh vực hàng hóa mà Nhật Bản tham gia sản xuất. POM đang tiếp tục phát triển mạnh mẽ và tận dụng các thành tựu khoa học hiện đại nhất để tự vận động thành một ngành khoa học quản trị tiên tiến. Ngày này POM chứa các nội dung quan trọng trong quản lý có nguồn gốc từ: (i) Kỹ thuật công nghiệp; (ii) Khoa học quản trị; (iii) Công nghệ sinh học và khoa học vật lý; (iv) Khoa học về thông tin. Các mốc lịch sử huy hoàng của POM trong thế giới kinh doanh và công nghiệp có thể lược qua với những tên tuổi lớn, rất dễ nhận biết và tìm kiếm thông tin được liệt kê dưới đây (cho dù là không đầy đủ): 1. Phân chia lao động xã hội (Adam Smith 1776)2. Chuẩn hóa phụ tùng lắp lẫn (Eli Whitney 1880)3. Quản trị khoa học (Frederick Taylor 1881)4. Sơ đồ Gantt (Gantt 1916)5. Nghiên cứu chuyển động hợp lý (Gilbreth 1922)6. Dây chuyền lắp ráp có điều phối (Henry Ford/Sorenson 1913)7. Kiểm soát chất lượng (Shewhart 1924)8. Máy tính (Atanasoff 1938)9. Kiểm soát chất lượng tổng thể (Edwards Deming 1950)10. CPM/PERT (DuPont 1957)11. MRP (Orlicky 1960)12. GERT (Pritsker 1963)13. Thiết kế công nghiệp sử dụng phần mềm CAD (1965)14. Hệ thống sản xuất linh hoạt (1973)15. Giao thức tự động hóa chế tạo (1980)16. Sản xuất có tích hợp công nghệ điều khiển máy tính (1990) Danh sách này còn tiếp tục kéo dài.

Treasury - Federal Reserve Accord / Thoả Thuận Giữa Bộ Tài Chính Và Cục Dự Trữ Liên Bang

Từ năm 1942-51, HỆ THỐNG DỰ TRỮ LIÊN BANG MỸ nâng đỡ giá trái phiếu chính phủ Mỹ nhằm tạo thuận lợi cho việc vay mượn của chính phủ liên bang. Năm 1952 Dự trữ liên bang và Bộ tài chính đã ký một "thoả thuận" - giải phóng Dự trữ liên bang khỏi trách nhiệm mua trái phiếu.

Transnational Corporation/ TNC / Công Ty Xuyên Quốc Gia

Một công ty xuyên quốc gia là một doanh nghiệp được cấu thành bởi các thực thể ở ít nhất 2 nước, các thực thể này hoạt động dưới một hệ thống ra quyết định chung và định hướng chiến lược phát triển chung. Công ty xuyên quốc gia bao gồm công ty mẹ ở một nước, và thực hiện các đầu tư FDI ra nước ngoài để hình thành các công ty con. Các công ty mẹ con này ảnh hưởng lẫn nhau và cùng chia sẻ kiến thức, nguồn lực và trách nhiệm lẫn nhau. Công ty Xuyên quốc gia và công ty Đa quốc gia được hiểu tương đương. Dấu vết của các công ty xuyên quốc gia được các nhà lịch sử lần theo từ thế kỉ thứ 17 - kỉ nguyên của các cuộc khám phá ra vùng đất mới và xâm chiếm thuộc địa. Hai công ty xuyên quốc gia được coi như là ra đời sớm nhất là công ty British East India Company được thành lập dưới hiến chương của Hoàng gia Anh để thực hiện buôn bán thương mại với Ấn Độ vào cuối thế kỉ 17 và Dutch East India Company. Những công ty xuyên quốc gia rất lớn và có lịch sử phát triển lâu đời là Unilever, Ford Motor, Royal Dutch Shell, Siemens. Công ty xuyên quốc gia có đặc điểm nổi bật đó là sức mạnh tài chính (trong 100 thực thể kinh tế lớn nhất thế giới thì có tới 51 là công ty xuyên quốc gia; TNCs chiếm 2/3 tổng thương mại thế giới về hàng hóa và dịch vụ thế giới trong đó 1/3 là thương mại nội bộ công ty, 1/3 là thương mại giữa TNCs và các thực thể bên ngoài). Ngoài ra hệ thống phân phối, công nghệ và R&D của TNCs cũng rất vô địch, 3/4 chi phí R&D của thế giới tới từ TNCs. Ngoài ra TNCs còn có khả năng vận động hành lang chính phủ để chính phủ đưa ra các chính sách có lợi cho mình về thuế và môi trường. Chỉ cần lấy một ví dụ đơn giản, doanh thu của ConocoPhilips - công ty lớn thứ 10 trong bảng xếp hạng Global Fortune 500, doanh thu năm 2006 đã lớn gấp 2,7 lần GDP của Việt Nam trong cùng năm (xấp xỉ 61 tỉ USD). Phép tính đơn giản nhưng nhiều ý nghĩa.

Produciton Fontier / Giới Hạn Sản Xuất

Còn gọi là đường giới hạn năng lực sản xuất hoặc là hàm số của sự biến đổi. Đường này cho thấy các khả năng mở ra cho việc gia tăng sản lượng của một hàng hoá bằng cách giảm sản lượng của một hàng hoá khác.

Transferable Currency / Tiền Tệ Chuyển Khoản

Tiền tệ chuyển khoản là tiền tệ mà luật tiền tệ của một nước hoặc của một khối kinh tế quy định những khoản thu nhập bằng tiền tệ này sẽ được ghi vào tài khoản mở tại Ngân hàng chỉ định sẽ được quyền chuyển khoản sang tài khoản chỉ định của một bên khác ở cùng một ngân hàng hoặc một ngân hàng ở nước khác khi có yêu cầu mà không cần giấy phép. Tiền tệ chuyển khoản không thể được tự do chuyển đổi sang các ngoại tệ khác, nó chỉ được quyền chuyển nhượng quyền sở hữu tiền tệ từ người này sang người khác trên hệ thống tài khoản mở tại một ngân hàng. Với khái niệm tiền tệ chuyển khoản nói trên, tiền tệ tự do chuyển đổi đã hàm chứa khái niệm chuyển khoản, còn ngược lại tiền tệ chuyển khoản không chứa đựng khái nệm chuyển đổi hình thái tiền tệ. Trong lịch sử hệ thống tiền tệ thế giới sau Đại chiến thế giới lần 2 tới nay, đồng Rúp chuyển khoản là tiền tệ của Hội đồng Tương trợ Kinh tế quốc tế xã hội chủ nghĩa là loại tiền tệ chuyển khoản điển hình. Mười nước xã hội chủ nghĩa thành viên của Hội đồng này đều mở tài khoản bằng Rúp chuyển khoản tại Ngân hàng Hợp tác kinh tế quốc tế XHCN để ghi Có và ghi Nợ các khoản thu và chi bằng Rúp chuyển khoản phát sinh từ các hoạt động kinh tế thương mại dịch vụ...với các nước thành viên khác. Việc thanh toán giữa các nước thành viên được thực hiện bằng cơ chế bù trừ nhiều bên bằng Rúp chuyển khoản vào cuối năm. Với cơ chế thanh toán này các nước XHCN không phải sử dụng đến ngoại tệ tự do tư bản chủ nghĩa trong quan hệ thương mại và hợp tác quốc tế, nhờ đó khắc phục được nạn khan hiếm ngoại tệ tự do TBCN và sự phụ thuộc vào nền kinh tế và tài chính của hệ thống kinh tế TBCN lúc bấy giờ. Tuy nhiên đồng Rúp chuyển khoản chỉ được sử dụng trong phạm vi 10 nước thành viên, rõ ràng nó chính là biểu hiện của một nền kinh tế XHCN khép kín, thiếu tính năng động và thách thức. Khi hệ thống XNCH ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ thì kéo theo đồng Rúp chuyển khoản cũng không còn tồn tại.

Production Function / Hàm Sản Xuất

Mối liên hệ giữa SẢN LƯỢNG (đầu ra) của một hàng hoá và đầu vào (nhân tố sản xuất) được yêu cầu làm ra hàng hoá đó.

Transfer Pricing / Định Giá Chuyển Nhượng

Giá trị tính cho những chuyển nhượng bên trong một tổ chức, được sử dung như một phương tiện phân bổ chi phí đến nhiều trung tâm lợi nhuận khác nhau. Định giá chuyển nhượng được sử dụng rộng rãi trong các ngân hàng có nhiều văn phòng, và các công ty cổ phần ngân hàng, phục vụ những chức năng quan trọng sau: (1) định giá các dịch vụ được các đơn vị kinh doanh thực hiện; (2) một phương tiện để đánh giá thành quả tài chính của các đơn vị kinh doanh; và (3) xác định sự đóng góp vào lợi nhuận ròng bởi các trung tâm lợi nhuận trong tổ chức. Ví dụ như việc xác định chi phí các quỹ nội bộ của một ngân hàng hoặc chi phí gán cho các khoản tiền gởi ngân hàng, được cung cấp bởi những văn phòng chi nhánh đến chi nhánh cho vay thương mại của nó. Những chi nhánh lẻ truyền thống là những nhà cung cấp vốn, và những nhà cho vay thương mại truyền thống là người sử dụng vốn. Kế hoạch định giá chuyển nhượng cũng được sử dụng rộng rãi trong định giá các dịch vụ của công ty cổ phần ngân hàng, được cung cấp cho các ngân hàng, chi nhánh, ví dụ, xử lý chi phiếu, xử lý dữ liệu, và vốn được một công ty cổ phần cung cấp cho ngân hàng chi nhánh hoặc công ty con không phải ngân hàng. Trong cho vay, việc định giá chuyển nhượng có thể được sử dụng như một hình thức phân phối tín dụng nội bộ, bằng cách gán chi phí sử dụng vốn thấp nhất cho các khoản cho vay rủi ro ít nhất, khuyến khích các nhà cho vay thực hiện các khoản cho vay sinh lợi cho ngân hàng cũng như rủi ro thấp. Những kế hoạch định giá chuyển nhượng thường tuân thủ một trong ba cách tiếp cận hạch toán chi phí sau: (1) giá thị trường; (2) giá dựa trên chi phí; hoặc (3) giá đã thương lượng, giá được xác định thông qua thương lượng bởi người mua và người bán. Trái lại, chi phí lịch sử thường chỉ được sử dụng để tham khảo, và thường không được sử dụng trong định giá nội bộ.

Giá trị tính cho những người chuyển nhượng bên trong một tổ chức được sử dụng như một phương tiện phân bổ chi phí đến nhiều trung tâm lợi nhuận khác nhau. Định giá chuyển nhượng được sử dụng rộng rãi trong các ngân hàng có nhiều văn phòng, và các công ty cổ phần ngân hàng, phục vụ những chức năng quan trọng sau: (1) định giá các dịch vụ được các đơn vị kinh doanh thực hiện; (2) một phương tiện để đánh giá thành quả tài chính của các đơn vị kinh doanh; và (3) xác định sự đóng góp vào lợi nhuận ròng bởi các trung tâm lợi nhuận trong tổ chức.  Ví dụ như việc xác định cho phí các quỹ nội bộ của một ngân hàng, hoặc chi phí gán cho các khoản tiền gởi ngân hàng, được cung cấp bởi những văn phòng chi nhánh đến chi nhánh cho vay thương mại của nó. Những chi nhánh lẻ truyền thống là những nhà cung cấp vốn, và những nhà cho vay thương mại truyền thống là những người sử dụng vốn. Kế hoạch định giá chuyển nhượng cũng được sử dụng rộng rãi trong định giá các dịch vụ của các công ty cổ phần ngân hàng, được cung cấp  cho các chi nhánh, ví dụ, xử lý chi phiếu, xử lý dữ liệu và vốn được một công ty cổ phần cung cấp cho ngân hàng cho nhánh hoặc công ty con không phải ngân hàng. Trong cho vay, việc định giá chuyển nhượng có thể được sử dụng như một hình thức phân phối tín dụng nội bộ, bằng cách gán chi phí sử dụng vốn thấp nhất cho các khoản vay rủi ro ít nhất, khuyến khích các nhà cho vay thực hiện các khoản vay sinh lợi cho ngân hàng cũng như rủi ro thấp. Những kế hoạch định giá chuyển nhượng thường tuân thủ một trong ba cách tiếp cận hạch toán chi phí sau: (1) giá thị trường; (2) giá dựa trên chi phí; (3) giá đã thương lượng; giá được xác định thông qua thương lượng bởi người mua và người bán. Trái lại, chi phí lịch sử thường chỉ được sử dụng để tham khảo, và thường không được sử dụng trong định giá nội bộ.

Transfer Payments / Thanh Toán Chuyển Khoản

Trong một nền kinh tế quốc dân, việc thanh toán của chính phủ hoặc các bộ phận dân cư giàu có hơn cho những người dân nghèo hơn trong nước, như thông qua các khoản thanh toán an ninh xã hội, trợ cấp thất nghiệp và trợ cấp hưu trí. Các khoản thanh toán như vậy không được tiến hành bằng việc đưa lại hàng hóa dịch vụ mà là để phân phối lại thu nhập. Thanh toán chuyển khoản quốc tế bao gồm khoản viện trợ của các chính phủ cho các nước đang phát triển và các chương trình và các hoạt động của các cơ quan tự nguyện tư nhân đặt trụ sở ở một nước đem lại lợi ích tài chính cho người dân ở một nước khác và được xem là một bộ phận của tài khoản vãng lai trong cán cân thanh toán.

Sách Combo 4 Cuốn : Tư Duy Ngược + Tư Duy Mở + Biến Mọi Thứ Thành Tiền Chuột không dây Ugreen M751 với con lăn vô cực Máy chơi game retro Powkiddy X55