Primary Earnings Per Share (EPS) / Thu Nhập Ban Đầu Tính Theo Một Cổ Phiếu
Một trong hai phương pháp phân loại cổ phiếu đang lưu hành. Phương pháp khác là phương pháp hoàn toàn làm loãng thu nhập trên mỗi cổ phiếu (EPS) gọi là các EPS cơ sở. Các "EPS cơ sở" thường được sử dụng nhiều hơn thay vì "EPS ban đầu". EPS cơ sở là phương pháp đơn giản để phân loại cổ phiếu đang lưu hành, vì nó sử dụng số lượng cổ phiếu hiện đang có sẵn để giao dịch. Để tính EPS cơ sở ta có thể phân chia thu nhập ròng của số cổ phiếu đang lưu hành. Việc làm loãng EPS thường phức tạp hơn tính toán rất nhiều nhưng nó được coi là bảo thủ hơn vì nó sẽ đưa vào tài khoản cổ phiếu chuyển đổi nợ, đảm bảo và tùy chọn để các cổ phiếu này có thể được chuyển đổi sang cổ phần có thể giao dịch được.Nếu không có những công cụ tài chính nổi bật, việc làm loãng EPS và EPS ban đầu sẽ bình đẳng với nhau hơn. EPS có thể được tính bằng nhiều cách khác nhau tùy thuộc vào các phương pháp kế toán và giả định công ty sử dụng, các nhà đầu tư đặt EPS vào tài khoản tại bất kỳ quá trình ra quyết định nên việc hiểu con số EPS mà họ đang sử dụng như thế nào đã được tính toán.
Porfolio Balance Approach / Phương Pháp Cân Đối Danh Mục Đầu Tư
Một phương pháp phân tích tiền tệ nhấn mạnh vào ý nghĩa các quyết của những người có tài sản về thành phần danh mục đầu tư của họ.
Uncertainty / Tính Không Chắc Chắn
Đây là thuật ngữ chỉ sự không chắc chắn - bấp bênh của những tình huống mà trong đó nhiều kết cục có thể xảy ra, và khả năng xảy ra những kết cục này như thế nào gần như là không lường trước được.
Population Trap / Bẫy Dân Số
Cũng còn gọi là bẫy cân bằng mức thấp. Một nền kinh tế có mức thu nhập tính theo đầu người thấp có thể thấy rõ ràng tỷ lệ tăng trưởng dân số vượt quá mức tỷ lệ tăng trưởng của thu nhập thực tế.
Bẫy Dân Số (Population Trap) là một thuật ngữ trong tài chính. Nó mô tả khái niệm, cơ chế hoặc quy trình cụ thể, được sử dụng trong phân tích, định giá, giao dịch và quản trị rủi ro. Ví dụ: Bẫy Dân Số (Population Trap) có thể dùng trong phân tích báo cáo tài chính hoặc định giá doanh nghiệp, tùy ngữ cảnh. Ứng dụng: hỗ trợ lập báo cáo, phân tích, thẩm định và ra quyết định tài chính. Khi áp dụng, cần lưu ý đến bối cảnh pháp lý và thị trường để hiểu đúng.
Primary Goods / Các Hàng Hóa Cơ Bản
Như được định nghĩa trong thuyết về công bằng do John Rawls đưa ra, những loại hàng hoá này là những quyền cơ bản, các quyền tự do, thu nhập và của cải sẵn có để phân phối trong một xã hội.
Population Policy / Chính Sách Dân Số
Một chính phủ có thể đặt ra một chính sách cụ thể liên quan đến mức dân số do chính phủ cai quản.
Chính Sách Dân Số (Population Policy) là một thuật ngữ quan trọng trong tài chính – kinh tế, mô tả cơ chế, quy trình hoặc khái niệm liên quan đến đầu tư, quản trị và phân tích dữ liệu tài chính. Ví dụ: Chính Sách Dân Số (Population Policy) thường được dùng trong phân tích báo cáo tài chính, lập kế hoạch đầu tư hoặc đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh. Ứng dụng: hỗ trợ lập kế hoạch tài chính, quản lý rủi ro và ra quyết định chiến lược. Khi sử dụng, cần lưu ý ngữ cảnh và mục tiêu để đảm bảo hiểu đúng và áp dụng chính xác.
Primary Market / Thị Trường Sơ Cấp
Thị trường sơ cấp (primary market). Đây là khái niệm thường được dùng để chỉ một loại thị trường tài chính. Thị trường sơ cấp là thị trường ở đó người ta tiến hành giao dịch các tài sản tài chính và các hợp đồng tài chính mới xuất hiện lần đầu tiên. Các tài sản tài chính giao dịch trên thị trường sơ cấp có thể rất đa dạng, từ các hợp đồng vay, ngoại hối, tiền tệ, cổ phiếu, v.v.. Khái niệm thị trường sơ cấp được phân biệt rất rõ ràng với thị trường thứ cấp. Mặc dù đây là hai loại thị trường khác nhau, nhưng với cùng bản chất hàng hóa, nên chúng quan hệ hết sức chặt chẽ. Người ta đã chứng minh được cả về lý thuyết lẫn thực nghiệm rằng giá và lợi suất của một tài sản trên hai thị trường này có quan hệ tỷ lệ rất mật thiết.
Thị trường trong đó một khoản vay thực sự dành cho người vay, khác với thị trường thứ cấp, trong đó chứng khoán được bảo đảm bằng khoản vay phải thu được bán cho các nhà đầu tư. Ngân hàng hay tổ chức tiết kiệm giữ khoản vay trên sổ sách của họ, và không tham gia vào việc buôn bán của thị trường thứ cấp, được biết đến như người cho vay theo mục. Thị trường mà các chứng khoán chính phủ được bán cho các nhà giao dịch sơ cấp, sau đó họ bán lại các chứng khoán cho các nhà đầu tư trong thị trường thứ cấp. Thị trường trong đó các chứng khoán mới phát hành được chào bán, và các hợp đồng option được mua vào.
Population Explosion / Bùng Nổ Dân Số
Tên gọi tỷ lệ tăng trưởng ngày một lớn hơn của dân số thế giới, đặc biệt ở các nước đang phát triển.
Bùng Nổ Dân Số (Population Explosion) là một thuật ngữ trong tài chính. Nó mô tả khái niệm, cơ chế hoặc quy trình cụ thể, được sử dụng trong phân tích, định giá, giao dịch và quản trị rủi ro. Ví dụ: Bùng Nổ Dân Số (Population Explosion) có thể dùng trong phân tích báo cáo tài chính hoặc định giá doanh nghiệp, tùy ngữ cảnh. Ứng dụng: hỗ trợ lập báo cáo, phân tích, thẩm định và ra quyết định tài chính. Khi áp dụng, cần lưu ý đến bối cảnh pháp lý và thị trường để hiểu đúng.
Pooled Data / Dữ Liệu Gộp
Dữ liệu kiểu hình thành khi (a) SỐ LIỆU CHÉO và (b) DỮ LIỆU CHUỖI THỜI GIAN được sáp nhập vào cùng bộ dữ liệu, thông thường khi không có đủ dữ liệu kiểu (a) hoặc (b) riêng, để ước lượng các thông số của một mô hình do không đủ các bậc tự do.
Primary Money / Tiền Sơ Cấp
Một tên gọi khác cho tiền cơ bản hoặc TIỀN CÓ QUYÊN LỰC, tức là loại tiền do các nhà chức trách về tiền tệ phát hành.
Ponzi Scheme, Ponzi Scam / Kế Hoạch Ponzi
Một hoạt động đầu tư lừa đảo hứa hẹn mang lại lợi nhuận cao với ít rủi ro. Mô hình này đem lại lợi nhuận cho các nhà đầu tư tham gia trước bằng cách mời gọi thêm các nhà đầu tư mới. "Kế hoạch Ponzi" chỉ mang lại lợi nhuận cho những nhà đầu tư đến sớm, cho đến khi nào còn có nhà đầu tư mới tham gia. "Kế hoạch Ponzi" được đặt theo tên của Charles Ponzi, một kế toán tại Boston, người đầu tiên đưa ra mô hình lừa gạt này năm 1919. Từ một kẻ vô danh và rỗng túi, hắn trở nên nổi tiếng và giàu có toàn nước Mỹ. Ponzi nổi tiếng đến mức "Ponzi scheme" và "Ponzi Finance" có mặt trong giáo trình tất cả các trường đại học ở Mỹ và Ponzi có hẳn 1 website dành cho mình là http://www.mark-knutson.com/. Cấu trúc “Ponzi” Trong giai đoạn đầu, những kẻ lừa đảo thường đưa ra những lời hứa hẹn rất hấp dẫn. Việc vốn đầu tư được sử dụng như thế nào được giải thích bằng những hoạt động nghe có vẻ hợp lý nhưng lại chung chung, như “đầu tư vào lĩnh vực giải trí”. Đầu tiên, một số nhỏ nhà đầu tư bị thu hút và tham gia thử một số tiền nhỏ. Một thời gian sau, họ nhận lại được số vốn ban đầu cộng với khoản lãi suất rất cao. Tới lúc này, những nhà đầu tư đó bắt đầu tin tưởng và đầu tư số tiền lớn hơn. Dựa trên phương thức truyền miệng hoặc qua mạng, cơ hội đầu tư này nhanh chóng được biết tới. Vì những người đi trước đúng là đã thu được lợi nhuận nên những người khác nhanh chóng tin theo và tham gia đầu tư. Theo thời gian, số người tham gia càng lúc càng nhiều do hy vọng họ có cơ hội nhận được lãi suất lớn. Trên thực tế, lãi suất được trả cho các nhà đầu tư không đến từ các khoản lợi nhuận thật sự của bất kỳ hoạt động kinh doanh nào. Số tiền thu được từ những nhà đầu tư tới sau sẽ được dùng để trả cho những nhà đầu tư ban đầu. Khoản tiền thừa chui vào túi kẻ lừa đảo. Hệ thống này có thể được duy trì khá lâu, do vốn chảy vòng quanh. Những nhà đầu tư ban đầu thấy thu được lợi nhuận lớn lại tiếp tục đầu tư một khoản tiền lớn hơn vào. Và số tiền tái đầu tư này lại được đem trả cho những nhà đầu tư khác. Mô hình Ponzi khá gần với mô hình kim tự tháp bởi cả 2 mô hình đều sử dụng tiền của những nhà đầu tư mới để trả cho những người đến trước. Một điểm khác biệt giữa 2 mô hình này là trong "kế hoạch Ponzi", người điều khiển sẽ tập hợp tất cả tiền từ những nhà đầu tư mới, sau đó mới phân chia chúng. Còn trong mô hình kim tự tháp, mỗi nhà đầu tư sẽ hưởng lợi trực tiếp dựa trên số nhà đầu tư mới mà họ mời gọi được. Trong trường hợp này, người đứng đầu kim tự tháp không có khả năng tiếp cận với tất cả tiền trong hệ thống. Tuy nhiên, trong cả 2 mô hình, sẽ đến lúc không còn đủ tiền để lưu chuyển giữa người này hay người khác- và đó chính là lúc mô hình bị sụp đổ.
Primary Production / Ngành Sản Xuất Cơ Bản
Là ngành sản xuất công nghiệp liên quan đến quá trình thay đổi (chế biến) các nguồn tài nguyên thiên nhiên thành cách sản phẩm cơ bản. Hầu hết sản phẩm của ngành này được coi là nguyên liệu thô của các ngành sản xuất khác. Các ngành kinh doanh trong khu vực này bao gồm nông nghiệp, các ngành kinh doanh liên quan đến nông nghiệp (agribusiness), đánh bắt cá, lâm nghiệp, công nghiệp khai mỏ và khai thác đá. Các ngành công nghiệp sản xuất bao bì, đóng gói chiết xuất hoặc xử lí các nguyên liệu thôliên quan chặt chẽ đến những người sản xuất sản phẩm cơ bản cũng thường được coi là một bộ phận của ngành này, đặc biệt nếu nguyên liệu thô không phù hợp để đem bán hoặc khó vận chuyển qua những khoảng cách dài. Ngành công nghiệp cơ bản chiếm tỉ trọng lớn hơn ở các ngước đang phát triển, ví dụ nghề chăn nuôi phổ biến ở Châu Phi hơn là ở Nhật Bản, nghề khai thác mỏ ở miền Nam xứ Wales là một trường hợp điển hình cho thấy một quốc gia có thể làm thế nào để tồn tại chỉ dựa vào một nghề kinh doanh. Ở các nước phát triển, ngành công nghiệp cơ bản phát triển hơn và áp dụng công nghệ cao hơn, máy móc thay thế sức người bằng tay để thu hoạch và gieo trồng. Ở Mỹ, việc trồng ngô kết hợp của máy thu hoạch, hệ thống phun thuốc sẽ phun thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ dại và diệt nấm, vì vậy những tiến bộ kĩ thuật và đầu tư nhiều cho sản xuất cho phép khu vực cơ bản sử dụng ít nhân công hơn và như vậy các nước phát triển có một tỉ lệ nhỏ làm việc trong khu vực này, và có nhiều nhân công hoạt động trong khu vực sản xuất và khu vực dịch vụ.
Polynomial / Đa thức; Biểu Thức Đại Số
Một phương trình mà nói chung nhiều hạng số trong một biến số độc lập được nâng lên nhiều luỹ thừa khác nhau.
Primary Securities / Chứng Khoán Sơ Cấp
Một cụm thuật ngữ đã được John G.Gurley và Edward S.Shaw đưa ra trong tác phẩm Tiền trong một thuyết về tài chính (1960) và có nghĩa là mọi hình thức nợ có thể được đem bán hoặc phát hành bởi "những người vay nợ" tức là những người đã đi vay cần nguồn vốn tài chính để mua tài sản thực tế.
Chứng Khoán Sơ Cấp (Primary Securities) là một thuật ngữ trong tài chính. Nó mô tả khái niệm, cơ chế hoặc quy trình cụ thể, được sử dụng trong phân tích, định giá, giao dịch và quản trị rủi ro. Ví dụ: Chứng Khoán Sơ Cấp (Primary Securities) có thể dùng trong phân tích báo cáo tài chính hoặc định giá doanh nghiệp, tùy ngữ cảnh. Ứng dụng: hỗ trợ lập báo cáo, phân tích, thẩm định và ra quyết định tài chính. Khi áp dụng, cần lưu ý đến bối cảnh pháp lý và thị trường để hiểu đúng.
Pollution Rights / Các Quyền Được Gây Ô Nhiễm
Ý tưởng cho rằng cần phải cấp giấy chứng nhận cho người chủ sở hữu "quyền được gây ô nhiễm" ở một môi trường nhất định, chẳng hạn một dìng sông.
Primary Stock / Cổ Phiếu Sơ Cấp
Là cổ phiếu được phát hành lúc thành lập doanh nghiệp hoặc cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước. Cổ phiếu sơ cấp thường là cổ phiếu ghi danh cổ đông, do đó việc mua bán phải gắn liền với việc đăng ký lại tên cổ đông tại doanh nghiệp phát hành và tuân theo luật lệ mua bán, trao đổi và chuyển nhượng chứng khoán. Cổ đông của cổ phiếu được hưởng nhiều quyền do điều lệ doanh nghiệp quy định, trong đó có quyền cơ bản là tham gia quản lý doanh nghiệp thông qua quyền bỏ phiếu biểu quyết trong Đại hội đồng cổ đông.
Pollution / Ô Nhiễm
Một hoạt động làm ô nhiễm một hoặc nhiều môi trường.
Primary Workers / Các Công Nhân Sơ Cấp
Những cá nhân vẫn trong lực lượng lao động, được thuê mướn hoăch không thuê mướn, bất luận những thay đổi ngắn hạn về lương và điều kiện thị trường.
Polluter Pays Principle / Nguyên Tắc Người Gây Ô Nhiễm Trả Phí
Ý tưởng cho rằng gây ô nhiễm phải trả phí cho việc gây ô nhiễm môi trường.
Prime Lending Rate / Prime Interest Rate / Lãi Suất Cho Vay Cơ Bản
Lãi suất cho vay cơ bản là mức lãi suất khi khách hàng vay tiền tại các ngân hàng thương mại. Thường đó là các khách hàng truyền thống. Lãi suất cho vay được xác định dựa vào Fed Funds Rate. Lãi suất cho vay rất quan trọng bởi vì nó ảnh hưởng đến tính thanh khoản của thị trường chứng khoán. Lãi suất cho vay thấp sẽ giúp tăng tính thanh khoản bởi vì các khoản vay từ ngân hàng ít "đắt đỏ" hơn và vì vậy người vay sẽ sẵn sàng vay hơn. Khi lãi suất cho vay thấp, các ngành kinh doanh sẽ vay vốn nhiều để mở rộng và nền kinh tế sẽ phát triển. Cũng tương tự như vậy, khi lãi suất cho vay cao, tính thanh khoản bị "khô" lại và nền kinh tế cũng sẽ phát triển chậm lại. Với nguyên nhân này, các ngân hàng thường tăng lãi suất cho vay khi Fed Funds Rate bị tăng cao. Fed Funds Rate ảnh hưởng đến Prime lending rate và Prime lending rate ảnh hưởng trực tiếp tới toàn bộ nền kinh tế.






