Thuật Ngữ Kinh Tế

A B C D E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Z Tất cả

Unintended Inventory Disinvestment / Giảm Đầu Tư Vào Tồn Kho Không Dự Kiến

Giảm hàng tồn kho do mức bán hàng tăng lên không dự tính trước hay do giảm sút trong sản xuất.

Price Support Scheme / Kế Hoạch Trợ Giá

Price Support Scheme là một phương pháp nâng giá một hàng hoá trên thị trường một cách giả tạo.

Unido Guidelines / Các Hướng Dẫn Của Unido

Một kỹ thuật thẩm định dự án ở các nước đang phát triển và là một phiên bản của phương pháp LITTLE-MIRRLEES.

Price Taker / Người Chấp Nhận Giá

Một đơn vị kinh tế có quy mô hoạt động không đáng kể so với quy mô của thị trường cho nên hoạt động của đơn vị ấy không gây ảnh hưởng gì đến giá thị trường thịnh hành.

Unanticipated Inflation / Lạm Phát Không Được Lường Trước

Là phần lạm phát có thật mà con người không dự kiến; trong thức tế trừ đi lạm phát kỳ vọng.

Price Theory / Lý Thuyết Giá

Các lý thuyết bao gồm trong tư duy có thể được chia làm ba đề mục chính: Các lý thuyết liên quan đến sự xác định các giá riêng lẻ, các thuyết liên quan đến các thay đổi trong mức giá tổng hợp và các thuyết áp dụng cho việc phân bổ nguồn lực.

Power Function / Hàm Luỹ Thừa

Một hàm số trong đó biến số độc lập được nâng lên tới một luỹ thừa nào đó.

Poverty Trap / Bẫy Nghèo Khổ

Việc tồn tại của nhiều lợi ích KIỂM ĐỊNH BẰNG BIỆN PHÁP nói lên rằng người được trả lương thấp có thể đối đầu với một tỷ lệ thuế biên hiệu lực - tức là mức thuế đối với một đơn vị thu nhập thêm - vượt xa tỷ lệ 34% của thuế thu nhập và sự đóng góp bảo hiểm quốc gia đối với phần lớn người làm công ăn lương.

Bẫy Nghèo Khó (Poverty Trap) là một thuật ngữ trong tài chính. Nó mô tả khái niệm, cơ chế hoặc quy trình cụ thể, được sử dụng trong phân tích, định giá, giao dịch và quản trị rủi ro. Ví dụ: Bẫy Nghèo Khó (Poverty Trap) có thể dùng trong phân tích báo cáo tài chính hoặc định giá doanh nghiệp, tùy ngữ cảnh. Ứng dụng: hỗ trợ lập báo cáo, phân tích, thẩm định và ra quyết định tài chính. Khi áp dụng, cần lưu ý đến bối cảnh pháp lý và thị trường để hiểu đúng.

Price To Book Ratio / Hệ Số Giá Thị Trường Trên Giá Ghi Sổ

Hệ số giá thị trường trên giá ghi sổ là hệ số được sử dụng để so sánh giá trị trường của một cổ phiếu so với giá trị ghi sổ của cổ phiếu đó. Tỉ lệ này được tính bằng cách lấy giá đóng cửa hiện tại của cổ phiếu chia cho giá trị ghi sổ tại quý gần nhất của cổ phiếu đó.

Poverty / Sự Nghèo Khổ

Sự nghèo khổ có thể được xem xét với một quan niệm tuyệt đối hoặc tương đối.

Potential Pareto Improvement / Sự Cải Thiện Pareto Tiềm Năng

Một sự cải thiện Pareto tiềm năng tồn tại khi những người kiếm được lợi do một sự thay đổi, thì với tính chất giả thiết có thể bù đắp cho người thua thiệt, và có thể không ai bị kém đi sau sự thay đổi hoặc sao cho ít nhất cũng có một người được khá lên.

Price To Cash Flow Ratio / Chỉ Số Giữa Giá Và Dòng Tiền Mặt

Chỉ số này là một phép đo mức độ kì vọng của thị trường đối với sức khỏe tài chính tương lai của doanh nghiệp. Do phép đo này giải quyết các vấn đề về dòng tiền mặt, nên khấu hao và các nhân tố không phải là tiền mặt khác không ảnh hưởng đến chỉ số. Tương tự với chỉ số P/E, phép đo này cho phép xác định giá trị tương đối của cổ phiếu: Price to Cash Flow = Share Price/ Cash flow per Share = Giá cổ phiếu / dòng tiền trên một cổ phiếu.

Potential Output / Sản Lượng Tiềm Năng

Sản lượng khả thi tối đa của một doanh nghiệp, một ngành, một khu vực của một nền kinh tế hoặc toàn bộ một nền kinh tế là mức độ được xác định của các yếu tố sản xuất.

Unequal Exchange / Sự Trao Đổi Không Ngang Bằng

Nói một cách chính xác theo quan điểm của C.Mác, đó là sự trao đổi sản phẩm của các nền kinh tế phát triển với giá cao hơn giá trị lao động của chúng.

Unemployment Rate / Tỉ Lệ Thất Nghiệp

Tỉ lệ thất nghiệp được tính bằng công thức:              Tỉ lệ thất nghiệp = số người thất nghiệp : số người trong độ tuổi lao động (lực lượng lao động) Trong đó: Số người thất nghiệp tức là số người trong độ tuổi lao động, sẵn sàng lao động nhưng chưa tìm được việc làm. Vì vậy, với những người trong độ tuổi lao động, có khả năng làm việc, nhưng không có ý định tìm việc làm có thể không được tính vào phép tính này. Số người trong độ tuổi lao động được tính theo quy định của từng nước (ví dụ từ 18 đến 60 tuổi).

Price To Earning Ratio / Hệ Số Giá Trên Thu Nhập Cổ Phần

P/E là tỷ lệ giữa giá thị trường và lợi nhuận ròng trên mỗi cổ phần của một công ty. Chính định nghĩa này đã ngầm định một cách đơn giản để tính toán chỉ số này, chỉ cần lấy giá hiện tại của mỗi cổ phần chia cho lợi nhuận ròng trên mỗi cổ phần đó (Earnings per share - EPS):  P/E = Giá trị thị trường / EPS Trong hầu hết các trường hợp, việc tính toán tỷ lệ P/E đều có sử dụng tới chỉ số EPS của 4 quý trước. Điều này được hiểu như là một dấu hiệu của P/E. Tuy nhiên, cũng có lúc chỉ số EPS được lấy từ việc ước tính lợi nhuận kì vọng cho 4 quý tiếp theo. P/E tính theo cách này được gọi là P/E định hướng hay P/E kế hoạch. Một cách tính khác cũng thường được thấy là sử dụng EPS của hai quý trước đó và ước tính cho hai quý tiếp theo. Trên thực tế thì không có sự khác biệt lớn lắm giữa các cách tính trên. Điều quan trọng là phải nhận ra rằng trong cách tính đầu tiên, bạn sử dụng dữ liệu có thật từ hoạt động trong quá khứ của công ty. Hai cách tính khác dựa vào những tính toán ước lượng, do đó không phải lúc nào cũng hoàn hảo và chính xác. Khi các công ty làm ăn không có lãi, tất yếu là EPS của công ty đó sẽ âm, do vậy việc tính toán P/E của các công ty này sẽ gặp nhiều khó khăn. Có nhiều ý kiến khác nhau về việc làm thế nào để giải quyết được vấn đề này. Một số ý kiến cho rằng cứ để hệ số P/E âm, một số khác thì cho rằng nên gán cho P/E trong trường hợp này giá trị bằng 0, trong khi phần lớn ý kiến khác thì nghĩ đơn giản là trong trường hợp này, P/E không tồn tại. Thông thường, tỷ lệ P/E trung bình trên thị trường thường dao động trong khoảng từ 15 – 25. Sự dao động này phần lớn phụ thuộc vào tình trạng của nền kinh tế. Hệ số P/E cũng rất khác nhau giữa các công ty và các ngành, lĩnh vực kinh doanh.

Potential Entry / Sự Nhập Ngành Tiềm Năng

Đối với một ngành cụ thể, đó là khả năng cạnh tranh mới của các hãng - các hãng chưa sản xuất các sản phẩm cạnh tranh.

Unemployment Equilibrium / Cân Bằng Thất Nghiệp

Định đề trung tâm của Keynes trong cuốn Lý thuyết tổng quát rằng ngay cả khi tiền công và giá cả hoàn toàn linh hoạt như được giả định trong thuyết cổ điển, nền kinh tế vẫn không luôn luôn trở về điểm đầy đủ việc làm.

Postwar Credits / Các Tín Dụng Hậu Chiến

Một hình thức tiết kiệm bắt buộc được áp dung ở Anh trong chiến tranh thế giới thư hai trong ngân sách năm 1941.

Post-Keynesian Economics / Kinh Tế Học Hậu Keynes; Kinh Tế Học Sau Keynes

Một nhóm các nhà kinh tế học coi sự nhìn nhận của J.M.KEYNES và M.KALECKI là khởi điểm của một sự phê bình phân tích sự cân bằng thông thường và là cơ sở cho môn kinh tế học vĩ mô mới.

Sách Combo 4 Cuốn : Tư Duy Ngược + Tư Duy Mở + Biến Mọi Thứ Thành Tiền Chuột không dây Ugreen M751 với con lăn vô cực Máy chơi game retro Powkiddy X55