Thuật Ngữ Kinh Tế

A B C D E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Z Tất cả

Truncation / Dịch Vụ Cắt Bỏ

1. Dịch vụ ngân hàng trong đó chi phiếu hay hối phiếu đã huỷ, được ngân hàng khách hàng lưu giữ hay do một ngân hàng khác trong hệ thống thu tiền chi phiếu, và không được trả lại người viết chi phiếu kèm với báo cáo tài khoản. Chi phiếu có thể bị cắt bỏ hay ngưng tại ngân hàng nơi chi phiếu ký thác đầu tiên hay tại Ngân hàng Nhà nước nếu do chính ngân hàng của khách hàng, được gọi là giữ an toàn cho chi phiếu (Check Safe Keeping). Việc cắt bỏ chi phiếu liên ngân hàng hay liên quan đến một số lớn ngân hàng sẽ loại bỏ việc xử lý cụ thể chi phiếu, nhưng yêu cầu các ngân hàng phải tuân theo các luật lệ mới chi phối các quyền và nợ của ngân hàng trình chi phiếu và ngân hàng chi trả thay mặt cho khách hàng. Cuối cùng, giá phí xử lý chi phiếu sẽ gia giảm rất nhiều nếu phần lớn ngân hàng tham gia vào chương trình cắt bỏ chi phiếu. 2. Bỏ một hay nhiều con số khi tính tiền lãi tích luỹ trong tài khoản tiết kiệm. Ví dụ, 1,677754 được cắt bỏ bớt số kể từ số thứ tư - số sẽ trở thành 1,6777. Ngược lại là Rounding (làm tròn số).

Pivot Point / Điểm Giới Hạn

Pivot point là chương trình tính toán được sử dụng cho các nhà kinh doanh ngoại hối để kiểm soát sự dao động giá. Các nhà kinh doanh ngoại hối thường xuyên sử dụng những điểm giới hạn như một phương tiện để tính toán các mức hỗ trợ và kháng cự. Các mức hỗ trợ và kháng cự này lần lượt đuợc sử dụng như những chỉ dẫn trực quan để thực hiện các giao dịch. Khác với phân tích cơ bản dựa trên những chỉ dẫn kinh tế như tình hình tỉ lệ thất nghiệp quốc gia, sự tăng giảm lãi suất, cán cân thanh toán và khối lượng hàng hóa bán lẻ của quốc gia. Những tính toán về điểm giới hạn cung cấp cho nhà kinh doanh những điểm chuẩn trực quan mà từ đó có thể tiên đoán được sự thay đổi về giá. Phân tích điểm giới hạn Pivot trading (giao dịch trong giới hạn) bắt đầu với những tính toán của điểm giới hạn. Điểm giới hạn là trung bình của giá cao, giá thấp và giá đóng cửa ngày hôm trước. Điểm giới hạn =( H+L+C)/3 Với: H biểu thị cho giá cao ngày hôm trước L biểu thị cho giá thấp ngày hôm trước C biểu thị cho giá đóng cửa ngày hôm trước Tính toán các mức hỗ trợ và mức kháng cự Khi điểm giới hạn của một ngày nào đó đã được tính toán, các nhà kinh doanh sẽ chuyển thành mức kháng cự (R1) và mức hỗ trợ ban đầu (S1) với giả định là các giao dịch sẽ được tiến hành với cùng phạm vi như ngày hôm trước: R1 = (2 x PP) - L S1 = (2 x PP ) - H Mức hỗ trợ và kháng cự thứ hai được sử dụng khi có sự kiện giá bị phá vỡ trong suốt phạm vi giao dich của ngày hôm trước và tiếp tục cho đến khi nó gặp phải một mức kháng cự cao hơn hoặc một mức hỗ trợ thấp hơn: R2 = (PP-S1) + R1 S2 = PP - (R1 - S1) Nền tảng hợp lý Một số nhà kinh doanh tin rằng có hai khuynh hướng phổ biến trong sự dao dộng giá. Nếu giá bắt đầu của một ngày ở phía trên điểm giới hạn, thì nó sẽ có khuynh hướng tiếp tục ở cao hơn điểm đó cho đến khi nó gặp phải điểm kháng cự. Ngược lại, nếu giá bắt đầu của một ngày ở phía dưới điểm giới hạn thì nó cũng sẽ có khuynh hướng tiếp tục ở phía dưới điểm đó cho đến khi nó gặp được điểm hỗ trợ. Mức kháng cự là mức giá có khuynh hướng chống lại sự chuyển động giá lên cao hơn nữa. Tương tự, mức hỗ trợ là mức giá có khuynh hướng chống lại sự chuyển động giá xuống thấp hơn nữa. Nên chú ý rằng các mô hình thị trường tiêu chuẩn không ủng hộ bất cứ sự tin tưởng nào cả. Điển hình như một nhà kinh doanh , khi giá đang đến gần đến vị trí cao hơn điểm giới hạn, anh ta sẽ đợi cho đến khi bắt đầu xuất hiện sự đảo ngược tại điểm đó rồi bán. Ngược lại, khi giá đang xuống, anh ta đợi cho đến lúc xuất hiện sự bật lên khỏi điểm hỗ trợ để đặt mua.

Private Equity Fund / Quỹ Đầu Tư Vốn Cổ Phần Cá Nhân

Quỹ đầu tư vốn cổ phần cá nhân là một dạng quỹ đầu tư vào các công ty và/hoặc tổ chức kinh doanh với mục đích nắm giữ lợi ích kiểm soát (thường là trở thành cổ đông lớn, trong một số trường hợp là cổ đông lớn nhất và do vậy, đảm nhiệm vị trí tái cấu trúc đối tượng nhận đầu tư cả về vốn, quản lý, hạ tầng tổ chức... Các đối tượng nhận đầu tư thông thường chuyển sang hoạt động với hình thức không đại chúng trong thời gian từ 3-7 năm, trước khi được chuyển sang đại chúng thông qua IPO. Quá trình tái cấu trúc có thể được thực hiện thông qua: Leverage buyout, LBO hoặc Buyout: chiến lược đầu tư cổ phần cá nhân trong quỹ đầu tư cổ phần cá nhân sử dụng nguồn tài chính huy động (vay nợ) để mua lại một phần lớn hoặc toàn bộ cổ phần của các cổ đông hiện hữu tại đối tượng đầu tư. Công ty/đối tượng nhận đầu tư thường đã bước vào giai đoạn phát triển và có dòng tiền mặt ổn định. Đầu tư mạo hiểm: đầu tư vào các doanh nghiệp mới thành lập, bắt đầu dấu hiện tăng trưởng, hoặc đang mở rộng. Có thể chia thành công ty ở giai đoạn phát triển sớm (sử dụng vốn đầu tư để bắt đầu vận hành kinh doanh) và giai đoạn phát triển muộn (sử dụng vốn đầu tư để mở rộng qui mô sản xuất hiện tại, có tiềm năng nhưng chưa vượt qua ngưỡng hòa vốn và thu lợi nhuận cao). Vốn tăng trưởng: đầu tư vào các công ty đã phát triển tốt, có nhu cầu huy động một tỷ lệ vốn nhỏ để mở rộng, tái cấu trúc vận hành, hoặc tham gia thị trường mới. Trong trường hợp này, quỹ đầu tư cổ phần cá nhân không nắm quyền kiểm soát kinh doanh. Một số tên tuổi: Goldman Sachs Private Equity Group, KKR (Kohlberg, Kravis, Roberts & Co.), Apollo Management, Bain Capital, Blackstone Group, Hellman & Friedman, Carlyle, and Texas Pacific Group.

Private Good / Hàng Hóa Riêng Tư

Một hàng hoá sẽ thể hiện sự cạnh tranh trong tiêu dùng và là loại hàng hoá mà người sản và người tiêu dùng đều có khả năng thực hiện được sự loại trừ.

Private Offering (Private Placement) / Phát Hành Riêng Lẻ

Phát hành riêng lẻ là việc công ty phát hành chào bán chứng khoán của mình trong phạm vi một số người nhất định, thông thường là cho các nhà đầu tư có tổ chức có ý định nắm giữ chứng khoán một cách lâu dài, như công ty bảo hiểm, quỹ hưu trí... với những điều kiện hạn chế chứ không phát hành rộng rãi ra công chúng. Các ngân hàng đầu tư cũng có thể tham gia vào việc phát hành riêng lẻ với tư cách nhà phân phối để hưởng phí phát hành. Tức là ngân hàng đầu tư sẽ đứng ra mua trọn gói số chứng khoán phát hành và phân phối lại cho các nhà đầu tư. Đa số các đợt phát hành trái phiếu đều thực hiện dưới hình thức phát hành riêng lẻ, còn việc phát hành cổ phiếu phổ thông ít khi được thực hiện dưới hình thức này bởi lẽ cổ phiếu là một mặt hàng hấp dẫn và phổ biến trên thị trường chứng khoán, công ty thường phát hành rộng rãi cổ phiếu ra công chúng như một hình thức huy động vốn hiệu quả. Ngược với phát hành riêng lẻ, phát hành chứng khoán ra công chúng là việc phát hành trong đó chứng khoán có thể chuyển nhượng và được bán rộng rãi ra công chúng cho một số lượng lớn người đầu tư (trong đó phải dành một tỷ lệ cho các nhà đầu tư nhỏ) và khối lượng phát hành phải đạt một mức nhất định. Chính vì vậy thủ tục phát hành công chúng thường phức tạp hơn là phát hành riêng lẻ, thường phải đi kèm với một số điều kiện về tình hình kinh doanh công ty và khối lượng phát hành có sự thẩm định của Ủy ban chứng khoán nhà nước. Việc phân biệt giữa phát hành riêng lẻ và phát hành ra công chúng có ý nghĩa rất lớn. Việc phân biệt này là để xác định những người phát hành rộng rãi ra công chúng phải là những công ty có chất lượng cao, hoạt động sản xuất kinh doanh tốt, nhằm bảo vệ cho công chúng đầu tư nói chung, nhất là những nhà đầu tư nhỏ thiếu hiểu biết. Đồng thời, đây cũng là điều kiện để xây dựng một thị trường chứng khoán hướng tới mục tiêu an toàn, công khai và có hiệu quả cho mọi nhà đầu tư. Quỹ thành viên (Quỹ đầu tư cá nhân) là ví dụ điển hình cho phương thức phát hành riêng lẻ. Quỹ này huy động vốn bằng phương thức phát hành riêng lẻ cho một nhóm nhỏ các nhà đầu tư, có thể được lựa chọn trước, là các cá nhân hay các định chế tài chính hoặc các tập đoàn kinh tế lớn, do vậy tính thanh khoản của quỹ này sẽ thấp hơn quỹ công chúng. Bởi lẽ mục tiêu của Quỹ này là nhằm tập hợp một số nhà đầu tư có tiềm lực tài chính để tham gia đầu tư mạo hiểm triển vọng đem lại lợi nhuận rất cao nhưng rủi ro vô cùng lớn. Các nhà đầu tư vào các quỹ tư nhân thường với lượng vốn lớn, và đổi lại họ có thể tham gia vào trong việc kiểm soát đầu tư của quỹ.

Truncated Earnings Function / Hàm Thu Nhập Rút Gọn

Một kiểm nghiệm giả thuyết của thị trường lao động NHỊ NGUYÊN rằng cơ chế quyết định tiền công khác nhau giữa khu vực "thứ nhất" và "thứ hai" của thị trường lao động, khu vực thứ nhất trả cho VỐN NHÂN LỰC, khu vực thứ hai trả cho những người vừa không có kinh nghiệm và không có học vấn.

Privatization / Tư Nhân Hóa

Chính sách chuyển đổi sở hữu công cộng của một tài sản thành sở hữu tư nhân hoặc cho phép một tổ chức kinh doanh ở khu vực tư nhân hực hiện một hoạt động nào đó cho đến lúc ấy vẫn được tiến hành bởi một tổ chức công cộng.

Privatization In Eastern Europe / Tư Nhân Hóa Ở Đông Âu

Là việc chuyển hoạt động từ khu vực nhà nước sang khu vực tư nhân ở Đông Âu với niềm tin rằng sự kiểm soát và sở hữu tư nhân sẽ có hiệu quả hơn về việc phân bố nguồn lực so với sở hữu nhà nước.

Triple Top / Mô Hình 3 Đỉnh

Mô hình 3 đỉnh là một mô hình sử dụng trong phân tích kỹ thuật, để dự báo một cú đảo chiều đối với một thị trường đang trên đà lên giá. Có thể xác định được mô hình này khi đồ thị giá một loại tài sản đang phân tích tạo nên 3 đỉnh tại cùng một mức giá gần tương đương nhau. Việc giá đảo chiều ở mức kháng cự tại đỉnh thứ 3 chính là một tín hiệu rõ rệt cho thấy sức mua đã quá yếu, kết quả là sau đó giá sẽ đi xuống. Như có thể thấy ở đồ thị dưới đây, mô hình ba đỉnh được tạo nên bởi 3 đỉnh nhọn, ở cùng một mức giá. Mô hình 3 đỉnh được áp dụng khi thị trường đang lên. Giá tăng đến một mức kháng cự nhất định thì giảm xuống, sau đó lại tăng lên, chạm mức cản một lần nữa rồi lại giảm lần thứ hai, và cuối cùng tăng đến mức cản lần thứ 3 trước khi giảm. Lần giảm giá thứ ba này có thể chính là bắt đầu của một giai đoạn thị trường đi xuống. Mô hình 3 đỉnh được coi là một biến thể của mô hình đầu và vai (SHS). Điểm khác biệt duy nhất là 3 đỉnh của mô hình này ở cùng một mức giá, chứ không có một đỉnh vượt hẳn lên như mô hình S-H-S. Khi nhận biết được diễn biến giá thị trường đang đi vào đúng mô hình 3 đỉnh, các nhà đầu tư sẽ quyết định bán khống để đầu cơ giá xuống ngay khi giá thị trường tụt xuống dưới mức hỗ trợ (biểu diễn bằng vạch đen trên đồ thị).                                                                                                                                                Mô hình 3 đỉnh

Pivot Effect Hypothesis / Giả Thuyết Về Hiệu Ứng Quay

Lập luận cho rằng CHÍNH SÁCH THU NHẬP không những tạo nên các hiệu ứng dịch chuyển trong quá trình điều chỉnh tiền lương mà còn có thể làm thay đổi độ dốc của đường cong Phillips, hoặc nói một cách chuyên môn hơn, làm thay đổi độ lớn của sự phản ứng của tỷ lệ thay đổi về lương đối với các yếu tố quyết định gây ra sự thay đổi đó.

Trigonometric Functions / Các Hàm Lượng Giác

Các hàm được định nghĩa bởi các tính chất trong một tam giác vuông bao gồm sin, cosin và tang.

Trickle Down / Dòng Chảy Xuống

Đây là lý thuyết cho rằng có thể đạt được phát triển kinh tế tốt nhất bằng cách cứ để cho các đơn vị kinh doanh phát triển bởi vì sự phát đạt của họ cuối cùng cũng chảy xuống người có lợi tức trung bình và thấp, những người này rất có lợi vì sẽ làm tăng hoạt động kinh tế. Các nhà kinh tế phản đối lý thuyết này nói rằng nó sẽ làm cho sự phát triển chậm hơn là nếu Nhà nước trực tiếp cấp phúc lợi cho thành phần lợi tức trung bình và thấp.

Pink Sheets / Bảng Pink Sheets

Là một hệ thống điện tử - ấn phẩm hàng ngày của Cục báo giá quốc gia (National Quotation Bureau) về giá mua và bán của cổ phần OTC, bao gồm cả danh sách những Người tạo lập thị trường. Không giống như trên thị trường Chứng khoán, các công ty được niêm yết tên trên hệ thống các bảng Pink Sheets không phải đáp ứng các yêu cầu tối thiểu hoặc xuất trình hồ sơ cho Uỷ ban chứng khoán và Sàn giao dịch. Khi nhắc đến Pink Sheets người ta còn hiểu là việc mua bán cổ phần OTC. Lý do việc ra đời thuật ngữ Pink Sheets là vì hình thức này ban đầu của nó là các thông tin được in trên giấy mày Hồng. Nếu một công ty được niêm yết tên trên bảng Pink Sheets thì biểu tượng của cổ phiếu của họ sẽ kết thúc bằng ".PK". Pink Sheets LLC không phải là một công ty môi giới Chứng khoán trong Hiệp hội mua bán Chứng khoán quốc gia, cũng không phải là một doanh nghiệp đăng ký kinh doanh với Uỷ ban chứng khoán và Sàn giao dịch Mỹ; nó cũng không phải là một sàn giao dịch Chứng khoán, các công ty được niêm yết tên trên hệ thống Pink Sheets không phải đáp ứng bất cứ yêu cầu nào với SEC, ví dụ như xuất trình các Báo cáo tài chính cho SEC (Securities and Exchange Commission). Các công ty được niêm yết tên trên Pink Sheets là các công ty rất nhỏ và cổ phần của các công ty này rất ít khi được giao dịch. Hầu hết các công ty kiểu này không thể đáp ứng được yêu cầu tối thiểu để được giao dịch trên thị trường Chứng khoán quốc gia, ví dụ như sàn giao dịch Chứng khoán New York hay thị trường Chứng khoán Nasdaq. Hầu hết các công ty này không nộp các báo cáo tài chính định kỳ cho SEC vì vậy rất khó có thể tạo độ tin cậy đối với các nhà đầu tư. Bởi vì những lí do như vậy nên SEC (Securities and Exchange Commission) coi những công ty được niêm yết trên hệ thống Pink Sheets là "sự đầu tư mạo hiểm", và khuyên các nhà đầu tư nên nghiên cứu kỹ trước khi ra quyết định. Sự xuất hiện của Pink Sheets trong những năm gần đây có nguyên nhân là những công ty phát hành chứng khoán có khả năng chi trả thấp, và các công ty này có tiềm năng niêm yết cổ phần trên bảng OTCBB trên thị trường CK Nasdaq với biểu tượng ".P" ở cuối. Việc mua được cổ phiếu của các công ty niêm yết trên Pink Sheets rất khó. Rất nhiều cổ phần của các công ty Pink Sheets chỉ được đăng ký để bán ở một bang nào đó, vì vậy muốn mua được cổ phiếu loại này đôi khi cần có một vài thủ thuật.

Triangular Arbitrage / Nghiệp Vụ Ácbít Ba Điểm

Nghiệp vụ ácbít là một biến tướng của nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối giao ngay. Nghiệp vụ Arbitrage theo nghĩa nguyên thủy là việc lợi dụng sự chênh lệch tỷ giá giữa các thị trường ngoại hối khác nhau để thu lời thông qua hoạt động mua và bán. Nghiệp vụ này gồm hai loại là ácbít hai điểm và ácbít ba điểm. Ácbít ba điểm là quy trình chuyển đổi một tiền tệ này sang một loại tiền tệ khác, sau đó lại chuyển tiếp sang một loại tiền tệ thứ ba, cuối cùng lại đổi hết về đồng tiền ban đầu. Cơ hội thu được lợi nhuận từ hoạt động động này chỉ thực sự có được khi có sự chênh lệch về tỉ giá. Cơ hội để thực hiện ácbít ba điểm không phải là nhiều và nó thường chỉ xuất hiện trong vài giây bởi các mức tỉ giá thay đổi rất thường xuyên. Những người thực hiện nghiệp vụ này (arbitragers) tóm được các cơ hội hiếm hoi này thường phải có các thiết bị máy tính hiện đại, quan sát tốt, tính toán nhanh và/hoặc có các chương trình xử lý tự động. Xét một ví dụ để thấy rõ hơn về nghiệp vụ ácbít ba điểm: Giả sử rằng bạn đang nắm giữ trong tay 1 triệu $, các mức tỉ giá như sau: EUR/USD = 0.8631, EUR/GBP = 1.4600 và USD/GBP = 1.6939. Với các mức tỉ giá như trên, bạn có thể bán 1 triệu đôla này để mua EUR, sẽ được:           1triệu $ x0.8631= 863,100 EUR Sau đó bán đồng Euro để mua bảng Anh, thu được : 863,100/1.4600 = 591,164.40 GBP. Cuối cùng bạn bán Bảng Anh để mua lại đôla, có : 591,164.40 x 1.6939 = $1,001,373 USD Như vậy, bằng việc tiến hành ácbít ba điểm, bạn sẽ thu được khoản chênh lệch là: 1,001,373 - 1,000,000 = 1,373 USD

Pigovian Tax / Thuế Pigou

Một loại thuế đánh vào người sản xuất do tạo ra một ngoại ứng theo một cách mà sau khi thuế này được áp dụng thì các chi phí cá nhân do bên tạo ra ngoại ứng cảm nhận được bằng với CHI PHÍ XÃ HỘI của hoạt động này.

Pigou, Arthur Cecil / 1877-1959

Nhà kinh tế học người Anh đã kế tục Marshall ở vị trí chủ nhiệm khoa kinh tế chính trị học của trường đại học Cambridge năm 1908. Pigou mở rộng công việc của Marshall, đặc biệt là sự phân tích các nghành mà chi phí gia tăng và giảm sút. Sự phân biệt giữa chi phí cá nhân và xã hội và liệu pháp sửa chữa bằng cách đánh thuế do ông đề xuất đã tạo nên cơ sở cho thuyết các ngoại ứng, và phương pháp của ông nhằm loại trừ chứng đã được biết đến với tên gọi là thuế PIGOU. Công trình của ông về thuyết tiền tệ và về thu nhập quốc dân chủ yếu là một lý thuyết Cổ điển về việc làm và thu nhập. Do đó, Pigou đã phải chịu sức mạnh của cuộc tiến công của Keynes đối với hệ thống này. Tuy nhiên, Pigou đã đưa ra một cơ chế để đạt được việc làm đầy đủ thậm chí cả trong hệ thống của Keynes. Điều này được biết đến với cái tên là hiệu ứng Pigou. Trong điều kiện không có đủ việc làm, giá cả giảm sẽ làm tăng thêm giá trị của số dư tiền đã giữ. Điều này tạo ra sự gia tăng về cầu đối với hàng hoá và do đó đã tạo ra một sự gia tăng về việc làm. Ý nghĩa của cơ chế này này thậm chí đến nay vẫn còn tranh cãi.

Trend / Xu Hướng

Còn gọi là xu hướng theo thời gian. 1. Thành phần dài hạn, cơ sở trong dữ liệu CHUỖI THỜI GIAN, thường được tính để thể hiện hướng vận động dài hạn của một biến số. 2. Một số đo mức trung bình của một đại lượng kinh tế tại một thời điểm nào đó.

Privatization / Privatisatiion / Cổ Phần Hóa / Tư Nhân Hóa

Thuật ngữ có thể được hiểu theo 2 cách: 1. Là quá trình chuyển quyền sở hữu của tài sản hoặc các hoạt động kinh doanh từ nhà nước sang cho một thực thể do tư nhân sở hữu. Một trong những lí do khiến hình thức này ra đời đó là do xu hướng kinh doanh hiệu quả của khu vực tư nhân. Khi đã là chủ sở hữu của doanh nghiệp, các cá nhân thường tìm ra các biện pháp nhằm tối đa hóa lợi nhuận, khác với chính phủ - nơi không quá quan tâm đến lợi nhuận của các hoạt động kinh doanh. 2. Là việc chuyển từ một công ty đại chúng thành một công ty do tư nhân sở hữu và cổ phiếu không còn được giao dịch trên sàn chứng khoán. Khi một công ty đại chúng trở thành công ty tư nhân, các nhà đầu tư không thể tiếp tục mua cổ phần của công ty đó. Hầu hết các công ty bắt đầu dưới dạng công ty tư nhân được cấp vốn bởi một nhóm các nhà đầu tư. Khi công ty phát triển dần lên và mở rộng ra, công ty bắt đầu tìm đến thị trường vốn để tìm nguồn cung cấp tài chính hoặc thông qua việc bán cổ phiếu. Trong một số trường hợp, khi cổ phiếu của công ty bị mua hết bởi một nhóm các nhà đầu tư, công ty sẽ trở lại dạng tư nhân, và vì vậy không còn có cổ phiếu được giao dịch trên thị trường chứng khoán.

Piecework / Việc Làm Khoán

Một hệ thống thanh toán trong đó cá nhân được thanh toán theo khối lượng sản phẩm làm ra.

Trend / Xu Thế

Xu thế là hướng biến động chung của một thị trường hoặc của giá một loại tài sản nào đó. Người ta thường chia xu thế làm 3 loại, xu thế ngắn hạn, trung hạn và dài hạn. Theo xu thế ngắn hạn giá có thể tăng nhưng điều đó không có nghĩa là giá cũng tăng theo xu thế dài hạn. Một khía cạnh hết sức quan trọng trong phân tích kỹ thuật nhằm dự đoán biến động tương lai của giá cổ phiếu chính là phân tích xu thế. Phân tích xu thế dựa trên ý tưởng cho rằng các nhà đầu tư thường hành động theo những gì đã xảy ra trong quá khứ. Vì vậy mọi nhà đầu tư tham gia vào thị trường đều cố gắng nắm bắt được xu thế của thị trường. Nắm bắt được xu thế có thể đem lại cho nhà đầu tư lợi nhuận lớn, nếu anh ta biết đi theo xu thế.  Ngược lại, những nhà đầu tư đi trái xu thế thường bị thua lỗ. Ví dụ: nếu một nhà đầu tư biết chắc rằng trong 2 năm tới, mức giá cổ phiếu trên thị trường X thế nào cũng tăng gấp 4,5 lần thì anh ta chắc chắn sẽ giữ lại toàn bộ số cổ phiếu này. Cho dù có những giai đoạn 1,2 tháng giá cổ phiếu suy giảm đôi chút thì nhà đầu tư này cũng kiên quyết không bán ra, thậm chí còn mua thêm vào. Những người không nắm được xu thế, quyết định bán ra vội vàng chắc chắn sau này sẽ phải hối tiếc. Xu thế không chỉ áp dụng với giá chứng khoán, mà ngay cả lãi suất, lợi suất, và các đối tượng khác cũng tuân theo những xu thế nhất định. Để biểu diễn  và phân tích xu thế, người ta thường sử dụng đường xu thế, là đường được tạo nên từ những điểm cơ bản mà thị trường hướng đến. Đồ thị bên dưới là một ví dụ của đường xu thế dốc lên khi mức giá chung trên thị trường có xu hướng đi lên.

Sách Combo 4 Cuốn : Tư Duy Ngược + Tư Duy Mở + Biến Mọi Thứ Thành Tiền Chuột không dây Ugreen M751 với con lăn vô cực Máy chơi game retro Powkiddy X55