Portfolio Investment / Đầu Tư Theo Danh Mục / Đầu Tư Gián Tiếp
Trong kinh tế học và tài chính, đầu tư theo danh mục là loại đầu tư trong đó nhà đầu tư nắm quyền sở hữu một số chứng khoán ở nước ngoài như cổ phần, trái phiếu, hoặc những tài sản tài chính khác, nhưng nhà đầu tư không có quyền quản lí hoặc kiểm soát thực thể phát hành các loại chứng khoán này. Việc quản lí và kiểm soát một thực thể kinh doanh ở nước ngoài chỉ tồn tại qua hình thức đầu tư trực tiếp. Các hình thức đầu tư theo danh mục có thể gồm: - Mua cổ phần của một công ty nước ngoài - Mua trái phiếu được phát hành bởi chính phủ nước ngoài - Mua tài sản ở nước ngoài.
Underlying Asset / Tài Sản Cơ Sở, Tài Sản Gốc
Mỗi công cụ chứng khoán phái sinh đều được phát hành trên cơ sở một loại tài sản tài chính nào đó. Tài sản mà giá của các công cụ chứng khoán phái sinh phụ thuộc vào được gọi là tài sản cơ sở. Tài sản cơ sở được chia làm 4 loại chính: hàng hoá, cổ phiếu phổ thông và các chỉ số chứng khoán, các loại chứng khoán có thu nhập cố định, và ngoại tệ. Một số ví dụ về tài sản cơ sở: A kí với B một hợp đồng quyền chọn mua 1000 cổ phiếu FPT với mức giá 100,000/cp, đáo hạn vào ngày 14/2/2007. Trong hợp đồng này, cổ phiếu FPT là một tài sản cơ sở Nokia, công ty của Phần Lan, phát hành 10,000 Samurai bond sang Nhật, thu được 1tỷ Yen, sau đó tiến hành nghiệp vụ hoán đổi để đổi lượng Yen đó sang USD nhằm phục vụ cho một dự án đầu tư nhỏ của họ. Trong nghiệp vụ này đồng Yen và USD chính là các tài sản cơ sở. Trên một bản tin có nói rằng giá dầu thô giao tháng 12 trên thị trường New York là $75/thùng. Ở đây dầu thô chính là tài sản cơ sở của một hợp đồng tương lai. Thậm chí trong một số trường hợp ngay cả các chứng khoán phái sinh cũng trở thành tài sản cơ sở của một chứng khoán phái sinh khác. Ví dụ: trong futures option, hợp đồng tương lai trở thành tài sản cơ sở của hợp đồng quyền chọn. Nếu bên mua hợp đồng quyền chọn quyết định thực thi quyền chọn thì bên bán hợp đồng sẽ phải thực hiện hợp đồng tương lai cơ sở.
Mỗi công cụ chứng khoán phái sinh đều được phát hành trên cơ sở một loại tài sản tài chính nào đó. Tài sản mà giá của các công cụ chứng khoán phái sinh phụ thuộc vào được gọi là tài sản cơ sở. Tài sản cơ sở được chia làm 4 loại chính: hàng hoá, cổ phiếu phổ thông và các chỉ số chứng khoán, các loại chứng khoán có thu nhập cố định, và ngoại tệ. Một số ví dụ về tài sản cơ sở: A kí với B một hợp đồng quyền chọn mua 1000 cổ phiếu FPT với mức giá 100,000/cp, đáo hạn vào ngày 14/2/2007. Trong hợp đồng này, cổ phiếu FPT là một tài sản cơ sở Nokia, công ty của Phần Lan, phát hành 10,000 Samurai bond sang Nhật, thu được 1tỷ Yen, sau đó tiến hành nghiệp vụ hoán đổi để đổi lượng Yen đó sang USD nhằm phục vụ cho một dự án đầu tư nhỏ của họ. Trong nghiệp vụ này đồng Yen và USD chính là các tài sản cơ sở Trên một bản tin có nói rằng giá dầu thô giao tháng 12 trên thị trường New York là $75/thùng. Ở đây dầu thô chính là tài sản cơ sở của một hợp đồng tương lai Thậm chí trong một số trường hợp ngay cả các chứng khoán phái sinh cũng trở thành tài sản cơ sở của một chứng khoán phái sinh khác. Ví dụ: trong futures option, hợp đồng tương lai trở thành tài sản cơ sở của hợp đồng quyền chọn. Nếu bên mua hợp đồng quyền chọn quyết định thực thi quyền chọn thì bên bán hợp đồng sẽ phải thực hiện hợp đồng tương lai cơ sở.
Underground Economy / Kinh Tế Ngầm
Kinh tế ngầm (Underground Economy) là một bộ phận không được tính đến của nền kinh tế, bao gồm cả hoạt động hợp pháp và không hợp pháp. Những hoạt động hợp pháp nhưng được coi là nằm trong bộ phận Kinh tế ngầm chính là những giao dịch bằng tiền mặt và không có hoá đơn. Những giao dịch này được thực hiện không có sự kiểm soát của nhà nước và nhằm trốn thuế hoặc tránh bị các cơ quan kiểm tra phát hiện. Ngoài ra cũng có những hoạt động kinh doanh được chính phủ cho phép miễn thuế. Kinh tế ngầm không đồng nghĩa với trị trường đen (chợ đen, là việc tiêu thụ những hàng hóa trộm cắp). Những hoạt động mua bán bất hợp pháp ví dụ như buôn bán thuốc phiện, ma túy, mại dâm, hoạt động cờ bạc...Việc phát triển thương mại điện tử (E comerce) cũng làm tăng thêm quy mô của kinh tế ngầm. Ví dụ: Ebay có trên 40 triệu người sử dụng trên toàn thế giới. Người mua theo đúng pháp luật là phải thực hiện nghĩa vụ trả thuế. Tuy nhiên, không có một báo cáo cụ thể nào về chính xác số giao dịch đã diễn ra, chính phủ cũng hiếm khi can thiệp và kiểm soát được hoạt động của họ.Kinh tế ngầm có nhiều ảnh hưởng không tốt đến nền kinh tế như: không tính thuế (ảnh hưởng đến nguồn thu của chính phủ), không được tính vào GDP (ảnh hưởng đến số liệu thống kê), ngoài ra đây là nơi diễn ra các hoạt động bất hợp pháp ảnh hưởng đến kinh tế, văn hóa, xã hội quốc gia…
Portfolio Balance Approach / Phương Pháp Cân Đối Danh Mục Đầu Tư
Một phương pháp phân tích tiền tệ, nhấn mạnh vào ý nghĩa các quyết định cảu những người có tài sản về thành phần danh mục đầu tư của họ. Một phiên bản chủ yếu của phương pháp này giải định rằng trong khi tất cả những người sở hữu yêu cầu một sự đa dạng nào đó trong tài sản của họ, họ bất đồng về các lý do cá nhân hoặc thông lệ trong các sở thích cơ bản của họ giữa các kiểu tài sản khác nhau – chẳng hạn giữa tài sản ngắn hạn và dài hạn, tài sản có lợi tức cố định và lợi tức biến đổi. Tuy nhiên, người ta giả định rằng ít nhất một số người sở hữu có thể có ý đồ thay thế một số tài sản ít ưa thích hơn cho một số tài sản ưa thích nhiều hơn do sự khích lệ của lợi tức chênh lệch tăng nhiều hơn ở trường hợp thứ nhất. Những hiệu ứng kỳ vọng làm sự phân tích trở thành phức tạp, nhưng khi gạt chúng sang một bên thì một mô hình như vậy đưa ra một sự giải thích về cơ cấu của lãi suất và cung cấp cho cơ quan quản lý tiền tệ một giả thiết có hiệu lực để tác động vào lãi suất hoặc để gây ảnh hưởng đến đầu tư vốn hoặc để kiểm soát sự tăng trưởng của cung tiền. Phương pháp này vốn xuất phát trực tiếp từ Lý thuyết tổng quát của Keynes đã được triển khai rất rộng bởi “Trường phái Yale” của các nhà kinh tế học, đi đầu là giáo sư James Tobin. Tuy nhiên, mô hình cân đối danh mục đàu tư là cơ sở lý thuyết chung cho các trường phái tư duy tiền tệ chủ yếu còn đang tranh cãi, phái trọng tiền và phái không trọng tiền. Sự khác nhau giữa các trường phái là tính thực nghiêm, chẳng hạn như trọng sự giả định của họ về tính thay thế giữa tiền và các tài sản khác trong danh mục của những người sở hữu tài sản.
Underemployment / Sự Phiếm Dụng
Theo giả thiết thị trường lao động Nhị nguyên, thị trường lao động cấp hai bao gồm nhiều công nhân, những người có tay nghề giúp họ có thể hoàn thành công việc trong thị trường cấp một, hoặc là những người có thể được đào tạo thành công nhân có tay nghề cao với chi phí thấp hơn so với mức trung bình.
Portfolio / Danh Mục Đầu Tư
Danh mục đầu tư là một tập hợp một hay một số loại tài sản khác nhau. Đối với hộ gia đình, hay cá nhân, danh mục này có thể gồm ngoại tệ mạnh (Đô-la Mỹ hoặc Euro), vàng và kim cương, một số lượng nhất định cổ phiếu, tiền mặt và trái phiếu, đất và bất động sản, v.v.. Một danh mục đầu tư được biết đến như là cách làm giảm bớt rủi ro do gắn tài sản của cá nhân hay công ty lệ thuộc duy nhất vào một loại tài sản. Đối với đầu tư tài chính, danh mục đầu càng đặc biệt có ý nghĩa quan trọng, vì hoạt động đầu tư tài chính lớn nhất thường xảy ra ở các quỹ đầu tư, huy động vốn từ các TTCK lớn. Các cổ đông của các quỹ này thường khó lòng nắm bắt được chi tiết thông tin hoạt động của các quỹ cho tới những thời điểm thông báo chi tiết định kỳ, do đó, nguyên tắc đầu tư của danh mục là một công cụ quản lý chính các cam kết của ban giám đốc điều hành các quỹ đầu tư. Đối với các quỹ đầu tư, danh mục thường phân phối giữa các loại tài sản và công cụ tài chính: Cổ phiếu, trái phiếu, tiền mặt, phái sinh.
Nhóm các khoản vay hay tài sản được phân loại theo loại người vay hay tài sản đang quản lý. Ví dụ danh mục khoản vay, danh mục chứng khoán đầu tư, hay tài sản được quản lý bởi bộ phận ủy thác của ngân hàng. Danh mục tài sản lớn nhất trong một ngân hàng thương mại thường là danh mục khoản vay, trong đó các khoản vay được xếp theo loại người vay - khoản vay thương mại và khoản vay trả góp cho tiêu dùng.
Danh Mục Đầu Tư (Portfolio) là một thuật ngữ trong tài chính. Nó mô tả khái niệm, cơ chế hoặc quy trình cụ thể, được sử dụng trong phân tích, định giá, giao dịch và quản trị rủi ro. Ví dụ: Danh Mục Đầu Tư (Portfolio) có thể dùng trong phân tích báo cáo tài chính hoặc định giá doanh nghiệp, tùy ngữ cảnh. Ứng dụng: hỗ trợ lập báo cáo, phân tích, thẩm định và ra quyết định tài chính. Khi áp dụng, cần lưu ý đến bối cảnh pháp lý và thị trường để hiểu đúng.
Portable Alpha / Alpha Di Động
Đây là chiến lược của các nhà quản trị danh mục đầu tư chia alpha ra từ các beta bằng cách đầu tư vào các chứng khoán có sự biến động mạnh hơn thị trường nhiều. Alpha là tỷ suẩt sinh lợi đạt được cao hơn mức tỷ suất sinh lợi tính được từ tương quan giữa danh mục đầu tư và thị trường (beta). Nói một cách dễ hiểu thì đây là chiến lược mà nó liên quan đến việc đầu tư vào các khu vực chứng khoán có tương quan từ thấp đến không có tương quan với thị trường. Tỷ suất sinh lợi của một danh mục đầu tư bao gồm 2 thành phần. Đầu tiên là beta. Beta thể hiện mức độ nhất định mà một khoản đầu tư di chuyển theo cùng thị trường và có thể nói rằng nó đại diện cho phần tỷ suất sinh lợi thụ động( giá trị của chúng gia tăng cùng với sự gia tăng của toàn bộ thị trường). Thành phần thứ hai là alpha, alpha đo lường khả năng của một nhà quản trị trong việc tạo ra tỷ suất sinh lợi bằng cách lựa chọn các cổ phiếu hoặc mà các khoản đầu tư mà chúng có biểu hiện tốt hơn thị trường trong một khoảng thời gian xác định. Và alpha được xem là đại diện cho phần tỷ suất sinh lợi được tạo ra bởi kỹ thuật của các nhà quản trị năng động. Nếu một nhà quản trị danh mục đầu tư có thể tạo ra alpha tốt hơn bằng cách đầu tư vào các chứng khoán không có tương quan với beta của danh mục, nhà quản trị đó sẽ tạo ra alpha di động (portable alpha).
Port Cost / Hành Động Chủ Quan Của Các TNC (trans National Corporations) - Chuyển Giá
Là hành động chủ quan của các TNC nhằm giảm số thuế phải nộp thông qua việc định giá trị các tài sản chuyển giao trong nội bộ công ty TNC không đúng giá thị trường.
Underemployed Workers / Các Công Nhân Phiếm Dụng
Là hình ảnh phản chiếu của những công nhân quá dụng. Công nhân phiếm dụng là người coi giá trị của thu nhập cao hơn giá trị của nghỉ ngơi hơn so với các công nhân bình thường.
Underdeveloped Countries / Các Nước Chậm Phát Triển
Một cụm thuật ngữ dùng để chỉ các nước đang phát triển; nhưng hiện nay giờ đây người ta ít dùng cụm thuật ngữ này mà dùng các thuật ngữ khác ít mang tính miệt thị hơn.
Price-Cost Margin / Mức Chênh Lệch Giá - Chi Phí
Các số đo thực nghiệm của CHÊNH LỆCH LỢI NHUÂN nơi mà các số liệu kế toán được sử dụng và do đó ta không thể trực tiếp quan sát được định nghĩa kinh tế về lợi nhuận.
Price-Push / Giá Đẩy
Tên gọi một dạng lạm phát giống như chi phí đẩy trong đó các chủ doanh nghiệp bị chỉ trích đã gây ra lạm phát bằng cách tính giá cao một cách không cần thiết nhằm kiếm lợi nhuận lớn.
UNCTAD (United Nations Conference On Trade And Development) / Hội Nghị Liên Hiệp Quốc Về Thương Mại Và Phát Triển
UNCTAD thành lập năm 1963 giữ chức năng uỷ ban thường trực liên chính phủ, một bộ phận quan trọng của Đại Hội Đồng Liên Hợp Quốc giải quyết các vấn đề về thương mại, đầu tư và các vấn đề liên quan đến phát triển. Mục tiêu của UNCTAD là tối đa hoá các cơ hội về thương mại, đầu tư và phát triển cho các quốc gia đang phát triển, và trợ giúp các quốc gia đang phát triển hội nhập vào nền kinh tế thế giới trên cơ sở công bằng và bình đẳng. Hội nghị được lập ra trên cơ sở mối quan ngại của các quốc gia đang phát triển xung quanh các vấn đề về thị trường quốc tế, tập đoàn đa quốc gia, và sự bất cân đối lớn giữa các quốc gia phát triển và quốc gia đang phát triển trên thế giới. Hiện tại UNTAD có 191 quốc gia thành viên, trụ sở ở Geneva - Thuỵ Sĩ . Ngân sách hoạt động hàng năm đạt xấp xỉ 50 triệu USD cộng thêm 25 triệu USD từ các quỹ trợ giúp kĩ thuật. UNCTAD họp 4 năm một lần. Năm 2008 họp ở Ghana.
Price-To-Book Ratio - P/B Ratio / Tỉ Lệ Giá / Giá Trị Ghi Sổ
Đây là tỉ lệ được sử dụng để so sánh giá của một cổ phiếu so với giá trị ghi sổ của cổ phiếu đó. Tỉ lệ này được tính toán bằng cách lấy giá đóng cửa hiện tại của cổ phiếu chia cho giá trị ghi sổ tại quý gần nhất của cổ phiếu đó. Công thức tính như sau: Trong đó Stock price: giá cổ phiếu (cổ phần) Total assets: tổng giá trị tài sản Intangible assets and liabilities: giá trị tài sản vô hình và nợ Hãy cùng xét một ví dụ: giả sử rằng công ty có giá trị tài sản ghi nhận trên bảng cân đối kế toán là 100 triệu 4, tổng nợ là 75 triệu $, như vậy giá trị ghi sổ của công ty là 25 triệu $. Nếu hiện tại công ty có 10 triệu cổ phiếu đang lưu hành, mỗi cổ phiếu sẽ đại diện cho 2.5$ giá trị ghi sổ của công ty. Nếu mỗi cổ phiếu này có giá thị trường là 5$, như vậy tỉ lệ P/B là 2 (=5/2.5). Đối với các nhà đầu tư, P/B là công cụ giúp họ có thể tìm kiếm được các cổ phiếu có giá thấp mà phần lớn thị trường bỏ qua. Nếu một doanh nghiệp đang bán cổ phần với mức giá thấp hơn giá trị ghi sổ của nó (tức là có tỉ lệ P/B nhỏ hơn 1), khi đó có hai trường hợp sẽ xảy ra: hoặc là thị trường đang nghĩ rằng giá trị tài sản của công ty đã bị thổi phồng quá mức hoặc là thu nhập trên tài sản của công ty là quá thấp.Nếu như điều đầu tiên xảy ra, các nhà đầu tư nên tránh xa các cổ phiếu này bởi vì giá trị tài sản của công ty sẽ nhanh chóng được thị trường điều chỉnh về đúng giá trị thật. Còn nếu điều thứ hai đúng thì có khả năng là lãnh đạo mới của công ty hoặc các điều kiện kinh doanh mới sẽ đem lại những triển vọng kinh doanh cho công ty, tạo dòng thu nhập dương và tăng lợi nhuận cho các cổ đông. Ngược lại, nếu một công ty có giá thị trường của cổ phiếu cao hơn giá trị ghi sổ thì đây thường là dấu hiệu cho thấy công ty làm ăn khá tốt, thu nhập trên tài sản cao. Chỉ số P/B chỉ thực sự có ích khi bạn xem xét các doanh nghiệp có mức độ tập trung vốn cao hoặc các công ty tài chính bởi giá trị tài sản của các công ty này tương đối lớn. Vì công tác kế toán phải tuân thủ theo những tiêu chuẩn ngặt nghèo, giá trị ghi sổ của tài sản hoàn toàn không tính tới các tài sản vô hình như thương hiệu, nhãn hiệu, uy tín, bằng sáng chế và các tài sản trí tuệ khác do công ty tạo ra. Giá trị ghi sổ không có ý nghĩa nhiều lắm với các công ty dịch vụ vì họ giá trị tài sản hữu hình của họ không lớn. Ví dụ: Microsoft là công ty mà phần lớn tài sản của công ty này là tài sản trí tuệ, các bản quyền phần mềm chứ không phải là các tài sản hữu hình khác. Cổ phần của công ty này chẳng mấy khi được bán với giá thấp hơn 10 lần giá trị ghi sổ của chúng.
Uncovered Interest Rate Parity - UIP / Ngang Giá Lãi Suất Không Phòng Ngừa
UIP xảy ra khi sự khác biệt trong lãi suất của hai quốc gia đã ngang bằng với mức thay đổi tỷ giá kỳ vọng trong đồng tiền của hai quốc gia đó. Nếu sự ngang giá này không xảy ra thì các nhà kinh doanh chệch lệch đã có cơ hội kiếm lợi Công thức: i1 – i2 = E(e) Với : i1 : lãi suất ở quốc gia 1 i2: lãi suất ở quốc gia 2 E(e): mức thay đổi trong tỷ giá hối đoái kỳ vọng Ví dụ: giả sử lãi suất ở Mỹ đang là 10% và lãi suất ở Canada là 15%. Theo ngang giá lãi suất không phòng ngừa( UIP) thì đồng đô-la Canada được kỳ vọng sẽ giảm giá 5% để “ đối phó” với đồng Đô la Mỹ. Nói cách khác, để thuyết phục được một nhà đầu tư sắn sàng đầu tư vào Canada khi đồng tiền Canada bị đánh giá thấp 5%thì lãi suất đồng đô-la Canada sẽ phải cao hơn 5% so với lãi suất đồng Đô la Mỹ.
Pricing Power / Quyền Định Giá
Quyền định giá là thuật ngữ chỉ ảnh hưởng của giá sản phẩm đến nhu cầu của khách hàng đối với sản phẩm đó. Quyền định giá liên quan chặt chẽ đến thuật ngữ "Sự co giãn của cầu theo giá". Nói chung, nếu một công ty không có quyền định giá thì một sự thay đổi nhỏ trong giá cả, ví dụ giá tăng lên sẽ làm ảnh hưởng rất lớn đến nhu cầu hoặc cầu giảm xuống.
Porfolio Balance Approach To The Balance Of Payments/ Exchange Rate / Phương Pháp Cân Đối Danh Mục Đầu Tư Đối Với Cán Cân Thanh Toán/ Tỷ Giá Hối Đoái
Một phương án của phương pháp tiền tệ đối với cán cân thanh toán cho rằng các tài sản là các vật thay thế không hoàn hảo.
Primary Dealers (PD) / Hệ Thống Tạo Lập Thị Trường
Hệ thống tạo lập thị trường là hệ thống được tạo nên bởi các nhà phân phối cấp 1 đối với các chứng khoán chính phủ, các nhà phân phối này đều phải được sự chấp thuận của ngân hàng trung ương. Các nhà phân phối cấp 1 có thể là các ngân hàng, các công ty môi giới lớn, và thường giao dịch trực tiếp với ngân hàng trung ương. Để được ngân hàng trung ương chấp thuận cho tham gia vào thị trường phân phối sơ cấp, những nhà phân phối này bắt buộc phải đáp ứng những tiêu chí nhất định, như về vốn, khả năng thanh khoản. Trên thị trường sơ cấp đối với các chứng khoán chính phủ, các nhà phân phối cấp 1 cạnh tranh nhau để mua các chứng khoán do Chính phủ phát hành. Sau đó, trên thị trường thứ cấp, những nhà phân phối này lại đóng vai trò như người tạo lập thị trường, bán lại các chứng khoán trên cho những đối tượng khác. Ngoài chức năng về giao dịch, những nhà phân phối cấp 1 còn có nhiệm vụ phải báo cáo lại cho Ngân hàng trung ương những thông tin quan trọng về tình hình, diễn biến thị trường, hỗ trợ Ngân hàng trung ương đưa ra những quyết sách đúng đắn trong chính sách tiền tệ. Với những vai trò như vậy, các nhà phân phối cấp 1 này đóng vai trò như một hệ thống tạo lập thị trường cho các loại chứng khoán chính phủ. Ở Mỹ, các nhà phân phối cấp 1 đều được làm việc trực tiếp với FED. Họ có hẳn một mạng lưới tạo lập thị trường chứ không chỉ là một hệ thống. Những nhà phân phối ở các nước khác nhau chịu trách nhiệm với từng thị trường một. Các công ty chứng khoán Daiwa, Mizuho, Nomura chịu trách nhiệm phân phối cho người mua tại Nhật; BNP Paribas, Barclays, Deutsche Bank, và Greenwich Capital làm việc với các khách hàng châu Âu, còn tại Mỹ là Goldman Sachs, Lehman Brothers, và Citigroup.
Unconvered Interest Parity / Lãi Suất Ngang Bằng Chưa Tính
Trong một chế độ tỷ giá hối đoái linh hoạt khi các nhà đầu tư bàng quan với rủi ro và không tự bảo vệ họ khỏi những rủi ro của tỷ giá trong THỊ TRƯỜNG KỲ HẠN, yêu cầu rằng giá giao ngay trong tương lai của một đồng tiêng khác với giá giao ngay hiện tại bằng một lượng vừa đúng để làm đối trong với mức chênh lệch lãi suất giữa hai quốc gia.
UNCITRAL (United Nations Commission On International Law) / Ủy Ban Của Liên Hợp Quốc Về Luật Quốc Tế
UNCITRAL là cơ quan pháp lý chủ chốt của Liên Hợp Quốc trên lĩnh vực Luật thương mại quốc tế. Uỷ ban gồm có các thành viên trên toàn thế giới chuyên môn vào lĩnh vực cải cách luật thương mại quốc tế trong hơn 40 năm qua. Nhiệm vụ của UNCITRAL là làm hiện đại hoá và hài hoà hoá hệ thống quy tắc trong thương mại quốc tế. Thương mại đồng nghĩa với tăng trưởng kinh tế nhanh hơn, mức sống của người dân cao hơn, và nhiều cơ hội kinh doanh hơn. Để mở rộng và tăng cường các cơ hội đó trên khắp thế giới, UNCITRAL đưa ra các quy tắc hiện đại, công bằng và hài hoà đối với các giao dịch thương mại. Gồm có: 1. Các quy ước, luật và quy tắc mẫu được chấp nhận trên toàn thế giới; 2. Các hướng dẫn về luật và pháp lý có ý nghĩa thực tế lớn; 3. Các thông tin cập nhật về các case law và việc ban hành luật thương mại thống nhất; 4. Trợ giúp kĩ thuật cho các dự án cải cách, sử đổi luật; 5. Hội nghị quốc gia và khu vực về vấn đề luật thương mại thống nhất.






