Unemployment / Thất Nghiệp
Là những người lao động không có việc làm, bao gồm cả những người đang trong giai đoạn tìm việc làm mới hoặc những người không thể tìm được việc làm với đồng lương thực tế hiện hành.
Posterior Distribution / Phân Phối Sau
Phân phối xác suất của một biến số hoặc thống kê là kết quả của sự phối hợp giữa phân phối trước và thông tin mẫu trong kỹ thuật BAYES.
Positivism / Chủ Nghĩa Thực Chứng
Học thuyết triết học cho rằng các định đề mà không thể xác minh được khi đối chiếu với bằng chứng thực tiễn thì chí ít phải coi là không thể chấp nhận được như là một bộ phận của khoa học hoặc ở mức cao nhất là vô nghĩa.
Chủ Nghĩa Thực Chứng (Positivism) là một thuật ngữ trong tài chính. Nó mô tả khái niệm, cơ chế hoặc quy trình cụ thể, được sử dụng trong phân tích, định giá, giao dịch và quản trị rủi ro. Ví dụ: Chủ Nghĩa Thực Chứng (Positivism) có thể dùng trong phân tích báo cáo tài chính hoặc định giá doanh nghiệp, tùy ngữ cảnh. Ứng dụng: hỗ trợ lập báo cáo, phân tích, thẩm định và ra quyết định tài chính. Khi áp dụng, cần lưu ý đến bối cảnh pháp lý và thị trường để hiểu đúng.
Unearned Income / Thu Nhập Phi Tiền Lương
Là các nguồn thu ngoài tiền lương, tiền công thường là các nguồn lợi nhuận hoặc tiền lãi hoặc tiền cho thuê.
Positive Theory / Lý Thuyết Thực Chứng
Lý thuyết thực chứng là một phát biểu về tình hình thực tế của sự vật, hiện tượng. Nó khác hẳn với lý thuyết chuẩn tắc là qui tắc nói về điều chúng ta "nên làm." Lý thuyết thực chứng là một sự mô tả, tả thực về một vài phần quan sát được của thế giới kinh doanh hay kinh tế thực, và chỉ ra cách thức những phần ta quan sát được đó vận hành ra sao. Ví dụ, một lý thuyết hướng tới thị trường chứng khoán có thể đem lại một giả thiết về cách thức các lực lượng hiện hữu trên thị trường chứng khoán tương tác với nhau để hình thành mức giá họ cùng công nhận. Lý thuyết thực chứng theo cách này không hẳn sẽ đưa ra bất kỳ chỉ dẫn gì về nhận thức xem chúng ta nên hành động và cư xử ra sao. Nó chỉ đưa ra hiểu biết nhận thức được từ quan sát. Tuy nhiên, khi có đủ nhiều, thì cuối cùng những hiểu biết thu được từ các lý thuyết thực chứng sẽ rất hữu ích cho con người trong quá trình cải thiện các hành vi, chính sách trên thực tế. Nói ngắn gọn, con người xây dựng nên các lý thuyết thực chứng để nhằm cải thiện nhận thức và hiểu biết của mình về cách thức mà thế giới tồn tại và phát triển, sau đó chúng ta sử dụng nhận thức đó để chỉ dẫn cho hành động và quyết định của mình.
Undistributed Profits / Lợi Nhuận Không Chia
Là một tỷ lệ lợi nhuận được giữ lại không phân chia cho các cổ đông dưới dạng cổ tức cũng như không dùng để trả các khoản thuế.
Underwriting Syndicate / Xanhdica Bao Mua Chứng Khoán
Xanhdica bao mua chứng khoán là một nhóm các ngân hàng đầu tư hợp tác với nhau để bán chứng khóan mà một công ty mới phát hành cho các nhà đầu tư. Trong Xanhdica bao mua chứng khoán, bao giờ cũng có một ngân hàng đứng đầu gọi là "lead underwriter". Các ngân hàng này có thể này có thể chỉ đóng vai trò như một đại lý cho các công ty phát hành chứng khoán, đổi lại họ được hưởng một khoản "phí phát hành". Họ cũng có thể chung vốn mua đứt số cổ phiếu đó để bán lại ra công chúng, khi đó Xanhdica này có vai trò như một nhà bán buôn. Dù đóng vai trò nào thì một sự thực không phủ nhận là các Xanhdica này đã giúp công ty huy động vốn nhanh hơn và suôn sẻ hơn. Khi làm "đại lý" cho công ty phát hành, ngân hàng hầu như không phải chịu rủi ro gì. Vì vậy, trong các hợp đồng phát hành giữa công ty phát hành và ngân hàng thường có một điều khoản là điều khoản "All or none", theo đó nếu chứng khoán không được bán hết thì nó sẽ bị hủy. Khi làm các nhà "bán buôn", thì ý nghĩa của các Xanhdica mới thực sự được phát huy. Nhờ tập hợp với nhau, các ngân hàng này có thể chia sẻ rủi ro phát hành, góp một lượng vốn đủ lớn để mua chứng khoán và mở rộng kênh phân phối cho các loại chứng khoán này. Có hai loại hợp đồng hợp tác chính giữa các ngân hàng trong Xanhdica: Kiểu liên kết, hay còn gọi là kiểu Phương Đông: đó là phương thức phân định trách nhiệm giữa các ngân hàng tham gia theo đó mỗi ngân hàng sẽ chịu trách nhiệm với toàn bộ lượng chứng khoán chưa bán được theo phần trăm vốn đóng góp. Kiểu biệt lập, hay còn gọi là kiểu Phương Tây: mỗi ngân hàng chịu trách nhiệm riêng với phần chứng khoán chưa bán được mà nó tham gia, và không phải chịu trách nhiệm với phần của các ngân hàng khác. Kiểu thứ nhất mang tính chất hợp tác và chia sẻ rủi ro cao hơn, ngược lại, kiểu thứ hai mang tính chất khắc nghiệt hơn và nó thúc đẩy các ngân hàng phải bán hết phần chứng khoán mình đã tham gia mua.
Positive Feedback / Negative Feedback / Phản Ứng Thuận Chiều / Nghịch Chiều
Phản ứng thuận chiều là cách thức phản ứng của những người tham gia thị trường trước những biến động theo hướng làm cho những biến động ấy càng mạnh hơn. Ngược lại, phản ứng nghịch chiều trước những biến động của thị trường có xu hướng là giảm biến động đó. Ví dụ: trên thị trường chứng khoán giá một cổ phiếu X tăng liên tục từ $10 lên, $20, $30,... các nhà đầu tư cho rằng cổ phiếu này còn tăng giá mạnh hơn nữa và tiếp tục mua vào đẩy cầu lên cao, và làm cho giá còn cao hơn nữa. Đó là phản ứng thuận chiều. Ngược lại, khi giá X lên cao, nhà đầu tư nhận thấy rằng P/E của nó đã tăng đến mức vô lý và đi tìm cổ phiếu khác, làm cho cầu giảm và giá giảm. Đây là phản ứng nghịch chiều. Kết quả của phản ứng thuận chiều luôn được nhân lên nhiều lần khiến một biến động nhỏ của thị trường cũng có thể gây ra một thay đổi lớn. Phản ứng thuận chiều sẽ đẩy toàn bộ thị trường vượt xa khỏi điểm cân bằng ban đầu của nó, khuếch đại tín hiệu ban đầu của thị trường, và cuối cùng gây ra một hiệu ứng bùng nổ với cấp số nhân. Do đó phản ứng thuận chiều là một cơ sở để người ta giải thích cho những giai đoạn bùng nổ kinh tế quá mức dẫn đến sụp đổ, thường gọi là bong bóng kinh tế. Nếu như phản ứng thuận chiều làm thị trường bị đẩy xa khỏi điểm cân bằng thì phản ứng nghịch chiều có xu thế kéo thị trường trở lại mức cân bằng. Do vậy phản ứng nghịch chiều có xu hướng chống lại biến động, duy trì sự ổn định, cân bằng trên thị trường.
Underwriting Agreement / Thỏa Thuận Bảo Lãnh Phát Hành
Thỏa thuận giữa đơn vị bảo lãnh phát hành, hoạt động như đại diện cho nhóm bảo lãnh phát hành và bên phát hành chứng khoán. Thỏa thuận để ra trách nhiệm của tất cả các bên đối với thương vụ đề xuất và giá ban đầu của chứng khoán chào bán cho công chúng, và quy định cụ thể bên bảo lãnh sẽ mua bao nhiêu số chứng khoán chưa được bán. Bên phát hành trả chi phí hoàn thành hồ sơ đăng ký với ủy ban hối đoái và chứng khoán, và bản cáo bạch chứng khoán ghi chi tiết các điều khoản chào công chúng. Trái với thỏa thuận giữa các nhà bảo lãnh.
Underwriter / Người Bảo Hiểm
Là người đồng ý chịu sự rủi ro hoặc một phần rủi ro và đổi lại được nhận một khoản gọi là phí bảo hiểm.
Underwrite / Bao Tiêu - Bảo Lãnh
Underwrite- Bao tiêu hay còn gọi là Bảo lãnh - là thuật ngữ tài chính chỉ việc một người hoặc một tổ chức chấp nhận rủi ro mua một loại hàng hóa giấy tờ nào đó để đổi lấy cơ hội nhận được món lời khác. Trong mỗi lĩnh vực Bao tiêu lại được gọi tên khác nhau. Trong Bảo hiểm, bao tiêu chính là việc bảo hiểm, mua rủi ro về phía mình đổi lại được phí bảo hiểm. Trong đầu tư, bao tiêu là chấp nhận mọi rủi ro khi mua tất cả các chứng khoán mới phát hành của công ty hay đơn vị Nhà nước và bán lại cho công chúng trực tiếp hoặc thông qua người môi giới. Người bảo lãnh được hưởng chênh lệch giữa giá phải trả cho nhà phát hành và giá bán ra, gọi là chênh lệch bao tiêu. Bảo lãnh được hiểu là hoạt động kinh doanh của các tổ chức đầu tư, đặc biệt là ngân hàng đầu tư, tập hợp của nhiều nhà đầu tư (gọi là nhóm bao tiêu/ bảo lãnh) chịu chung rủi ro và đảm bảo phân phối thành công số chứng khoán đã được bảo lãnh phát hành. Như vậy bao tiêu chính là công việc đầu tiên của các tổ chức đầu tư trước khi tiến hành phân phối thứ cấp. Nhóm bảo lãnh hoạt động theo thỏa thuận giữa những người bảo lãnh, gọi là hợp đồng bảo lãnh. Công ty bắt đầu làm việc với nhà phát hành để hoạch định chi tiết việc phát hành và chuẩn bị tài liệu đăng ký để nộp cho Nhà nước. Trong suốt thời gian cung ứng, bên nhận bảo lãnh phải chịu trách nhiệm ổn định giá thị trường cổ phần bằng cách phát giá trong thị trường mở rộng. Khi cầu giảm, nhóm sẽ chỉ định ra một nhóm bảo lãnh mua chứng khoán đó trên thị trường nhằm cân bằng và điều chỉnh giá cả. Có hai phương pháp cơ bản để nhà phát hành lựa chọn đon vị bảo lãnh phát hành và giá phí bao tiêu. Thứ nhất là bao tiêu theo thương lượng được dùng trong việc phát hành cổ phiếu hoặc trái phiếu nợ của công ty. Thứ hai, bao tiêu theo đấu thầu sử dụng trong việc cạnh tranh mua trái phiếu chính quyền đô thị và các đơn vị công khác.
Underwater Loan / Tiền Vay Có Giá Trị Thấp
Price To Earning Ratio / Hệ Số Giá Trên Thu Nhập Một Cổ Phần
P/E là tỷ lệ giữa giá thị trường và lợi nhuận ròng trên mỗi cổ phần của một công ty. Chính định nghĩa này đã ngầm định một cách đơn giản để tính toán chỉ số này, chỉ cần lấy giá hiện tại của mỗi cổ phần chia cho lợi nhuận ròng trên mỗi cổ phần đó (EPS): P/E = Giá trị thị trường /Lợi nhuận ròng trên một cổ phần (EPS). 3Trong hầu hết các trường hợp, việc tính toán tỷ lệ P/E đều có sử dụng tới chỉ số EPS của 4 quý trước. Điều này được hiểu như là một dấu hiệu của P/E. Tuy nhiên, cũng có lúc chỉ số EPS được lấy từ việc ước tính lợi nhuận kì vọng cho 4 quý tiếp theo. P/E tính theo cách này được gọi là P/E định hướng hay P/E kế hoạch. Một cách tính khác cũng thường được thấy là sử dụng EPS của hai quý trước đó và ước tính cho hai quý tiếp theo. Trên thực tế thì không có sự khác biệt lớn lắm giữa các cách tính trên. Điều quan trọng là phải nhận ra rằng trong cách tính đầu tiên, bạn sử dụng dữ liệu có thật từ hoạt động trong quá khứ của công ty. Hai cách tính khác dựa vào những tính toán ước lượng, do đó không phải lúc nào cũng hoàn hảo và chính xác. Khi các công ty làm ăn không có lãi, tất yếu là EPS của công ty đó sẽ âm, do vậy việc tính toán P/E của các công ty này sẽ gặp nhiều khó khăn. Có nhiều ý kiến khác nhau về việc làm thế nào để giải quyết được vấn đề này. Một số ý kiến cho rằng cứ để hệ số P/E âm, một số khác thì cho rằng nên gán cho P/E trong trường hợp này giá trị bằng 0, trong khi phần lớn ý kiến khác thì nghĩ đơn giản là trong trường hợp này, P/E không tồn tại. Thông thường, tỷ lệ P/E trung bình trên thị trường thường dao động trong khoảng từ 15 – 25. Sự dao động này phần lớn phụ thuộc vào tình trạng của nền kinh tế. Hệ số P/E cũng rất khác nhau giữa các công ty và các ngành, lĩnh vực kinh doanh. Vậy hệ số P/E được sử dụng để làm gì? Theo lý thuyết, P/E của một cổ phiếu sẽ cho chúng ta biết là các nhà đầu tư sẵn lòng trả bao nhiêu cho mỗi dollar tiền lãi là bao nhiêu. Với nội dung này, đôi khi P/E còn được gọi là số nhân (multiple) của một cổ phiếu. Nói cách khác, một tỉ lệ P/E ở mức 20 sẽ cho biết rằng cá nhà đầu tư vào cổ phiếu này sẵn lòng chi 20$ cho mỗi một đôla lợi nhuận mà công ty đó tạo ra. Tuy nhiên, đây là cách tiếp cận P/E quá đơn giản và không tính đến triển vọng tăng trưởng của công ty đó. Mặc dù số liệu EPS trong công thức tính P/E thường dựa chủ yếu vào lợi nhuận ròng từ hoạt động kinh doanh của công ty trong 4 quý trước đó nhưng P/E cũng không chỉ đơn thuần là thước đo về hiệu quả hoạt động của công ty trong quá khứ. Kỳ vọng của thị trường về sự phát triển của công ty cũng là một nhân tố được tính tới trong chỉ số này. Nên nhớ rằng, giá cổ phiếu của một công ty sẽ phản ánh nhận định của các nhà đầu tư về giá trị của công ty đó. Tiềm năng phát triển trong tương lai cũng được tính tới khi định giá cổ phiếu. Do đó, một cách tốt hơn để lý giải tỉ lệ P/E đó là P/E là sự phản ánh mức độ lạc quan cũng như kì vọng của thị trường về khả năng tăng trưởng của doanh nghiệp trong tương lai. Nếu một công ty có hệ số P/E cao hơn mức trung bình của toàn bộ thị trường mức bình quân ngành, điều này có nghĩa là thị trường đang kỳ vọng vào khả năng tăng trưởng tốt của công ty trong một thời gian tới, có thể là vài tháng hoặc vài năm nữa. Một công ty có hệ số P/E cao cuối cùng sẽ phải “xứng đáng với kì vọng của thị trường” thể hiện thông qua sự tăng trưởng lớn về lợi nhuận hoạt động, nếu không chắc chắn giá cổ phiếu của công ty đó sẽ giảm. Một ví dụ điển hình là tập đoàn FPT. Vài năm trước đây, khi mà tập đoàn này tăng trưởng ngoạn mục, và có tỷ lệ P/E trên 80. Ngày nay, FPT là một trong những công ty lớn nhất tại Việt Nam, tuy nhiên thu nhập và lãi của công ty này không thể duy trì với tốc độ tăng trưởng như trước đây. Tỷ lệ P/E của tập đoàn đã giảm xuống mức 9,13 vào ngày 28/11/2008. Sự sụt giảm tỷ lệ P/E là điều hết sức bình thường khi các công ty có tốc độ tăng trưởng ở mức cao vào giai đoạn mới hình thành, củng cố được vị thế và danh tiếng của mình sau đó chuyển thành các công ty bluechips. Đắt hay rẻ Kết hợp P/E để đánh giá giá trị cổ phiếu tốt hơn hẳn so với việc sử dụng đơn thuần giá trị thị trường của cố phiếu đó. VD: nếu các yếu tố khác là tương tự nhau, một cổ phiếu có giá 10000VNĐ và P/E là 75 sẽ đắt hơn một cổ phần trị giá 100.000VNĐ nhưng có tỷ lệ P/E chỉ là 20. Điều này có nghĩa sử dụng P/E để phân tích cũng sẽ có hạn chế nhất định, bạn không thể so sánh tỷ lệ P/E của 2 công ty quá khác biệt nhau để quyết định rằng công ty nào có giá trị tốt hơn. Sẽ rất khó để có thể quyết định rằng một chỉ số P/E nào đó là cao hay thấp nếu như không tính toán hai nhân tố chính: Thứ nhất là tốc độ tăng trưởng của công ty - Công ty đó đã phát triển như thế nào trong quá khứ và tốc độ tăng trưởng này có được kỳ vọng sẽ tăng lên, hay ít nhất là cũng sẽ duy trì không đổi trong tương lai hay không? Rõ ràng là không ổn nếu như trước đây công ty có mức tăng trưởng là 5 nhưng lại có tỷ lệ P/E ở mức trung bình. Nếu như tỷ lệ tăng trưởng kế hoạch không điều chỉnh lại hệ số P/E, khi đó giá cổ phần sẽ cao hơn giá trị thực. Trong trường hợp này, tất cả những gì bạn phải làm là tính toán chỉ số P/E sử dụng EPS kế hoạch. Thứ hai là yếu tố ngành kinh doanh - việc so sánh các công ty với nhau chỉ thực sự hữu dụng khi các công ty đó nằm trong cùng một ngành kinh doanh. Ví dụ, các doanh nghiệp hay thực thể kinh doanh thường có số nhân (multiple) thấp bởi các doanh nghiệp này hoạt động trong ngành kinh doanh có tốc độ tăng trưởng thấp và tương đối ổn định. Ngược lại, ngành công nghệ là một ngành có tốc độ tăng trưởng đáng kinh ngạc và liên tục có sự đổi mới.Việc so sánh các công ty công nghệ này so với các thực thể kinh doanh nói trên sẽ chẳng cho bạn thấy được điều gì. Bạn chỉ nên so sánh các doanh nghiệp có tốc độ tăng trưởng nhanh với các doanh nghiệp khác trong cùng ngành kinh doanh, hoặc so sánh các chỉ tiêu của doanh nghiệp với các chỉ tiêu bình quân ngành. P/E và những mặt hạn chế. Cho đến giờ thì chúng ta biết được rằng trong một số trường hợp nhất định, P/E có thể giúp xác định xem liệu một công ty có được đánh giá quá cao hoặc đang bị định giá thấp hay không. Nhưng việc phân tích tỷ lệ P/E cũng chỉ có giá trị trong một số trường hợp nào nhất định và việc phân tích nà vẫn có những “cạm bẫy”. Một vài nhân tố có thể khiến cho việc phân tích P/E trở nên vô ích bao gồm: Hoạt động kế toán: Lợi nhuận ròng là một chỉ số kế toán bao gồm cả những khoản mục phi tiền tệ. Hơn nữa việc tính toán lợi nhuận doanh nghiệp bị chi phối bởi các nguyên tắc kế toán. Mà các nguyên tắc kế toán (GAAP) có thể thay đổi theo thời gian, cũng có sự khác biệt giữa các quốc gia. Để khiến cho mọi việc thêm phức tạp, EPS có thể bị bóp méo, hoặc ẩn chứa dưới nhiều con số, phụ thuộc vào cách thức làm sổ sách kế toán của doanh nghiệp như thế nào. Và kết quả là chúng ta vẫn không thể biết được liệu có so sánh đúng những số liệu này không, hay lại đang so quả táo với quả lê? Thông thường việc tuân thủ các nguyên tắc kế toán (GAAP) mà những nguyên tắc này thay đổi theo thời gian và khác nhau trong từng nước. Làm phức tạp thêm các vấn đề, EPS có thể bị bóp méo, prodded và cho vào trong những con số khác nhau phụ thuộc vào bạn làm sổ sách kế toán như thế nào. Kết qủa là chúng ta vẫn không biết được dù chúng ta so sánh những con số như nhau hay apples to oranges (để hiểu rõ hơn về vấn đề này, hãy xem các loại khác nhau của EPS) Lạm phát: Trong thời gian lạm phát cao, hàng tồn kho và chi phí khấu hao có khuynh hướng giảm đi vì chi phí thay thế hàng hoá và trang thiết bị tăng theo mức giá chung của thị trường. Do đó, tỷ lệ P/E có khuynh hướng thấp hơn trong suốt thời gian lạm phát cao bởi lợi nhuận đã bị bóp méo đi, lớn hơn với con số thực tế. Cũng như tất cả các chỉ số khác, việc xem xét P/E trong một thời gian để xác định xu hướng sẽ hữu ích hơn nhiều. Lạm phát sẽ khiến cho việc theo dõi trở nên khó khăn vì thông tin trong quá khứ sẽ không còn phù hợp nhiều với điều kiện hiện tại nữa, độ sai lệch cũng lớn hơn. Có nhiều cách lý giải P/E Một tỷ lệ P/E thấp cũng không nhất thiết là công ty đó bị định giá thấp. Thay vào đó, điều này có nghĩa là thị trường đang tin rằng công ty có thể sẽ gặp khó khăn trong tương lai gần. Giá cổ phiếu giảm thường do tác động của một số nguyên nhân nào đó. Có thể là do công ty đã cảnh báo rằng lợi nhuận ròng thu được sẽ thấp hơn kỳ vọng. Điều này sẽ không được phản ánh trong hệ số P/E cho đến khi thông tin về lợi nhuận ròng thật sự được đưa ra, trong suốt thời gian đó thì công ty có thể bị đánh giá thấp hơn giá trị thực.
Positive Economics / Kinh Tế Học Thực Chứng
Kinh tế học thực chứng giải thích sự hoạt động của nền kinh tế một cách khách quan hoặc một cách khoa học. Mục tiêu của kinh tế học thực chứng là giải thích xã hội quyết định như thế nào về tiêu thụ, sản xuất và trao đổi hàng hóa. Sự khảo sát như vậy nhằm hai mục đích: (1) để thỏa mãn tính tò mò của chúng ta về nguyên nhân tại sao nền kinh tế lại hoạt động như nó đang hoạt động, và (2) để có cơ sở cho việc dự đoán xem nền kinh tế sẽ phản ứng như thế nào với những thay đổi của hoàn cảnh. Trong kinh tế học thực chứng, các hành vi kinh tế được kỳ vọng sẽ được thực hiện với những quyết định mang tính khoa học, hợp lô-gíc và không thiên vị. Quan tâm về kết cục của hành vi kinh tế có khác nhau, nhưng trước tiên, các tác nhân kinh tế đều cùng chung một quan tâm: đời sống kinh tế thực hoạt động ra sao? Ở đây, không có chỗ đứng cho các ý kiến đánh giá theo tiêu chuẩn cá nhân. Các giả thiết được quan tâm trong kinh tế học thực chứng có dạng: Nếu cái này bị thay đổi thì điều gì sẽ xảy ra? Về khía cạnh này, kinh tế học thực chứng tương tự các môn khoa học tự nhiên như vật lý, địa chất hay thiên văn.
Kinh Tế Học Thực Chứng (Positive Economics) là một thuật ngữ trong tài chính. Nó mô tả khái niệm, cơ chế hoặc quy trình cụ thể, được sử dụng trong phân tích, định giá, giao dịch và quản trị rủi ro. Ví dụ: Kinh Tế Học Thực Chứng (Positive Economics) có thể dùng trong phân tích báo cáo tài chính hoặc định giá doanh nghiệp, tùy ngữ cảnh. Ứng dụng: hỗ trợ lập báo cáo, phân tích, thẩm định và ra quyết định tài chính. Khi áp dụng, cần lưu ý đến bối cảnh pháp lý và thị trường để hiểu đúng.
Positioning Statement / Tuyên Ngôn Định Vị
Là lời tuyên ngôn về một vị trí mà công ty mơ ước rằng sản phẩm hay thương hiệu của mình có thể chiếm giữ được trong tâm trí khách hàng. Trong marketing, định vị được xem là linh hồn của một kế hoạch truyền thông hiệu quả. Một bản tuyên bố định vị tốt sẽ giúp bạn xác định được phương hướng chính xác cho cả công ty. Một trong những phát biểu sâu sắc về định vị lại có nguồn gốc từ câu chuyện cổ tích “Alice lạc vào xứ sở thần tiên”. Khi Alice hỏi Ông mèo Nhăn Nhó cô cần phải chọn con đường nào để đi, ông ta đã trả lời :”Nếu cô không quan tâm cô sẽ đi đến đâu, mọi con đường đối với cô đều như nhau” Thị trường ngày nay đã có quá nhiều chiến dịch marketing truyền thông diễn ra xung quanh bạn. Nếu không có định hướng hay sự tập trung rõ ràng, công ty của bạn cũng sẽ hành động không khác mọi người – nói quá nhiều nhưng truyền đạt không được gì và cũng chẳng đến đâu cả. Trong marketing, định vị được xem là linh hồn của một kế hoạch truyền thông hiệu quả. Một bản tuyên bố định vị tốt sẽ giúp bạn xác định được phương hướng chính xác cho cả công ty. Nó giúp bạn trả lời 7 câu hỏi mấu chốt sau: Bạn là ai? Công việc kinh doanh của bạn là gì? Cho ai? (Ai là người bạn đáp ứng) Điều gì cần thiết trong thị trường mà bạn đáp ứng? Bạn cạnh tranh với đối thủ của mình như thế nào? Sự khác biệt của bạn nằm ở đâu? Đâu là lợi ích độc đáo trong sản phẩm hay dịch vụ của bạn? Đừng bị nhầm lẫn giữa bản tuyên bố định vị và định vị thị trường. Harry Beckwith đã mô tả bản tuyên bố định vị khá rõ ràng trong cuốn sách “Selling the Invisible” của mình: “Bản tuyên bố định vị thể hiện rõ ràng mong muốn của bạn đạt được vị trí nào trong tâm trí khách hàng. Đó là thông điệp cốt lõi mà bạn sẽ chuyển tải trong mỗi phuơng tiện truyền thông”. Hãy nhớ, các công ty không thể nào định vị mình trở thành mọi thứ có thể. Nó hoàn toàn do thị trường nhận thức về vị trí của họ. Đừng bao giờ mong muốn những điều không thể thực hiện được. Vậy, làm cách nào để thông điệp đối thoại của bạn đi đúng hướng ? Bằng việc xây dựng một bản tuyên bố định vị rõ ràng, thuyết phục và khác biệt cùng với những thông điệp chủ đạo sẽ giúp bạn và công ty bạn lựa chọn cho mình vũ khí tốt nhất và hiệu quả. Và hơn nữa nó sẽ tạo được sự nhất trí và đồng lòng từ tất cả các nguồn lực của bạn.
Undervalue Currency / Đồng Tiền Định Giá Thấp
Trong một hệ thống tỷ giá hối đoái cố định, một đồng tiền có sức mua ngang giá tạo ra thặng dư cán cân thanh toán dai dẳng.
Positional Good / Hàng Hoá Theo Vị Trí
Một thuật ngữ của F.Hirsch sử dụng trong các giới hạn xã hội đối với tăng trưởng (1976) để chỉ một loại hàng hoá bị giới hạn về khả năng cung cấp tuyệt đối hoặc một cách tự nhiên hoặc thông qua các khía cạnh xã hội và có thể bị tắc nghẽn nếu sử dụng rộng rãi hơn.
Position, Long Position, Short Position / Thế Giá Lên, Thế Giá Xuống
Thuật ngữ "position" (thế) trong tài chính có rất nhiều nghĩa, điển hình nhất, có thể hiểu "thế" là tình trạng nắm giữ, sở hữu của một nhà đầu tư nào đó đối với một số lượng chứng khoán trong những điều kiện nhất định của thị trường, thường liên quan đến biến động giá chứng khoán. Ngoài ra, có thể hiểu đó là một cam kết mua hoặc bán một số lượng nhất định chứng khoán hay hàng hóa, là một số lượng chứng khoán hoặc hàng hóa nhất định được một người hoặc một công ty nào đó nắm giữ. Theo nghĩa thứ nhất, người ta phân ra thành hai thế chính: thế giá lên (long position) và thế giá xuống (short position). Thế giá lên là tình trạng nhà đầu tư đã bỏ tiền mua một loại chứng khoán và hy vọng sẽ kiếm lời khi giá tăng. Và ngược lại, thế giá giảm là tình trạng nhà đầu tư đã tham gia vào một thương vụ và sẽ kiếm lời khi giá giảm. Ví dụ: khi một nhà đầu tư dự đoán rằng giá một cổ phiếu X hiện đang là $50/cp sẽ tăng lên $70/cp trong vòng 2 tuần nữa. Anh ta lập tức ký một hợp đồng mua quyền chọn mua với phí quyền chọn $3/cp, giá thực hiện là $60/cp và thời hạn 2 tuần, người ta gọi đây là việc "mở thế giá lên". Sau 2 tuần, giá cổ phiếu X thậm chí tăng lên đến $75/cp, nhà đầu tư yêu cầu được thực hiện quyền chọn mua của mình để lấy số chứng khoán đó hoặc ăn chênh lệch $15/cp, việc này gọi là "đóng thế giá lên". Sau khi trừ đi phí quyền chọn $3/cp anh ta vẫn lãi được $12/cp. Thế giá lên và thế giá xuống gắn chặt với các hoạt động đầu cơ giá lên và đầu cơ giá xuống, thông qua việc sử dụng các công cụ phái sinh như hợp đồng quyền chọn mua, quyền chọn bán, hợp đồng tương lai, hợp đồng kỳ hạn. Tương ứng với mỗi thế, các nhà đầu tư, đầu cơ có những kỹ thuật kiếm lời riêng. Khi nhà đầu tư cho rằng, giá cổ phiếu X nào đó sắp sửa tăng, bước thứ nhất, họ sẽ mua vào. Không phải lúc nào các nhà đầu tư cũng sử dụng toàn bộ số tiền đầu tư của mình để mua trực tiếp cổ phiếu, mà thường mua các công cụ phái sinh gắn với cổ phiếu, theo đó họ có thể sẽ nắm được quyền sở hữu với một số lượng cổ phiếu lớn hơn trong tương lai. Lúc giá tăng thực sự, nhà đầu tư sẽ tiến hành bước hai là bán số cổ phiếu mình đã mua trước đó, hoặc bán các quyền gắn với việc sở hữu những cổ phiếu đó để thu lợi. Ngược lại, khi dự đoán giá giảm nhà đầu tư thường bán cổ phiếu ra ngay, trong trường hợp không có cổ phiếu đó trong tay họ thậm chí còn thể "vay" để bán (bán khống). Lúc cổ phiếu rớt giá thực sự, nhà đầu tư sẽ tung tiền ra mua ngược trở lại để khôi phục danh mục đầu tư của mình, hoặc để trả số chứng khoán đã vay. Như vậy, khi phát hiện thị trường đang tồn tại một thế, tức là sắp có biến động giá với một loại chứng khoán nào đó, bao giờ các nhà đầu tư chứng khoán cũng tiến hành 2 thao tác mua/bán hoặc bán/mua đối ứng, tùy thuộc vào dự đoán của anh ta. Thao tác thứ nhất của nhà đầu tư được gọi là "mở thế", thao tác thứ hai kết thúc "thế" để ăn chênh lệch gọi là "đóng thế".
Understanding Futures Bulletin Board / Đọc Các Bảng Giao Dịch Futures
Đối với những người giao dịch futures, các báo cáo giá hàng ngày sẽ liệt kê những giá trị thay đổi trong tài khoản của họ. Nhưng đối với những người khác, các báo cáo này chỉ dùng để để xem lướt giá tương lai. Các bảng thông báo ở các thị trường futures cho biết giá mở cửa và đóng cửa, lịch sử biến động giá và số lượng giao dịch trong mỗi ngày giao dịch. Do các thị trường futures phản ảnh các điều kiện kinh tế và chính trị tại thời điểm đó, nên bảng giá futures còn cung cấp các nhận xét đáng quan tâm về tình trạng nền kinh tế và về cách thức mọi người cảm nhận đối với xu hướng của nền kinh tế đó. Giá mở cửa (open) là giá mở cửa của hàng hoá, ví dụ đường, trong ngày giao dịch trước đó. Tuỳ theo các biến cố xảy ra trên thế giới trong đêm hôm trước, giá mở cửa có thể không bằng giá đóng cửa của ngày hôm trước. Ví dụ, do giá được tính theo cent trên đồng bảng Anh, nên giá mở cửa của đường là 22,37 có nghĩa là đường được đưa ra bán với giá là 22,37 cent (Mỹ)/bảng (Anh). Nhân số tiền này với 112.000 bảng Anh (số bảng Anh trong hợp đồng) sẽ bằng 25.054,04$ trên một hợp đồng. Cột giá cao (high), giá thấp (low) và giá khớp lệnh (settle) thông báo giá cao nhất, giá thấp nhất và giá đóng cửa của ngày giao dịch trước đó. Các cột này được đặt cạnh nhau, và thông tin của các cột này là những chỉ số thể hiện rất rõ tính dao động bất ổn của thị trường hàng hoá trong ngày giao dịch đó. Ví dụ, giá mở cửa của hợp đồng đã được được kết thúc với giá cao nhất là 22,38$. Hợp đồng được khớp giá với giá đóng cửa là 22,31 cent, giảm 0,06 cent so với giá đóng cửa của ngày hôm trước. Cột biến động (change) so sánh giá đóng cửa hôm nay với giá đóng cửa ngày hôm trước. Dấu cộng (+) chỉ ra rằng giá hôm nay được đóng cửa ở mức cao hơn và dấu trừ (-) chỉ ra giá hôm nay đóng cửa ở mức thấp hơn. Trong trường hợp này, giá giao đường vào tháng Ba đã được ấn định ở mức cao hơn giá ngày giao dịch trước đó là 0,04 cent. Tháng thực hiện hợp đồng là tháng mà hợp đồng đến hạn. Ví dụ: Chữ Mr00 trong cột này chỉ ra rằng hợp đồng đó sẽ hết hạn vào ngày Thứ Sáu thứ ba của tháng Ba năm 2000. Khi đã đến ngày hết hạn, hợp đồng sẽ không được niêm yết trong bảng nữa. Chu kỳ đáo hạn của một hàng hoá nào đó thường tương ứng với các hoạt động xảy ra đối với hàng hoá đó. Ví dụ, các giao dịch về gạo sẽ được thực hiện theo chu kỳ trồng trọt, gặt đập hay thời điểm xuất khẩu. Giá cao nhất và thấp nhất của cả hợp đồng (lifetime high and low) thể hiện toàn bộ sự dao động giá của một hợp đồng cụ thể nào đó trước khi đến hạn. Ví dụ, giá dầu sưởi và thắp sáng dao động mạnh hơn giá đường -- có nghĩa là rủi ro đầu tư cao hơn, nhưng cũng có nghĩa là cơ hội thu được lợi nhuận cũng cao hơn. Cột Đang Giao Dịch (Open Interest) thể hiện tổng số lượng hợp đồng đang giao dịch -- đó là các hợp đồng không bị huỷ bỏ và thay thế bởi các hợp đồng bù. Nói chung, càng xa ngày đến hạn bao nhiêu thì lãi suất mở cửa càng thấp bấy nhiêu vì không có nhiều giao dịch được thực hiện. Tuy nhiên, trong trường hợp giao dịch lúa và hạt có dầu, các hoạt động sẽ tăng lên trong những tháng thu hoạch vụ lúa mới. Tên sản phẩm (product) được liệt kê theo thứ tự alphabet theo từng nhóm cụ thể của nó. Bông xơ được xếp vào mục Thực phẩm và Sợi. Nói chung, trong bảng này, thông tin chi tiết chỉ được thông báo đối với những hợp đồng futures được giao dịch năng động nhất. Hoạt động của các hợp đồng khác sẽ được tóm tắt ở cuối cột có tiêu đề Các giao dịch futures khác (other futures). Tiếp theo tên sản phẩm là tên thị trường (exchange) mà tại đó một hợp đồng cụ thể nào đó được giao dịch. Ví dụ, chữ CTN là viết tắt của Thị trường Bông xơ New York. Một số hàng hoá khác, như lúa mỳ và ngũ cốc, thường không chỉ giao dịch trên một thị trường.
Position / Vị Thế Trên Thị Trường
Trong tài chính, Position có thể là: 1. Một cam kết mua hoặc bán một số lượng chứng khoán hay hàng hoá nhất định (hợp đồng) 2. Lượng chứng khoán hay hàng hoá được nắm giữ bởi 1 người (cổ phiếu, trái phiếu) 3. Tình trạng đầu tư vào các loại chứng khoán hay hàng hoá. Trong nghiệp vụ kinh doanh phái sinh, khái niệm Position được dùng rất nhiều. Có 2 loại Position cơ bản là: short position - nhiều sách dịch là đoản vị; và long position - nhiều sách dịch là trường vị. Trường vị (long position): Việc mua vào các loại chứng khoán như cổ phiếu, hàng hoá hay tiền tệ nhằm mục đích thu lời khi giá các loại tài sản này tăng lên. Để các loại chứng khoán được gọi là "trường vị" thì người giữ chúng phải là chủ sở hữu thực sự. Đoản vị (short position): Là số cổ phiếu hoặc trái phiếu mà một người kinh doanh không phải là người sở hữu chúng (anh ta đi vay chứng khoán để đạt được thế "trường vị"). Ví dụ trong hợp đồng quyền chọn bán (put options), một người sẽ mua quyền chọn bán cho một số lượng cổ phiếu nhất định do anh ta nắm giữ với giá ở thời điểm hiện tại bằng giá thị trường. Nhưng trong tương lai, giá cổ phiếu trên thị trường giảm xuống, anh ta sẽ đi mua những cổ phiếu giá thấp đó và về bán lại với giá bằng giá trong hợp đồng tức là giá cao hơn, anh ta sẽ ăn chênh lệch và trả được số nợ đi vay để mua.






