Access/Space Trade - Off Model / Mô Hình Đánh Đổi Không Gian Hay Mô Hình Tiếp Cận
Access/Space Trade - Off Model là một mô hình lý thuyết được sử dụng (chủ yếu) trong phân tích địa điểm dân cư ở các vùng đô thị, giải thích các hình thái vị trí do đánh đổi giữa khả năng tiếp cận của một địa điểm tới trung tâm của vùng và không gian của địa điểm đó.
Một mô hình lý thuyết được sử dụng (chủ yếu) trong phân tích địa điểm dân cư ở các vùng đô thị, giải thích các hình thái vị trí do đánh đổi giữa khả năng tiếp cận của một địa điểm tới trung tâm của vùng và không gian của địa điểm đó.
Accession Rate / Tỷ Lệ Gia Tăng Lao Động
Accession Rate là số lượng những người thuê mới mỗi tháng tính theo tỷ lệ phần trăm tổng số việc làm do Bộ lao động Mỹ thống kê.
Accepting House / Ngân Hàng Nhận Trả
Một trong số các NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI có trụ sở tại London, với mục đích thu tiền hoa hồng ngân hàng này nhận trả các hối phiếu, nghĩa là chấp nhận thanh toán chúng khi đáo hạn.
Accelerator Principle / Nguyên Lý Gia Tốc
Accelerator Principle là học thuyết cho rằng tổng mức đầu tư ròng phụ thuộc vào mức thay đổi dự kiến về sản lượng. Ở dạng đơn giản, nó có thể được diễn đạt như sau: It = a∆ Yt-1 + b Trong đó, a là hệ số gia tốc, ∆ là mức thay đổi, và ∆Yt-1 là mức thay đổi sản lượng trong năm trước. ∆Yt-1 do đó trở thành một sự thay thế cho mức thay đổi kỳ vọng về sản lượng, và b là đầu tư thay thế. Học thuyết giả định rằng các công ty cố gắng duy trì một tỷ lệ cố định giữa dung lượng tư bản mong muốn và sản lượng dự kiến. Ở dạng đơn giản, không có vai trò nào đối với tỷ lệ lãi suất, vì vậy nó là quan điểm cực đoan của Keynes về các nhân tố quyết định đầu tư. Ở dạng phức tạp hơn, tỷ số a bị ảnh hưởng bởi chi phí sử dụng vốn trong khi mức linh hoạt cao hơn được đưa vào những phiên bản đã có. Nguyên lý này đóng vai trò quan trọng trong việc giải thích chu kỳ kinh doanh, ví dụ thông qua các tác động qua lại giữa gia tốc - số nhân và trong học thuyết tăng trưởng kinh tế.
Accelerator Coefficient / Hệ Số Gia Tốc
Một bội số theo đó đầu tư mới sẽ tăng lên khi có sự thay đổi về sản lượng.
Acceleration Clause / Điều Khoản Tăng Tốc Độ Trả Nợ
Trong luật hợp đồng của Mỹ, điều khoản tăng tốc độ trả nợ là điều khoản qui định rằng tất cả các nghĩa vụ chính của hợp đồng sẽ tới hạn ngay khi có bất kì sự vi phạm hợp đồng nào. Điều khoản này hay xuất hiện trong các hợp đồng cầm cố, thế chấp, hoặc mua trả góp. Điều khoản tăng tốc độ trả nợ vạch ra những lý do mà người cho vay có thể yêu cầu được trả khoản nợ. Còn được gọi là "tăng tốc độ giao ước". Ví dụ: một người mua một ngôi nhà trị giá $100,000 trả góp trong vòng 10 tháng, mỗi tháng anh ta sẽ phải trả $11000 (cả lãi) vào ngày 15 của tháng đó. Giả sử anh ta đã trả được trong 7 tháng tương đương với $77000. Nếu đến tháng thứ 8, do có sự cố bất ngờ người mua nhà không trả được $11000 đúng hẹn, thì hoặc là anh ta phải làm cách nào đó thanh toán ngay lập tức toàn bộ số tiền còn thiếu là 110,000 - 77000 = $33000 để có ngôi nhà, hoặc là anh ta sẽ mất số tiền $77000. Điều khoản tăng tốc độ trả nợ thường được tìm thấy nhiều nhất trong các khoản vay thế chấp (Mortgage Loan) và vay bất động sản (real estate loan). Bởi các khoản cho vay thường có giá trị rất lớn, các khoản này giúp bảo vệ người cho vay từ các rủi ro vỡ nợ của bên vay. Điều khoản tăng tốc độ trả nợ thực ra là một điều khoản vô cùng khắc nghiệt, khi đưa vào hợp đồng nó có thể gây những tổn thất nặng nề cho các bên tham gia hợp đồng. Cũng vì những lý do đó mà nó làm cho các bên hết sức tuân thủ hợp đồng.
Là một điều khoản hợp đồng cho phép người cho vay yêu cầu bên vay trả tất cả hay một phần của dư nợ cho vay nếu các yêu cầu nhất định không được đáp ứng. Điều khoản tăng tốc độ trả nợ vạch ra những lý do mà người cho vay có thể yêu cầu được trả khoản nợ. Còn được gọi là "tăng tốc độ giao ước". Ví dụ, một người vay vốn không thể thanh toán hoặc phá vỡ giao ước có thể bị yêu cầu phải trả cho người cho vay số dư trên khoản vay. Trong trường hợp này, bên vay được coi là vi phạm hợp đồng. Điều khoản tăng tốc độ trả nợ thường được tìm thấy nhiều nhất trong các khoản vay thế chấp và bất động sản. Bởi các khoản cho vay thường có giá trị rất lớn, các khoản này giúp bảo vệ người cho vay từ các rủi ro vỡ nợ của bên vay.
Accelerating Inflation / Lạm Phát Gia Tốc
Sự tăng vọt tỷ lệ lạm phát. Nếu chính phủ cố giữ tỷ lệ thất nghiệp dưới mức tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên thì việc đó sẽ dẫn tới lạm phát gia tốc.
Accelerated Depreciation / Phương Pháp Khấu Hao Nhanh
Phương pháp khấu hao nhanh còn gọi là khấu hao gia tốc : Là Phương pháp tính khấu hao với số khấu hao lớn nhất ở năm đầu tiên sử dụng
Abstinence / Nhịn Chi Tiêu
Một thuật ngữ miêu tả sự cần thiết giảm bớt tiêu dùng hiện tại để tích luỹ tư bản
Absorption Costing / Chi Phí Hấp Thụ
Một phương pháp định chi phí đầy đủ (Full Costing), gán cả biến phí lẫn định phí sản xuất cho hàng hóa đã sản xuất trên cơ sở theo tỷ lệ, bất chấp hàng hóa bán được trong kỳ hiện hành. So sánh với Contribution costing (định chi phí biến hay tham phần) chỉ gán mọi định phí sản xuất cho hàng hóa đã bán trong kỳ hiện hành Phương pháp này tính vào giá thành SP những khoản mục 1. CP nguyên liệu trực tiếp 2. CP nhân công trực tiếp 3. CP SX chung Cả 3 mục này được xem là CP SPhẩm (Product costs) Ngoài ra các CP bán hàng, quản lý chung được xem là CP thời kỳ (Period costs).
Absorption Costing: là phương pháp mà theo đó tất cả các chi phí sản xuất, bao gồm cả chi phí thay đổi và cố định,được coi là chi phí sản phẩm với chi phí phi sản xuất, (ví dụ như chi phí bán hàng và hành chính, được coi là chi phí thời gian.) Một phương pháp định chi phí đầy đủ (Full Costing), gán cả biến phí lẫn định phí sản xuất cho hàng hóa đã sản xuất trên cơ sở theo tỷ lệ, bất chấp hàng hóa bán được trong kỳ hiện hành. So sánh với Contribution costing (định chi phí biến hay tham phần) chỉ gán mọi định phí sản xuất cho hàng hóa đã bán trong kỳ hiện hành Phương pháp này tính vào giá thành SP những khoản mục 1. CP nguyên liệu trực tiếp 2. CP nhân công trực tiếp 3. CP SX chung Cả 3 mục này được xem là CP SPhẩm (Product costs) Ngoài ra các CP bán hàng, quản lý chung được xem là CP thời kỳ (Period costs).
Absorption Approach / Phương Pháp Hấp Thụ
Absorption Approach là phương pháp phân tích tác động của sự phá giá hoặc giảm giá tỷ giá hối đoái của một nước đối với cán cân thương mại. Phương pháp này chú trọng mối quan hệ giữa sản phẩm quốc gia (Y) và sự hấp thụ quốc gia (A), trong đó sự hấp thụ quốc gia được định nghĩa là mức sử dụng hàng hóa để tiêu dùng và đầu tư của khu vực tư và công của một nền kinh tế. Cán cân thương mại (B) chỉ có thể dương (nghĩa là thặng dư) nếu Y vượt A. Do đó, ở dạng đơn giản nhất mối quan hệ này có thể được viết B = Y - A. Nếu phải cải thiện cán cân thương mại thì phá giá phải làm tăng Y so với A. Trong một nền kinh tế với các nguồn lực chưa sử dụng hết, điều này có thể đạt được vì tỷ giá giảm là động lực lớn hơn đối với Y hơn là so với A. Mặc dù vậy, khi toàn dụng nhân công, Y không thể tăng do đó B chỉ có thể được cải thiện nếu A giảm. Tính ưu việt của phương pháp này là nó thu hút sự chú ý vào sự cần thiết đối với hành động bổ trợ, ví dụ mức độ giảm phát nào đó nếu giảm tỷ giá là để cải thiện cán cân thương mại trong điều kiện toàn dụng nhân công.
Absolute Priority/Liquidation Preference / Quyền Ưu Tiên Thanh Toán
Absolute Priority/Liquidation Preference là quy tắc ưu tiên thanh toán qui định rằng trong những vụ phá sản, chủ nợ cấp cao (senior creditor) phải được thanh toán trước chủ nợ cấp thấp (junior creditor). Để tiến hành công việc kinh doanh, doanh nghiệp phải có vốn, ngoài nguồn vốn tự có doanh nghiệp còn có thể vay từ các chủ thể khác theo nhiều cách: vay tín dụng, phát hành trái phiếu, phát hành cổ phiếu... Đây cũng chính là những cách khác nhau để đầu tư vào một doanh nghiệp, đi kèm với nó là những hình thức thu lợi, mức độ tham gia quản lý khác nhau và rủi ro cũng khác nhau. Người cho vay tín dụng hưởng lãi suất, người mua trái phiếu hưởng trái tức còn người mua cổ phiếu hưởng cổ tức của công ty. Tuy nhiên tất cả các "chủ nợ" trên đây đều không thể tránh khỏi một rủi ro, đó là việc doanh nghiệp làm ăn thua lỗ dẫn đến phá sản, buộc phải thanh lý toàn bộ tài sản của mình để trả nợ. Theo qui tắc ưu tiên thanh toán, thứ được trả nợ sẽ là: người cho vay tín dụng, người nắm trái phiếu công ty, người nắm cổ phiếu ưu đãi và cuối cùng mới là các cổ đông (những người nắm cổ phiếu phổ thông). Có thể dễ dàng nhận thấy, những người càng tham gia nhiều vào quản lý doanh nghiệp thì thứ tự ưu tiên thanh toán càng thấp, vì khi đó vận mệnh của họ đã gắn bó chặt chẽ với vận mệnh doanh nghiệp.
Absolute Prices / Giá Tuyệt Đối
Giá đo bằng tiền ngược với với giá tương đối. Đó là giá của các hàng hoá, dịch vụ được biểu diễn trực tiếp dưới dạng số lượng của đơn vị tiền tệ. Xem Price
Absolute Physical Life - Economic Life / Thời Gian Sử Dụng Thực Tế - Thời Gian Sử Dụng Kinh Tế
Thời gian sử dụng thực tế của tài sản là khoảng thời gian sử dụng mà sau đó tài sản bị hư hỏng vật lý đến mức không còn sử dụng được nữa. Thời gian sử dụng kinh tế là khoảng thời gian để giá trị hiện tại thuần (NPV) đạt cực đại. Có thể coi việc mua mỗi tài sản giống như bỏ tiền vào một dự án đầu tư, khi NPV đạt cực đại tức là tài sản đó đã không còn khả năng tăng lợi ích kinh tế cho doanh nghiệp, hay nói cách khác là không còn giá trị kinh tế. Thời gian sử dụng kinh tế bao giờ cũng ngắn hơn thời gian sử dụng thực tế của tài sản do các nguyên nhân như sự lỗi thời về mặt kĩ thuật, sự hư hỏng vật lý, hay do nguyên nhân từ vòng đời sản phẩm. Ví dụ: Năm 2005 nhà máy cao su Sao Vàng nhập khẩu từ Nhật về một máy đổ khuôn chuyên dụng để sản xuất loại lốp X1 dùng cho máy bay A 350. Trên lý thuyết cỗ máy này có thể sử dụng 50 năm mới hỏng, khoảng thời gian 50 năm đó là thời gian sử dụng thực tế của cỗ máy. Tuy nhiên, giả sử đến năm 2020 hãng Airbus quyết định ngừng sản xuất model máy bay A350, lúc này tuy cỗ máy kia vẫn còn có thể sử dụng tốt nhưng Sao Vàng buộc phải bỏ đi vì sản phẩm do nó sản xuất ra không còn thị trường tiêu thụ. Như vậy thời gian sử dụng kinh tế của cỗ máy trên chỉ là 15 năm (có thể còn ít hơn). Trong kinh doanh người ta thường chú ý đến thời gian sử dụng kinh tế hơn là thời gian sử dụng thực tế của tài sản, ví dụ: khi tính khấu hao tài sản cố định. Xem thêm: NPV, tài sản, khấu hao
Absenteeism / Trốn Việc, Sự Nghỉ Làm Không Có Lý Do
Trốn việc, sự nghỉ làm không có lý do Sự nghỉ làm, mặc dù các điều khoản của hợp đồng lao động yêu cầu người lao động phải đi làm và hợp đồng vẫn còn giá trị.
Availability Effects / Các Hiệu Ứng Của Sự Sẵn Có
Availability Effects là các tác động của những thay đổi về số lượng tín dụng có sẵn, chứ không phải tác động thông qua giá, nghĩa là lãi suất.
Absentee Landlord / Địa Chủ Vắng Mặt
Một cá nhân hoặc tổ chức thuê hoặc cho thuê bất động sản của một bên khác, nhưng không cư trú tại đó. Địa chủ vắng mặt có thể là bất cứ ai, từ một nhà đầu tư địa phương đến một xí nghiệp, tập đoàn nước ngoài. Dù có quy mô hoạt động như thế nào, những người địa chủ này thường tìm cách để tạo ra thu nhập từ việc cho thuê bất động sản của họ. Các địa chủ vắng mặt có lượng bất động sản lớn thường sử dụng các công ty quản lý tài sản để duy trì tài sản của mình và thu lại các khoản tiền từ việc cho thuê bất động sản. Địa chủ vắng mặt là chuyện hết sức bình thường, chứ không phải là ngoại lệ, đối với tài sản thương mại. Thuật ngữ "địa chủ" ngụ ý rằng các bất động sản của cá nhân hoặc tổ chức có thể có quy mô khá lớn. Một địa chủ vắng mặt cũng có thể có một tầm nhìn dài hạn đối với các khoản đầu tư bất động sản, với khoản thu nhập liên tục từ việc cho thuê thay vì mục tiêu đầu tư ban đầu là nâng cao vốn.
Available Credit / Tín Dụng Có Sẵn
Tín dụng có sẵn là loại tín dụng sẵn sàng được dùng để mua mới một cái gì, đôi khi còn được gọi là mua để ngỏ. Trong lĩnh vực thẻ ngân hàng, có sự khác biệt giữa số cân đối chưa trả bình quân (average outstanding balance - số cân đối hiện hành bình quân) và mức giới hạn tín dụng đã được công nhận trước của người có thẻ. Ngoài ra, đây là phần chưa được sử dụng của mức tín dụng ngân hàng (line or credit).
Phần chưa sử dụng của một dòng tín dụng mở, chẳng hạn như một thẻ tín dụng hay một khoản vay quay vòng (ví dụ một dòng tín dụng thu được từ giá trị có sẵn của căn nhà). Tín dụng có sẵn là hiệu giữa hạn mức tín dụng và số tiền đã vay. Tín dụng có sẵn được coi là khoản tiền luôn sẵn sàng để rút ra hoặc chi trả trực tiếp. Tín dung sẵn có là một yếu tố quan trọng trong điểm tín dụng, cùng với mức tín dụng từ những người cho vay khác nhau. Tín dụng có sẵn ở mức hợp lý chứng tỏ rằng khách hàng đã thành công trong việc giữ hạn mức tín dụng trong quá khứ, và sử dụng lượng tín dụng có sẵn có quy củ.
Abscissa / Hoành Độ
Giá trị trên trục hoành (trục X) của một điểm trên đồ thị hai chiều.





