Automated Bond System - Abs / Sàn Giao Dịch Trái Phiếu Điện Tử New York
Hệ thống điện tử trên thị trường chứng khoán New York (NYSE, ghi lại các lệnh đặt mua và đặt bán đối với các loại trái phiếu, vốn ít được giao dịch sôi động như cổ phiếu, cho đến khi các lệnh đó được khớp hoặc bị huỷ. ABS tiến hành khớp các giao dịch đó căn cứ vào thứ tự ưu tiên theo giá và thời gian hết sức nghiêm ngặt. Do giá đặt mua và đặt bán các loại trái phiếu không thay đổi liên tục theo cung cầu trên thị trường nên các nhà đầu tư muốn tìm kiếm giá niêm yết sẽ gặp không ít khó khăn. Với việc tiến hành theo dõi các loại trái phiếu kém hoạt động này bằng phương tiện điện tử, thị trường chứng khoán New York có thể lưu trữ khá đầy đủ bảng tóm tắt giá các loại trái phiếu phòng trường hợp có nhà đầu tư nào đó quan tâm đến việc mua chúng. Trái phiếu giao dịch trên ABS được gọi tắt là trái phiếu ABS (ABS Bond). Có thể tìm được rất nhiều thông tin về các loại trái phiếu này tại http://www.nysedata.com/ . Cứ vào khoảng 8h tối hàng ngày (giờ Mỹ) lại có một file mới được cập nhật, trong đó chứa các thông tin về tất cả các mã trái phiếu được niêm yết.
Là hệ thống điện tử trên thị trường chứng khoán New York (NYSE), ghi lại các lệnh đặt mua và đặt bán đối với các loại trái phiếu không được giao dịch , cho đến khi các lệnh đó được khớp hoặc bị huỷ. Do giá đặt mua và đặt bán các loại trái phiếu không thay đổi liên tục theo cung cầu trên thị trường nên các nhà đầu tư muốn tìm kiếm giá niêm yết sẽ gặp không ít khó khăn. Với việc tiến hành theo dõi các loại trái phiếu kém hoạt động này bằng phương tiện điện tử, thị trường chứng khoán New York có thể lưu trữ khá đầy đủ bảng tóm tắt giá các loại trái phiếu phòng trường hợp có nhà đầu tư nào đó quan tâm đến việc mua chúng.
Automated Clearing House - Ach / Hãng Thanh Toán Bù Trừ Tự Động
Việc thanh toán dựa trên máy tính và phương tiện thanh toán, trao đổi các số ghi nợ và ghi có điện tử giữa các định chế tài chính. Các bút toán ACH có thể thay thế séc khi thanh toán định kỳ như thế chấp, hay trong phân phối tiền gửi trực tiếp của liên bang và các chi trả phúc lợi của công ty, gồm cả chi trả Anh sinh xã hội. Từ giữa những năm 1970, ACH đã vận hành như một hệ thống thanh toán bù trừ thống nhất, bao gồm các hiệp hội hãng thanh toán bù trừ tự động khu vực do các định chế tài chính sở hữu. Dù ACH được sử dụng rộng rãi trong những năm đầu như một hệ thống chi trả các khoản tiền cố định, các khoản thanh toán định kỳ, ACH đang dần dần được sử dụng như nhà xử lý thanh toán các khoản chi trả thương mại giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp. Xem CASH CONCENTRATION & DISBURSEMENT; CORPORATE TRADE EXCHANGE; CORPORATE TRADE PAYMENT; ELECTRONIC DATA INTERCHANGE; NET SETTLEMENT.
Automated Teller Machine - ATM / Máy Rút Tiền Tự Động ATM
Thiết bị đầu cuối máy vi tính được kích hoạt bằng thẻ từ mã hóa của ngân hàng, cho phép khách hàng gửi tiền, rút tiền mặt từ các tài khoản séc hay tiết kiệm, thanh toán hóa đơn, chuyển tiền giữa các tài khoản và thực hiện các giao dịch thông thường như với quầy giao dịch ở ngân hàng. Một vài máy ATM thanh toán đến tiền xu, chấp nhận tiền gửi không giới hạn và in báo cáo hàng tháng đối với các tài khoản ngân hàng thông thường. Một vài ngân hàng Mỹ lập trình cho máy của họ, giúp khách hàng ATM tiếp cận tất cả các dịch vụ sẵn có trên website của ngân hàng, sao chép website của ngân hàng trên màn hình ATM.
Accrued Expenses / Chi Phí Trích Trước, Chi Phí Phải Trả
VD: lương nhân viên đã ghi vào chi phí tháng trước nhưng thực tế vẫn chưa trả. Đến tháng sau khoản này sẽ được chuyển thành Accrual Expense. Nếu sau này trả khoản lương này cho nhân viên thì ghi "có" ở tài khoản này và "nợ" ở tiền mặt
Automatic Stabilizers / Các Biện Pháp Ổn Định Tự Động
Các biện pháp ổn định tự động là các mối quan hệ làm giảm biên độ của biến động chu kỳ trong một nền kinh tế mà không cần hành động trực tiếp của chính phủ.
Accrued Expenses / Chi Phí Phát Sinh (Tính Trước)
Thương mục trong tài khoản của một công ty được ghi như một khoản nợ của các dịch vụ đã sử dụng nhưng chưa được thanh toán.
Accrual Basis Accounting / Cơ Sở Dồn Tích
Accrual Basis Accounting là một trong các nguyên tắc kế toán cơ bản nhất chi phối các phương pháp kế toán cụ thể trong kế toán doanh nghiệp (DN). Theo đó, mọi giao dịch kinh tế liên quan đến tài sản, nợ phải trả, nguồn vốn chủ sở hữu, doanh thu và chi phí được ghi nhận tại thời điểm phát sinh giao dịch, không quan tâm đến thời điểm thực tế thu hoặc chi tiền. Vì việc ghi nhận doanh thu và chi phí có ảnh hưởng quyết định đến báo cáo lợi nhuận của DN trong một kỳ, cơ sở dồn tích được xem là một nguyên tắc chính yếu đối với việc xác định lợi nhuận của DN. Lợi nhuận theo cơ sở dồn tích là phần chênh lệch giữa doanh thu và chi phí; từ đó, báo cáo tài chính nói chung và báo cáo kết quả kinh doanh nói riêng được lập trên cơ sở dồn tích phản ánh đầy đủ (hay tuân thủ yêu cầu trung thực) các giao dịch kế toán trong kỳ và từ đó, cho phép tình trạng tài sản, nguồn vốn của một DN một cách đầy đủ, hợp lý. Hơn nữa, do không có sự trùng hợp giữa lượng tiền thu vào và doanh thu trong kỳ và tồn tại chênh lệch giữa chi phí ghi nhận và lượng tiền chi ra trong một kỳ, kế toán theo cơ sở dồn tích cho phép theo dõi các giao dịch kéo dài qua các kỳ khác nhau, như nợ phải thu, nợ phải trả, khấu hao, dự phòng,...
Automation / Tự Động Hoá
Trong khi được sử dụng theo nhiều cách, cụm thuật ngữ "tự động hoá" nói chung được coi là đồng nghĩa với việc thay thế lao động bằng quá trình tự động.
Autonomous Expenditure / Khoản Chi Tiêu Tự Định
Các khoản chi tiêu được coi là độc lập với mức thu nhập.
Accrual Basic Of Accounting / Kế Toán Trên Cơ Sở Phát Sinh
Kế toán trên cơ sở phát sinh là một phương pháp kế toán ghi chép thu nhập và chi phí trong một thời kỳ trên cơ sở tất cả các khoản thu và chi phát sinh trong kỳ đó không phân biệt đã thực thu, thực chi hay chưa. Nhìn chung, cơ sở kế toán này thường bắt buộc áp dụng khi lập báo cáo tài chính cho người ngoài doanh nghiệp để phù hợp với các nguyên tắc kế toán được chấp nhận chung (GAAPP).
Accrual Accounting / Phương Pháp Kế Toán Phát Sinh
Accrual Accounting là phương pháp kế toán phát sinh là phương pháp kế toán ghi nhận hoạt động và vị thế của công ty thông qua các nghiệp vụ kinh tế phát sinh trong doanh nghiệp. Kế toán ghi nhận tại thời điểm phát sinh nghiệp vụ dù nghiệp vụ ấy có giao dịch bằng tiền mặt hay không. Tính hợp lý của phương pháp này được giải thích qua nguyên tắc phù hợp giữa doanh thu và chi phí tại thời điểm giao dịch xảy ra hơn là tại thời điểm xảy ra sự thanh toán tiền giữa doanh nghiệp và người bán, người mua. Phương pháp này cũng cho phép các dòng tiền vào/ ra hiện tại có thể kết hợp với các dòng tiền vào/ ra trong tương lai nhằm đưa ra một bức tranh chính xác hơn về tình hình tài chính hiện tại của doanh nghiệp. Phương pháp kế toán phát sinh được xem là phương pháp thực hành kế toán tiêu chuẩn đối với hầu hết các doanh nghiệp. Phương pháp này cho thấy một bức tranh chính xác hơn về vị thế hiện tại của doanh nghiệp, khác với phương pháp kế toán tiền mặt chỉ ghi nhận giao dịch khi có giao dịch tiền mặt xảy ra. Càng ngày phương pháp này càng được ưa chuộng và thể hiện tính ưu việt hơn khi số lượng giao dịch của doanh nghiệp càng nhiều và càng phức tạp hơn. Nhu cầu sử dụng một phương pháp kế toán có thể phản ánh chính xác hơn tình hình tài chính của doanh nghiệp trở nên cấp thiết. Việc bán hàng chịu cho khách hàng cũng như với các dự án mà các dòng doanh thu sẽ trải dài qua một thời gian chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến tình hình tài chính công ty tại thời điểm giao dịch. Do đó, những hoạt động như vậy nên được phản ánh trên các báo cáo tài chính trong cùng thời gian báo cáo mà những giao dịch này xảy ra. Ví dụ, khi doanh nghiệp bán Tivi cho khách hàng sử dụng thẻ tín dụng, phương pháp kế toán tiền mặt và kế toán phát sinh sẽ ghi nhận sự kiện này khác nhau. Doanh thu bán Tivi sẽ chỉ được ghi nhận chừng nào doanh nghiệp nhận được tiền do khách hàng trả. Do vậy, nếu Tivi được mua dựa trên thẻ tín dụng, doanh thu này có thể sẽ không được ghi nhận mãi cho đến tháng sau hoặc năm sau. Tuy nhiên với góc nhìn của phương pháp kế toán phát sinh thì ghi nhận như phương pháp kế toán tiền mặt sẽ không chính xác bởi vì tuy doanh nghiệp chưa nhận được tiền mặt nhưng nghiệp vụ bán hàng đã xảy ra và đã hoàn tất. Do vậy, phương pháp kế toán phát sinh sẽ ghi nhận doanh thu ngay tại thời điểm quyển sở hữu cái Tivi được chuyển sang cho khách hàng. Thậm chí ngay cả khi tiền mặt chưa chuyển vào tài khoản ngân hàng của doanh nghiệp thì kế toán vẫn ghi nhận doanh thu trên tài khoản theo dõi “ các khoản phải thu”, và do đó vẫn phản ánh chính xác doanh thu hoạt động của doanh nghiệp
Accretion / Sự Tăng Giá Trị
Accretion là: 1. Tài sản tăng lên do được cộng thêm vào hoặc mở rộng. 2. Liên quan đến trái phiếu chiết khấu, nó thể hiện sự tích lũy giá trị cho đến ngày đáo hạn. Sự tăng trị xuất hiện do sự phát triển nội bộ của công ty hay qua sự sát nhập vào thâu tóm. Trái phiếu chiết khấu được bán dưới mệnh giá và có giá trị chuẩn tại kỳ đáo hạn. Trong khoảng thời gian giữa phát hành và kỳ đáo hạn của trái phiếu, không có khoản thêm nào được thực sự tích lũy, nhưng bản thân giá trị của nó vẫn tăng. (1) Là sự tăng tài sản thông qua thâu tóm, sát nhập và sự mở rộng nội bộ; (2) Sự chênh lệch giữa mệnh giá của trái phiếu và giá của trái phiếu được chiết khấu khi mua.
Autonomous Transactions / Giao Dịch Tự Định
Cụm thuật ngữ này được dùng trong học thuyết về CÁN CÂN THANH TOÁN để xác định những loại giao dịch diễn ra tự phát vì lý do lợi nhuận từ phía các hãng hoặc độ thoả dụng được tăng từ phía các cá nhân .
Thuật ngữ này được dùng trong học thuyết về cán cân thanh toán để xác định những loại giao dịch diễn ra tự phát vì lý do lợi nhuận từ phía các hãng hoặc độ thoả dụng được tăng từ phía các cá nhân.
Accounts Receivable / Khoản Phải Thu; Số Tiền Sẽ Thu Được
Accounts Receivable là khoản mà khách hàng (cá nhân hay công ty) phải trả cho một doanh nghiệp cho những sản phẩm hay dịch vụ đã được chuyển đến hay đã được sử dụng mà chưa được trả tiền. Các khoản phải thu thường dưới dạng tín dụng và thường trong thời gian ngắn, từ vài ngày cho đến 1 năm. Trong các bản cân đối của công ty đại chúng, khoản phải thu thường được ghi như một tài sản bởi nó thể hiện sự ép buộc pháp luật lên khách hàng để hoàn trả khoản nợ ngắn hạn của mình. Nếu một công ty có khoản phải thu, điều đó có nghĩa là nó đã bán hàng nhưng chưa thu được tiền. Hầu hết các công ty đều cho phép một phần lượng bán của mình dưới hình thức trả chậm. Hình thức bán hàng này thường được áp dụng cho một số khách hàng thường xuyên hay một số khách hàng đặc biệt được gửi hóa đơn định kỳ, và tránh được những rắc rối về thanh toán khi một giao dịch được thực hiện. Nói cách khác, đó là khi khách hàng ghi giấy nhận nợ (IOU) với công ty cho những sản phẩm hay dịch vụ đã nhận.
Accounts Payable - Ap / Khoản Phải Trả
Đây là một khoản mục kế toán thể hiện nghĩa vụ của doanh nghiêp phải trả toàn bộ số nợ ngắn hạn của mình cho các chủ nợ. Trong bảng cân đối kế toán, khoản phải trả được gọi là khoản nợ (liabilities) của doanh nghiệp. Cũng giống như tài sản, nợ của doanh nghiệp được chia làm nợ ngắn hạn và nợ dài hạn. Nợ dài hạn là các khoản nợ và các nghĩa vụ về mặt tài chính khác mà doanh nghiệp phải trả sau một khoảng thời gian từ một năm trở lên kể từ ngày lập bảng cân đối kế toán. Nợ ngắn hạn là các khoản nợ mà doanh nghiệp phải thanh toán trong khoảng thời gian từ 1 năm trở xuống. Nợ ngắn hạn bao gồm khoản phải trả (AP) và các khoản nợ dài hạn đến hạn trả. AP đôi khi cũng được sử dụng làm tên gọi của phòng ban hoặc bộ phận chịu trách nhiệm thanh toán các khoản nợ của doanh nghiệp cho các nhà cung cấp hoặc các chủ nợ khác. AP là khoản nợ phải trả trong một thời hạn nhất định để tránh việc vỡ nợ. Trong tài chính doanh nghiệp, khoản phải trả đề cập đến các khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp đối với nhà cung cấp và ngân hàng. Thuật ngữ AP không chỉ sử dụng giới hạn cho tài chính doanh nghiệp. Ở mức độ hộ gia đình chúng ta cũng sẽ phải chi trả các hoá đơn hàng hoá dịch vụ tiêu dùng hàng tháng. Ví dụ như tiền điện thoại, tiền ga, tiền nước. Mỗi công ty cung cấp dịch vụ sẽ cung cấp dịch vụ trước, hoá đơn thanh toán được gửi sau khi ta đã sử dụng. Mỗi khi có yêu cầu thanh toán các hoá đơn thì phải thanh toán ngay. Nếu cá nhân hoặc công ty mà không thanh toán hoá đơn của mình thì sẽ bị coi là vỡ nợ.
Autoregression / Tự Hồi Quy
SỰ HỒI QUY của một biến số trên giá trị hay các giá trị trễ của nó. Xem SERIAL CORRELATION AND ARIMA.
Accounting Theory / Học Thuyết Kế Toán; Nguyên Lý Kế Toán
HỌC THUYẾT KẾ TOÁN cố gắng để mô tả vai trò của kế toán và bao gồm bốn loại lý thuyết kế toán: quy nạp lý thuyết cổ điển, lý thuyết thu nhập, các lý thuyết hữu dụng quyết định, và kinh tế thông tin / cơ quan lý thuyết: a. Lý thuyết cổ điển quy nạp là cố gắng để tìm thấy các nguyên tắc quy trình kế toán hiện hành được; b. Lý thuyết thu nhập cố gắng để xác định lợi nhuận thực sự của một tổ chức; c. Quyết định lý thuyết hữu ích : cố gắng để mô tả kế toán như là một quá trình cung cấp các thông tin liên quan đến các quyết định của nhà sản xuất d. Kinh tế lý thuyết thông tin / cơ quan của kế toán coi thông tin kế toán như là một giao dịch giữa đại lý hợp lý,với các lợi ích đi kèm. Accounting Theory là các giả thuyết, phương pháp và khuôn khổ được sử dụng trong nghiên cứu và ứng dụng các nguyên tắc tài chính. Các nghiên cứu về lý thuyết kế toán liên quan đến việc đánh giá của hai nền tảng lịch sử của thông lệ kế toán, cũng như cách thức mà thông lệ kế toán được xác minh và bổ sung vào khuôn khổ pháp lý để quản lý các kê khai tài chính và báo cáo tài chính. Ngành học kế toán đã tồn tại từ Thế kỷ 15. Kể từ đó, cả doanh nghiệp và nền kinh tế đã phát triển rất nhiều. Nguyên lý kế toán là một môn học phát triển liên tục, vì nó phải thích ứng với cách thức kinh doanh mới, các tiêu chuẩn công nghệ mới và các lỗ hổng được phát hiện trong các cơ chế báo cáo. Các tổ chức như Ủy ban Chuẩn mực Kế toán Quốc tế giúp tạo ra các ứng dụng thực tế của nguyên lý kế toán và các chuyên gia như CPAs giúp các công ty điều hướng các chuẩn mực kế toán.
Accounting Standards Board / Uỷ Ban Chuẩn Mực Kế Toán
UỶ BAN CHUẨN MỰC KẾ TOÁN chịu trách nhiệm soạn thảo, cải tiến, sửa đổi và thu hồi các chuẩn mực kế toán. Nhiều Uỷ ban Chuẩn mực kế toán chuyên về nhiều lĩnh vực khác nhau hoặc các vấn đề kế toán khác nhau.
Accounting Ratio / Chỉ Số Kế Toán
Accounting Ratio là chỉ số kế toán, kết quả của việc chia hai chỉ tiêu báo cáo tài chính (Chỉ tiêu kế toán) cho nhau. Các chỉ số kế toán giúp các nhà phân tích hiểu các báo cáo tài chính qua việc tập trung vào các mối quan hệ cụ thể.
Accounting Period / Kỳ Kế Toán
Accounting Period là kỳ kế toán hay còn gọi là niên độ kế toán: là ngày bắt đầu và kết thúc niên độ kế toán do chế độ kế toán từng quốc gia quy định. Theo Luật kế toán Việt Nam (2003), kỳ kế toán năm đối với hầu hết các đơn vị hạch toán tính theo năm dương lịch. Trong một số trường hợp đặc biệt( doanh nghiệp mới thành lập, tổ chức lại doanh nghiệp, các doanh nghiệp có vốn đầu tư từ nước ngoài....), đơn vị có thể áp dụng kỳ kế toán khác với năm dương lịch.
Kỳ Kế Toán (Accounting Period) là một thuật ngữ trong tài chính. Nó mô tả khái niệm, cơ chế hoặc quy trình cụ thể, được sử dụng trong phân tích, định giá, giao dịch và quản trị rủi ro. Ví dụ: Kỳ Kế Toán (Accounting Period) có thể dùng trong phân tích báo cáo tài chính hoặc định giá doanh nghiệp, tùy ngữ cảnh. Ứng dụng: hỗ trợ lập báo cáo, phân tích, thẩm định và ra quyết định tài chính. Khi áp dụng, cần lưu ý đến bối cảnh pháp lý và thị trường để hiểu đúng.





