Thuật Ngữ Kinh Tế

A B C D E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Z Tất cả

Assets Motives / Những Động Cơ Tài Sản

Assets Motives là những động cơ tài sản, tên được đặt cho câu hỏi liệu việc kết nối một biến chính sách, ví dụ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ một cách duy nhất để đạt được một mục tiêu chính sách, ví dụ cán cân thanh toán quốc tế dưới các chế độ về tỷ giá HỐI ĐOÁI có thể được hay không. Kết luận là không thể làm được như vậy.

Những Động Cơ Tài Sản (Assets Motives) là một thuật ngữ quan trọng trong tài chính – kinh tế, mô tả cơ chế, quy trình hoặc khái niệm liên quan đến đầu tư, quản trị và phân tích dữ liệu tài chính. Ví dụ: Những Động Cơ Tài Sản (Assets Motives) thường được dùng trong phân tích báo cáo tài chính, lập kế hoạch đầu tư hoặc đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh. Ứng dụng: hỗ trợ lập kế hoạch tài chính, quản lý rủi ro và ra quyết định chiến lược. Khi sử dụng, cần lưu ý ngữ cảnh và mục tiêu để đảm bảo hiểu đúng và áp dụng chính xác.

Active Management / Quản Trị Năng Động

Active Management là quản trị năng động, đề cập đến nhân tố con người như các nhà quản trị đơn lẻ hoặc các nhà đồng quản trị hoặc một đội ngũ quản trị quản lý danh mục đầu tư của quỹ một cách năng động. Các nhà quản trị năng động dựa trên các nghiên cứu phân tích, dự báo và đưa ra các phán đoán của riêng mình. Họ cũng dựa vào các kinh nghiệm đầu tư để xem xét nên mua, bán, hay nắm giữ loại chứng khoán nào. Ngược lại của quản trị năng động là quản trị thụ động, đại diện của quản trị thụ động thường thấy nhất là đầu tư theo chỉ số. Nhà đầu tư nào tin vào quản trị năng động sẽ không tin vào lý thuyết thị trường hiệu quả. Họ tin rằng họ có thể kiếm được lợi nhuận từ thị trường chứng khoán thông qua các chiến lược tìm kiếm các chứng khoán đang bị định giá không đúng.Các công ty đầu tư (nhà tài trợ quỹ) những ai tin rằng họ có khả năng đánh bại được thị trường thường sẽ thuê một đội ngũ các nhà quản lý đầu tư chuyên nghiệp để quản trị một hoặc nhiều quỹ hỗ tuơng của công ty. Mục tiêu của quản trị năng động nhằm tạo ra tỷ suất sinh lợi tốt hơn các quỹ chỉ số được quản lý thụ động. Ví dụ, nếu bạn là nhà quản lý quỹ cổ phiếu có giá trị vốn hóa thị trường lớn, bạn sẽ muốn đánh bại chỉ số S&P500. Không may, đối với phần lớn các nhà quản trị năng động, điều này dường như là” điệp vụ bất khả thi”. Hiện tượng này đơn giản là sự phản ánh mức độ khó khăn của việc đánh bại lại thị trường cho dù các nhà quản trị có thông minh đến như thế nào đi chăng nữa

Assisted Areas / Vùng Được Hỗ Trợ

Assisted areas có nghĩa là: Các vùng được hỗ trợ. Là các vùng trong một nước mà ở đó hoạt động kinh tế được hỗ trợ bởi chính sách chi tiêu và thuế của chính phủ, những chính sách này không được áp dụng ở những vùng không được hỗ trợ. Việc thực hiện những chính sách như vậy được gọi là chính sách khu vực. Ở Anh, những vùng này thường được chỉ rõ do có tỷ lệ thất nghiệp cao hơn rõ rệt so với mức trung bình của quốc gia. Các tiêu chí khác có thể là thu nhập trên đầu người hay tỷ lệ tăng trưởng kinh tế. Các vùng được trợ giúp hình thành ở Anh năm 1934 với tên gọi "Khu vực đặc biệt", sau đó lần lượt được tổ chức lại và mở rộng thành các "Khu phát triển". Năm 1984 được cơ cấu lại thành hai cấp là các vùng phát triển và các vùng trung gian. Đến tháng 4 năm 1988, Bộ Thương mại và Công nghiệp (DTI) bãi bỏ trợ cấp phát triển khu vực, và chỉ hỗ trợ nếu không có nó thì đầu tư không thể diễn ra.

Association Of Chartered Certified Accountants - ACCA / Hiệp Hội Các Kế Toán Viên Được Chứng Nhận Đủ Tiêu Chuẩn Hành Nghề

ACCA (the Association of Chartered Certified Accountants) là tên viết tắt của một tổ chức lớn đào tạo chuyên ngành về kế toán và cung cấp dịch vụ kế toán được thừa nhận rộng rãi: Hiệp hội các kế toán viên được chứng nhận đủ tiêu chuẩn hành nghề. Hiện ACCA có quy mô hoạt động toàn cầu, và có nhiệm vụ bao trùm là đào tạo cấp chứng chỉ uy tín cho người muốn hành nghề kế toán trong doanh nghiệp, cũng như người muốn nghiên cứu tài chính hay các vấn đề cốt yếu của quản trị doanh nghiệp. Được thành lập từ năm 1904 và có trụ sở chính tại Vương quốc Anh, quá trình tồn tại và phát triển của ACCA đã hơn 100 năm, đào tạo ra nhiều thế hệ và chứng chỉ hành nghề của họ đã được thử thách qua thời gian và thị trường. ACCA còn có tham vọng viết ra những chuẩn mực nghề nghiệp về kế toán và tài chính, dựa trên các đánh giá của họ về nhu cầu và tiến triển kinh doanh trong tương lai. Theo thống kê của chính ACCA thì họ có hơn 122.000 thành viên chính thức và 325.000 người theo học tại 170 quốc gia và vùng lãnh thổ. Mạng lưới của ACCA có 80 văn phòng và trung tâm đào tạo. Những nơi này có nhiệm vụ cung cấp tài liệu, hướng dẫn, đào tạo và cung cấp điểm thi đủ chuẩn. ACCA công nhận khoảng 50 đối tác đào tạo và hành nghề kế toán đủ chuẩn toàn cầu, đồng thời cũng phục vụ các công ty MNCs/TNCs là khách hàng sử dụng "sản phẩm" của ACCA. Ở Việt Nam, tính tới tháng 6/2008, có khoảng 300 người được công nhận là hội viên của ACCA. Bằng, chứng chỉ kế toán của ACCA được chia làm các loại khác nhau: ACCA- CAT, ACCA- Professional và Dip FM. Loại ACCA- CAT (Certified Accounting Technician) là chứng chỉ "kế toán viên được xác nhận" ở mức thấp hơn kế toán, chủ yếu làm các công việc đơn giản hơn của một kế toán thông thường, công việc chính là ghi chép các thông tin kế toán để từ đó, kế toán tổng hợp và làm báo cáo. Loại ACCA- Professional thường được gọi tắt là ACCA. Đây là loại bằng "kế toán kiểm chứng" và được cấp bởi Hiệp hội kế toán Hoàng gia Anh. Những người đã học xong ACCA có đủ điều kiện làm việc trong nghạch kế toán, kiểm toán và có được kiến thức kế toán ở mức độ cao nhất. Loại Dip FM (Diploma in Financial Management) là chứng chỉ về quản lý tài chính, dành cho những nhà quản lý nhưng chưa có nhiều kiến thức về kế toán cũng như quản lý tài chính ở doanh nghiệp. Đây là một khoá học ngắn hạn, chỉ trong một năm để giúp nhà quản lý có những kiến thức cơ bản nhất.

Active Balance / Dư Ngạch

Trong lý thuyết tiền tệ, một vài mô hình giả thiết chia một cung ứng tiền tệ thành DƯ NGẠCH, đó là tiền dự trữ được đưa vào quay vòng trong các thời kỳ được xác định bởi các khoảng thời gian giữa các kỳ thanh toán, và NGẠCH NHÀN RỖI là tiền dự trữ không được sử dụng để thanh toán thường xuyên.

Association Of International Bond Dealers / Hiệp Hội Những Người Buôn Bán Trái Khoán Quốc Tế

Association Of International Bond Dealers là hiệp hội những người buôn bán trái khoán quốc tế, là cơ quan thành lập năm 1969, thu thập và cho niêm yết lợi nhuận và báo giá thị trường hiện hành với các loại phát hành của trái khoán châu Âu.

Association Of South East Asian Nations - ASEAN / Hiệp Hội Các Nước Đông Nam Á

ASEAN (Association Of South East Asian Nations) - Hiệp Hội Các Nước Đông Nam Á là hiệp hội được các Bộ trưởng ngoại giao Indonesia, Malaysia, Phillipines, Singapore và Thái Lan thành lập năm 1967. Mục đích chung của hiệp hội là thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tiến bộ xã hội và phát triển văn hoá ở khu vực Đông Nam Á.

Active Account / Tài Khoản Hoạt Động

Tài chính và đầu tư: Tài khoản ở ngân hàng hay công ty môi giới thực hiện nhiều giao dịch. Một tài khoản hoạt động tích cực có thể sinh nhiều chi phí cho mỗi séc được viết hay giao dịch ATM được thực hiện. Một tài khoản môi giới hoạt động tích cực sẽ tạo nhiều tiền hoa hồng cho công ty môi giới hơn là một tài khoản không hoạt động. Ngân hàng thường xuyên phải áp đặt những mức phí tối thiểu để duy trì một tài khoản chi phiếu hay tài khoản tiết kiệm. Nhiều công ty môi giới phải thu phí nếu một tài khoản không đạt được mức độ hoạt động cần thiết. Nếu một tài khoản không có hoạt động gì trong 5 năm hay nhiều hơn, tất cả tài sản của tài khoản sẽ chuyển về cho nhà nước. Tài chính và đầu tư: Tài khoản ở ngân hàng hay công ty môi giới thực hiện nhiều giao dịch. Một tài khoản hoạt động tích cực có thể sinh nhiều chi phí cho mỗi séc được viết hay giao dịch ATM được thực hiện. Một tài khoản môi giới hoạt động tích cực sẽ tạo nhiều tiền hoa hồng cho công ty môi giới hơn là một tài khoản không hoạt động. Ngân hàng thường xuyên phải áp đặt những mức phí tối thiểu để duy trì một tài khoản chi phiếu hay tài khoản tiết kiệm. Nhiều công ty môi giới phải thu phí nếu một tài khoản không đạt được mức độ hoạt động cần thiết. Nếu một tài khoản không có hoạt động gì trong 5 năm hay nhiều hơn, tất cả tài sản của tài khoản sẽ chuyển về cho nhà nước.

Assumable Mortgage / Cầm Cố Có Thể Sang Tay

Cầm cố cho phép người vay quyền chuyển nhượng số dư chưa thanh toán, mà không thanh toán trước tiền phạt, cho người khác khi bán tài sản được cầm cố. Người mua chấp nhận thanh toán khoản vay với cùng lãu suất và các điều khoản cho khoản nợ cầm cố còn lại, và người bán vẫn còn nghĩa vụ pháp lý thứ cấp đối với món nợ. Xem ASSUMPTION; DUE-ON-SALE CLAUSE.

Action Lag / Độ Trễ Của Hành Động

Action Lag là mức độ trễ giữa việc quyết định một chính sách (đặc biệt trong kinh tế học vĩ mô) và việc thực hiện chính sách đó.

Assumed Interest Rate - Air / Lãi Suất Giả Định

Mức lãi suất hoặc tỷ lệ tăng trưởng được công ty bảo hiểm lựa chọn. Lãi suất giả định được xác lập phục vụ cho việc xác định giá trị của hợp đồngniên kim, đồng thời xác định khoản thu nhập định kỳ phải trả cho người hưởng niên kim. Kết hợp với các yếu tố khác như tuổi của người hưởng niên kim, chọn lựa người thừa hưởng niên kim (vợ hoặc chồng), loại hình niên kim mà người đó chọn, AIR quyết định khoản tiền trả hàng tháng người hưởng niên kim sẽ được nhận. Nói cách khác, AIR là lãi suất tối thiểu phải thu được trong khi đầu tư vào tài khoản giá trị tiền mặt người được bảo hiểm nhằm mục đích trang trải chi phí của công ty và biên lợi nhuận. AIR lớn sẽ đảm bảo thu nhập từ thị trường cho công ty bảo hiểm cũng như khoản thu nhập hàng tháng cho người hưởng niên kim.

Acting In Concert / Thông Đồng Đầu Tư Trên Thị Trường Chứng Khoán

Hai hay một nhóm các nhà đầu tư thông đồng để cùng đạt một mục tiêu đầu tư. Chẳng hạn, họ cùng mua để đạt phần lớn cổ phần cần thiết của công ty mà họ muốn nắm quyền kiểm soát. Những nhà đầu tư này phải báo cho các cơ quan quản lý biết nếu họ có ý định loại trừ thành phần lãnh đạo công ty mà họ muốn tiếp thu hay có ý định nắm quyền kiểm soát công ty. Hành động này là bất hợp pháp nếu như họ thông đồng để lôi kéo giá chứng khoán lên (hoặc xuống) để hưởng lợi.

Acting In Concert là một thuật ngữ tiếng lóng được dùng khi các bên thực hiện các hoạt động đầu tư giống hệt nhau để đạt được cùng một mục tiêu. Hoạt động thông đồng này đòi hỏi sự hợp tác của mọi người hoặc các tập đoàn để thực hiện các giao dịch tương tự nhau dựa trên thỏa thuận trước đó. Hoạt động thông đồng đầu tư trên thị trường chứng khoán thường được kiểm chứng trong các hoạt động mua lại. Các nhà đầu tư thường được yêu cầu phải công bố bất kỳ ý định kiểm soát nào hoặc đặt chào mua sau khi mua một tỷ lệ cổ phần cụ thể trong một công ty. Tuy nhiên, một số người có thể cố gắng phân bổ tỷ lệ sở hữu cho các đối tác thân thiết nhằm tránh hoạt động công bố hoặc mua vào thêm. Các nhà quản lý đã xác định rằng nếu các nhà đầu tư đang thông đồng đầu tư trên thị trường chứng khoán và tổng số quyền sở hữu vượt quá tỷ lệ phần trăm được chỉ định, nhóm nhà đầu tư đó phải công bố các mục đích của mình.

Across-The-Board Tariff Changes / Thay Đổi Thuế Quan Đồng Loạt

Một tình huống khi tất cả thuế quan của một nước được tăng hoặc giảm theo tỷ lệ phần trăm ngang bằng.

Assumption / Đảm Nhận

Điều khoản cầm cố quy định các điều kiện có thể dùng để chuyển khoản cầm cố cho bên khác. Nói chung, một khoản cầm cố không thể được chuyển với cùng lãi suất và kỳ hạn, mà không có văn bản chấp nhận của người cho vay. Xem ASSUMABLE MORTGAGE.

Assymétrie D’Information – Asymetric Information / Thông Tin Không Cân Xứng

Đây là thuật ngữ được sử dụng trong trường hợp một cá nhân (tổ chức) nắm bắt được nhiều thông tin hơn một cá nhân (tổ chức) khác về một hàng hóa, hoặc về tình trạng tự nhiên (état de la nature) và nó dẫn đến việc hạn chế hoặc thậm chí ngăn cản việc giao dịch giữa hai cá nhân (tổ chức). Một ví dụ điển hình về thông tin không cân xứng là mối quan hệ giữa người bảo hiểm và người được bảo hiểm. Trong ví dụ này, người được bảo hiểm có thông tin đầy đủ hơn người bảo hiểm về những đặc tính riêng của bản thân người được bảo hiểm (hay say rượu, nghiện saga chẳng hạn).   Thông tin không cân xứng là nguồn gốc của hai hiện tượng chúng ta thường gặp là lựa chọn nghịch (antisélection - adverce selection) – trong hiện tượng này chúng ta rơi vào tình trạng  thông tin không cân xứng trước khi quyết định và rủi ro đạo đức (risque moral - moral hazard) – còn hiện tượng này là sau khi đã quyết định và trong hai hiện tượng này đối tượng nắm bắt ít thông tin hơn luôn thiệt thòi. Thông tin không cân xứng còn là một trong những yếu tố gây ra sự không hiệu quả vì nó có thể dẫn đến việc các giao dịch có lợi cho đôi bên không được thực hiện. Thông tin không cân xứng cũng đóng vai trò then chốt trong Lý thuyết trò chơi (théorie des jeux -  game theory) trong trường hợp thông tin không đầy đủ (information incomplète – incomplet information) khi mà chỉ riêng một số người chơi biết được những thông tin liên quan đến những đặc tính của họ trong khi những người khác chỉ dựa trên những thông tin chung và niềm tin.  Đây có thể nói là một trong những khái niệm và chủ đề rất được quan tâm của kinh tế học cũng như quản trị.

Asymmetric Information / Thông Tin Bất Cân Xứng

Ba dạng thất bại của thị trường được nhắc đến là: Các ngoại ứng (Externalities), hàng hóa công cộng (Public good), thông tin không đối xứng (Asymmetric Information) Thông tin không đối xứng, hay còn gọi là thông tin bất cân xứng là việc các bên tham gia giao dịch cố tình che đậy thông tin. Khi đó, giá cả không phải là giá cân bằng của thị trường mà có thể quá thấp hoặc quá cao. Ví dụ: khi người mua không có những thông tin xác thực, đầy đủ và kịp thời nên trả giá thấp hơn giá trị đích thực của hàng hóa, hậu quả là người bán không có động lực để sản xuất hoặc cung cấp những hàng hóa có chất lượng thấp hơn chất lượng trung bình trên thị trường. Lý thuyết thông tin bất cân xứng (Asymmetric Information) lần đầu tiên xuất hiện vào những năm 1970 và đã khẳng định được vị trí của mình trong nền kinh tế học hiện đại bằng sự kiện năm 2001, các Ba dạng thất bại của thị trường được nhắc đến là: Các ngoại ứng  (Externalities), hàng hóa công cộng (Public good), thông tin không đối xứng (Asymmetric Information).Thông tin không đối xứng, hay còn gọi là thông tin bất cân xứng là việc các bên tham gia giao dịch cố tình che đậy thông tin. Khi đó, giá cả không phải là giá cân bằng của thị trường mà có thể quá thấp hoặc quá cao. Ví dụ: khi người mua không có những thông tin xác thực, đầy đủ và kịp thời nên trả giá thấp hơn giá trị đích thực của hàng hóa, hậu quả là người bán  không có động lực để sản xuất hoặc cung cấp những hàng hóa có chất lượng thấp hơn chất lượng trung bình trên thị trường.Lý thuyết thông tin bất cân xứng (Asymmetric Information) lần đầu tiên xuất hiện vào những năm 1970 và đã khẳng định được vị trí của mình trong nền kinh tế học hiện đại bằng sự kiện năm 2001, các nhà khoa học nghiên cứu lý thuyết này là George Akerlof, Michael Spence và Joseph Stiglitz cùng vinh dự nhận giải Nobel kinh tế. Trải qua hơn hai thập kỷ, lý thuyết về thị trường có thông tin bất cân xứng đã trở nên vô cùng quan trọng và là trọng tâm nghiên cứu của kinh tế học hiện đại. Thông tin bất cân xứng càng trở nên phổ biến và trầm trọng khi tính minh bạch của thông tin, khả năng tiếp cận thông tin và cơ sở hạ tầng thông tin yếu kém.Đối với các nền kinh tế mới nổi, thông tin không đối xứng có những ảnh hưởng rất lớn. Ví dụ: thị trường chứng khoán Việt Nam có những hiện tượng thông tin không đối xứng như: Ngoài các thông tin bắt buộc theo luật định phải công bố thì các doanh nghiệp không chủ động cung cấp thông tin đầy đủ, kịp thời Có hiện tượng rò rỉ thông tin chưa hoặc không được phép công khai. Doanh nghiệp cung cấp thông tin không công bằng đối với các nhà đầu tư: ưu tiên cung cấp thông tin cho các nhà đầu tư chiến lược, các nhà đầu tư tổ chức mà không công bố rộng rãi Hiện tượng lừa đảo Việc tung tin đồn thất thiệt. Các cơ quan truyền thông cung cấp thông tin sai lệch, không đầy đủ

Đây là một tình huống khi một bên tham gia giao dịch có nhiều thông tin hơn hoặc vượt trội hơn so với bên còn lại. Điều này thường xảy ra trong các giao dịch mà người bán biết nhiều thông tin hơn người mua, mặc dù điều ngược lại cũng có thể xảy ra. Có khả năng, đây có thể là một tình huống có hại vì một bên tham gia có thể lợi dụng sự thiếu hiểu biết của bên còn lại. Với những tiến bộ trong công nghệ, thông tin bất cân xứng có xu hướng suy giảm do số người có thể dễ dàng truy cập tất cả các loại thông tin ngày càng nhiều.Thông tin bất cân xứng có thể dẫn đến hai vấn đề chính:1. Lựa chọn bất lợi - là hành vi vô đạo đức, lợi dụng thông tin bất cân xứng trước một giao dịch. Ví dụ, một người không có sức khỏe tối ưu có thể có xu hướng mua bảo hiểm nhân thọ nhiều hơn so với người không có gì bất thường.2. Rủi ro đạo đức - là hành vi vô đạo đức lợi dụng thông tin bất cân xứng sau một giao dịch. Ví dụ, nếu ai đó sử dụng bảo hiểm hỏa hoạn, họ có thể có nhiều khả năng phạm tội cố ý gây hỏa hoạn để được nhận lợi ích từ hợp đồng bảo hiểm này.

Across The Board / Cùng Hướng, Toàn Diện

Trong lĩnh vực tài chính rất hay xuất hiện cụm từ "across the board", đây là thuật ngữ chỉ sự biến chuyển hoặc xu hướng của thị trường chứng khoán có ảnh hưởng đến hầu hết chứng khoán theo cùng một hướng. Khi thị trường tăng toàn bộ thì tất cả chứng khoán cũng đều tăng theo, và ngược lại khi thị trường giảm thì toàn bộ các loại chứng khoán cũng giảm giá. Hiện tượng trên thường gây ra bởi các sự kiện lớn có tầm ảnh hưởng lên toàn bộ thị trường. Ví dụ: sau sự kiện 11/9/2001, hầu như toàn bộ các cổ phiếu trên thị trường chứng khoán phố Wall đều sụt giá, đó là hiện tượng sụt giá toàn diện (down across the board). Có người cho rằng thành ngữ Across the Board xuất xứ từ môn đua ngựa, nơi mà người ta có một tấm bảng để ghi tên 3 con ngựa về nhất, nhì, và ba. Nếu người cá ngựa muốn chắc ăn thì đánh cá cả 3 con, tức là đánh cá Across the Board. Vì thế thành ngữ này có nghĩa là tất cả mọi thể loại, không có trường hợp ngoại lệ. Một ý kiến khác được nêu lên lại cho rằng thuật ngữ này xuất phát từ thị trường chứng khoán New York, nơi có một tấm bảng điện tử hiển thị giá tất cả các cổ phiếu niêm yết, vì vậy khi hầu hết giá các cổ phiếu tăng hay giảm, người ta gọi đó là biến động giá "trên toàn bảng" (across the board).

Asymmetric Infornation / Thông Tin Bất Đối Xứng; Thông Tin Không Tương Xứng

Sự khác nhau về thông tin mà các bên tham gia giao dịch trên thị trường có được. Xem INSIDER - OUTSIDER MODELS.

Asymptote / Đường Tiệm Cận

Giá trị mà biến phụ thuộc của một hàm tiến đến khi biến tự do trở nên rất lớn hoặc rất nhỏ.

Asymptotic Distribution / Phân Phối Tiệm Cận

PHÂN PHỐI XÁC XUẤT mà một biến THỐNG KÊ hướng tới khi kích thước của mẫu tiến tới vô cùng. Khái niệm rất hữu ích trong đánh giá các đặc thù của chọn mẫu trong kinh tế lượng.

Chuột không dây Ugreen M751 với con lăn vô cực Máy chơi game retro Powkiddy X55