At Limit / Theo Giá Giới Hạn
Theo thuật ngữ này thì, nhà đầu tư chỉ thị cho broker mua hay bán chứng khoán hay hàng hoá theo giá ấn định. Theo giao dịch mua bán với giá giới hạn (At - limit transaction), nhà đầu tư cũng cho biết thời hạn để broker mua bán trong một thời gian được xác định cụ thể (1 hoặc 2 ngày).
At Risk / Có Nguy Cơ Rủi Ro
Cho thấy có nguy cơ thua lỗ. Những thành viên chịu trách nhiệm hữu hạn có thể đòi quyền được khấu trừ thuế chỉ khi nào họ có thể chứng minh rằng họ có thể nhận biết những những điều ít người biết về lợi nhuận và thua lỗ trong đầu tư. Không thể thực hiện được khấu trừ nếu thành viên góp vốn không được thông báo đầy đủ về rủi ro kinh tế. Ví dụ, nếu thành viên chủ chốt bảo đảm sẽ trả lại toàn bộ vốn cho thành viên góp vốn dù cho việc kinh doanh mạo hiểm sẽ thua lỗ. Xem thêm: Limited partnership.
At The Close / Thời Điểm Đóng Cửa TTCK
At the close tức: Thời điểm đóng của TTCK At the close dùng để chỉ lúc đóng cửa thị trường chứng khoán. Vào thời điểm này, Broker không bảo đảm các lệnh mua và bán chứng khoán trong 30 giây cuối của một vụ mua bán tại TTCK sẽ thực hiện được giao dịch.
At The Money / Hoà Vốn
Đề cập trường hợp giá thực thi của một hợp đồng quyền chọn gần bằng với giá thị trường hiện hành của hợp đồng kỳ hạn hay chứng khoán cơ sở. Xem IN THE MONEY; OUT OF THE MONEY.
At The Opening / Thời Điểm Mở Cửa Ttck
Ngược lại với Thời điểm đóng cửa TTCK là Thời điểm mở cửa TTCK - At the opening. Tại thời điểm mở cửa, lệnh của khách hàng đưa cho broker để mua hay bán chứng khoán theo giá lúc thị trường mở cửa, nếu lệnh không được thực hiện vào lúc này thì sẽ tự động huỷ bỏ.
ATM Card / Thẻ ATM
Thẻ ATM là một loại thẻ đạt tiêu chuẩn ISO 7810, phát hành bởi một ngân hàng, liên hiệp tín dụng hay hiệp hội nhà ở. Thẻ được sử dụng tại: Máy ATM để gửi tiền, rút tiền, xem thông tin tài khoản, và các dạng giao dịch khác, thường là qua mạng lưới các ngân hàng. Tại một chi nhánh, được sử dụng để xác nhận những giao dịch trực tiếp. Không giống như thẻ ghi nợ, một thẻ ATM chỉ có thể được sử dụng cho những giao dịch trực tiếp (không qua điện thoại, fax hay Internet), bởi nó yêu cầu sự xác nhận qua số nhận dạng cá nhân hay còn gọi là PIN. Tại những quốc gia không có thẻ ghi nợ (debit card) rõ ràng, một thẻ ATM cũng được gọi là "debit card".
Atomistic Competition / Cạnh Tranh Độc Lập
Một cơ cấu thị trường trong đó số lượng các hãng rất lớn, do đó mỗi hãng cạnh tranh một cách độc lập. (Xem PERFECT COMPETITION).
Attachment / Tịch Biên Tài Sản
Lệnh (trát) cho phép thu giữ tài sản sau khi tòa án chấp thuận án xử thắng cho chủ nợ. Sau khi tòa tuyên án, chủ nợ phải có giấy cho phép thi hành tài sản, được thu giữ tài sản cá nhân, như các tài khoản ngân hàng, thuộc thẩm quyền địa phương (thường là đô thị hay quận mà người vay cư ngụ) 2. Quyền giữ tài sản thế chấp của chủ nợ, quyền này cho phép thu giữ tài sản của người vay để đổi lấy khoản vay hay tạm ứng theo hạn mức tín dụng. Xem SECURITY INTEREST.
Một thuật ngữ pháp lý đề cập đến hành động tịch thu tài sản dựa trên việc dự tính trước các phán quyết có lợi cho bên nguyên đơn, người đòi tiền nợ từ bên bị đơn. Đây là một quy trình sơ bộ, có nghĩa là tài sản bị tịch thu trước khi phán quyết cuối cùng được đưa ra. Việc tịch thu có thể xem là không hợp pháp nếu phán quyết của tòa án ủng hộ bên bị đơn. Thông thường bất động sản, xe cộ hoặc tài khoản ngân hàng sẽ bị tịch thu trong các trường hợp này. Thẩm phán sẽ tịch thu các tài sản này khi có khả năng cao là nguyên đơn sẽ thắng kiện còn bị đơn sẽ bỏ trốn và không thể chi trả chi phí tòa án. Tuy nhiên nếu việc tịch biên tài sản được xác nhận là không cần thiết, tòa án phải trả lại cho bị đơn một khoản tiền bảo lãnh để bù đắp mọi thiệt hại mà quá trình tịch thu gây ra.
At-The-Close Order / Lệnh Giao Dịch Tại Mức Giá Đóng Cửa, Lệnh ATC
At-The-Close Order là lệnh giao dịch tại mức giá đóng cửa (hay lệnh ATC), một lệnh chỉ ra giao dịch được thực hiện tại phiên đóng cửa của thị trường, hoặc gần giá đóng cửa nhất có thể. Về bản chất, đây là một lệnh thị trường không được nhập vào cho đến phút cuối của giao dịch. Với loại giao dịch này, bạn không cần phải bảo đảm mức giá đóng cửa nhưng sẽ là một thứ tương tự như vậy.Lệnh ATC (At The Close - giao dịch tại giá đóng cửa) là loại lệnh mới được áp dụng trên thị trường chứng khoán từ khi tiến hành khớp lệnh liên tục. Về bản chất, lệnh này cũng tương tự lệnh ATO (at-the-open order) - giao dịch tại giá mở cửa - và chỉ khác ở chỗ được sử dụng duy nhất trong đợt khớp lệnh cuối cùng của phiên giao dịch.Lệnh ATC được ưu tiên giao dịch trước lệnh giới hạn và không cần ghi mức giá cụ thể. Do đó, ATC đặc biệt hữu hiệu nếu nhà đầu tư muốn tranh bán nhưng điều này cũng tiềm ẩnrủi ro nếu khớp phải giá không tốt (mua giá cao hoặc bán giá thấp).Một điểm cần lưu ý, do lệnh ATC không ghi mức giá nên công ty chứng khoán sẽ sử dụng giá trần để tính phí giao dịch.
At-The-Open Order - Ato / Lệnh Giao Dịch Tại Mức Giá Khớp Lệnh
Trước khi hiểu thế nào là một lệnh ATO thì chúng ta hãy xem tổng quát các công cụ lệnh trên thị trường chứng khoán. Khi tham gia vào thị trường chứng khoán động tác đầu tiên của người chơi là đặt lệnh và có 2 công cụ lệnh chủ yếu cho người chơi lựa chọn là: lệnh giao dịch tại mức giá khớp lệnh (ATO) và lệnh giới hạn (Limit Order- LO). Lệnh ATO là lệnh mua hoặc bán chứng khoán mà người chơi tự mình hoặc thông qua nhà môi giớikhông đưa ra giá xác định trước, do vậy lệnh sẽ được khớp theo mức giá thị trường tại thời điểm khớp lệnh, trong khi đó lệnh LO là lệnh mà người chơi đưa ra có kèm theo yêu cầu khớp ở mức giá cụ thể hoặc tốt hơn. Mỗi công cụ lệnh đều có ưu điểm và các rủi roriêng. Như đã nêu ở trên lệnh ATO gắn liền với giá thị trường, vừa linh hoạt nhưng cũng vừa rủi ro trước sự biến động của thị trường. Những đặc điểm của lệnh giao dịch tại mức giá khớp lệnh: + Khi đặt lệnh tại mức giá khớp lệnh, nhà đầu tư không cần phải ghi mức giá cụ thể nhưng sử dụng chữ viết tắt ATO thay cho việc ghi giá. Khi đại diện giao dịch nhập lệnh giao dịch tại mức giá khớp lệnh vào hệ thống giao dịch thì tại vùng giá trong chức năng nhập lệnh, nhập chữ ATO. + Trong thời gian nhận lệnh, thông tin thị trường được hiện thị trên màn hình nhập lệnh của đại diện giao dịch và trên bảng điện tử của các công ty chứng khoán và khối lượng đặt lệnh tối đa đối với lệnh giao dịch tại mức giá khớp lệnh là 9.900 cổ phiếu. + Lệnh ATO được sắp xếp theo thứ tự ưu tiên sau lệnh giới hạn: Khi hệ thống tiến hành so khớp các lệnh, tại mức giá thực hiện, lệnh giao dịch tại mức giá khớp lệnh có thứ tự ưu tiên thực hiện sau các lệnh giới hạn có mức giá đặt lệnh tốt hơn hoặc bằng với giá khớp lệnh. + Trường hợp có nhiều lệnh giao dịch tại mức giá khớp lệnh ATO đặt mua hoặc đặt bán, các lệnh giao dịch tại mức giá khớp lệnh sẽ cạnh tranh thực hiện lệnh với nhau theo thứ tự thời gian đặt lệnh, lệnh của ai được nhập vào hệ thống trước thì sẽ được ưu tiên trước. + Khi hệ thống tính toán khối lượng và giá khớp lệnh dự kiến, lệnh giao dịch tại mức giá khớp lệnh ATO cùng được so khớp. Nói cách khác, lệnh giao dịch tại mức giá khớp lệnh chỉ có giá trị trong một đợt khớp lệnh và không có giá trị trong đợt khớp lệnh tiếp theo Hệ thống giao dịch chứng khoán sẽ khớp lệnh theo nguyên tắc: + Trình tự xác định giá và khối lượng giao dịch của thị trường trong trường hợp có lệnh ATO như sau: - Cộng tích luỹ khối lượng đặt mua của lệnh giới hạn từ mức giá cao đến mức giá thấp - Cộng tích luỹ khối lượng chào bán của lệnh giới hạn từ mức giá thấp đến mức giá cao - Tại các mức khối lượng tích luỹ, cộng thêm khối lượng đặt của lệnh giao dịch tại mức giá khớp lệnh của bên mua hoặc bên bán - So với khối lượng đặt lệnh của hai bên để xác định khối lượng thực hiện lớn nhất có thể có - So sánh mức giá tại mức giá khối lượng thực hiện lớn nhất với giá đóng cửa để xác định mức giá giao dịch. + Thứ tự ưu tiên thực hiện lệnh: Tại mức khối lượng so khớp lớn nhất, giá giao dịch sẽ được xác định. Các lệnh được khớp sẽ được phân bố như sau - Các lệnh giới hạn đặt mua với giá cao hơn giá khớp lệnh và các lệnh giới hạn đặt bán với giá thấp hơn với giá khớp lệnh được ưu tiên phân bổ trước. - Đối với các lệnh giới hạn đặt mua và lệnh giới hạn đặt bán với giá bằng giá khớp lệnh sẽ được phân bổ trước, sau đó mới phân bổ cho các lệnh giao dịch với giá khớp lệnh. Với lệnh ATO nhà đầu tư sẽ phải chấp nhận mua chứng khoán theo giá thị trường, và như vậy khó tránh được những biến động mạnh của giá cổ phiếu, ở điểm này lệnh giới hạn có thể hạn chế được rủi ro do cố định mức giá mua bán trước. Tuy nhiên lệnh ATO cũng có nhiều ưu thế, khi hệ thống tiến hành so khớp lệnh, tại mức giá thực hiện sẽ còn dư một số lệnh đặt mua và bán không được khớp lệnh. Với việc dùng lệnh ATO một số lệnh sẽ có thể được thực hiện mua bán tùy theo mong muốn của nhà đầu tư. Công cụ giao dịch này có thể sẽ làm cho khối lượng giao dịch của thị trường tăng bằng cách "vét" thêm một số khối lượng nữa sau khi khớp lệnh. Lệnh này có tác dụng với các cổ phiếu có chênh lệnh cung và cầu lớn. Đưa công cụ này ra cho các nhà đầu tư lựa chọn sử dụng, các nhà quản lý hy vọng sẽ kích hoạt được thị trường, đây cũng là một trong các bước đi để tiến tới thực hiện khớp lệnh liên tục khi thị trường đã có quy mô đủ lớn với số cổ phiếu và khối lượng niêm yết lớn.
Attribute / Thuộc Tính
Một nét đặc trưng hay thuộc tính của hàng hoá. Xem CHARACTERISICS THEORY.
Attribute Bias / Xu Hướng Theo Thuộc Tính
Attribute Bias là việc lựa chọn cổ phiếu theo những kĩ thuật định lượng hoặc mô hình sẵn có, cho phép lọc ra những cổ phiếu có đặc tính cơ bản giống nhau, chẳng hạn như tỉ suất sinh lời cao hoặc đang bị đánh giá thấp về khả năng tạo doanh thu. Hầu hết các mô hình đầu tư cho phép người sử dụng đưa ra được kết quả là những lựa chọn đầu tư cụ thể đều có những thước đo cho riêng trong lựa chọn và đánh giá cổ phiếu. Những thước đo này đóng vai trò như những bộ lọc, sẽ loại những cố phiếu này và đề xuất mua những cổ phiếu khác với những đặc tính cho phép mang lại mức sinh lời tương tự nhau. Một phương pháp đầu tư hay nghiên cứu sử dụng xu hướng theo thuộc tính không hẳn là không tốt, nguy hiểm lớn nhất là cổ phiếu có thể quá tương quan về khả năng sinh lời, làm mất đi sự đa dạng trong một danh mục đầu tư. Đặc biệt cần phải chú ý khi đầu tư vào các công ty trong cùng một ngành công nghiệp, bởi vì chúng thường có giá trị cơ bản tương tự nhau.
Xu hướng của các cổ phiếu là việc lựa chọn cổ phiếu theo những kĩ thuật định lượng hoặc mô hình sẵn có, cho phép lọc ra những cổ phiếu có đặc tính cơ bản giống nhau, chẳng hạn như tỉ suất sinh lời cao hoặc đang bị đánh giá thấp về khả năng tạo doanh thu. Hầu hết các mô hình đầu tư cho phép người sử dụng đưa ra được kết quả là những lựa chọn đầu tư cụ thể đều có những thước đo cho riêng trong lựa chọn và đánh giá cổ phiếu. Những thước đo này đóng vai trò như những bộ lọc, sẽ loại những cố phiếu này và đề xuất mua những cổ phiếu khác với những đặc tính cho phép mang lại mức sinh lời tương tự nhau. Một phương pháp đầu tư hay nghiên cứu sử dụng xu hướng theo thuộc tính không hẳn là không tốt; nguy hiểm lớn nhất là cổ phiếu có thể quá tương quan về khả năng sinh lời, làm mất đi sự đa dạng trong một danh mục đầu tư. Đặc biệt cần phải chú ý khi đầu tư vào các công ty trong cùng một ngành công nghiệp, bởi vì chúng thường có giá trị cơ bản tương tự nhau.
Auction / Đấu Giá
Đấu giá là quá trình mua và bán hàng hóa bằng cách đưa các mức giá cao dần, nhận giá đặt và bán cho bên nào có giá đặt tốt nhất. Trong lý thuyết kinh tế, đấu giá là phương pháp xác định giá trị của một hàng hóa có mức giá không thể xác định hoặc biến đổi quá nhiều. Bán đấu giá được thực hiện công khai. Những hình thức đấu giá đầu tiên có thể tính về những năm 500 B.C. Cuộc đấu giá có thể là đấu giá đặt trước có hoặc không có mức tối thiểu, đấu giá tuyệt đối,... Chẳng hạn trong đấu giá đặt trước, sẽ có lệnh tối thiểu hoặc giá đặt trước, nếu quá trình đặt giá không đạt đến mức tối thiểu đó, sẽ không có giao dịch (nhưng người muốn đưa sản phẩm/hàng hóa ra đấu giá sẽ phải trả phí cho bên tổ chức). Trong đấu giá tuyệt đối hoặc đấu giá không đặt trước, việc bán là chắc chắn, chỉ có duy nhất ở mức giá nào là cần xác định qua đấu giá.
Một hệ thống mà khách hàng tiềm năng đưa ra giá đặt cạnh tranh về tài sản và dịch vụ. Tài sản hoặc dịch vụ đó sẽ được bán cho bên đưa ra giá đặt cao nhất. Trong hầu hết các trường hợp, người bán sẽ phải trả một khoản lệ phí niêm yết cho người bán đấu giá, bất kể mặt hàng đó có được bán với giá mong muốn hay không. Ví dụ khi phát hành IPO, Google đã sử dụng một hình thức bán đấu giá đã được sửa đổi là đấu giá Hà Lan (dutch auction). Đối với loại đấu giá này, người mua tiềm năng sẽ nộp hồ sơ dự thầu bao gồm số cổ phần mong muốn và những gì họ sẵn sàng trả cho Google. Sau khi cuộc đấu giá kết thúc, người bảo lãnh phát hành lọc các giá thầu để xác định giá thầu tối thiểu giá mà họ chấp nhận từ người mua. Kết quả là IPO đã được bán với giá $85. Ngày nay, Internet đã giúp tăng số lượng tham gia đấu giá, và các nhà thầu cũng không còn phải có mặt để tham gia đấu giá. Bên canh đó, sàn thương mại điện tử như eBay cũng giúp kết nối người mua và người bán trên toàn thế giới bằng cách cho phép họ nộp hồ sơ dự thầu (hoặc danh sách các sản phẩm của họ) trực tuyến và gửi thanh toán điện tử.
Auction Market / Thị Trường Đấu Giá
Hệ thống qua đó chứng khoán được bán hay mua với giá hợp lý nhất bằng đấu giá cạnh tranh, các mức giá được thiết lập bởi nhà môi giới, hành động như các đại lý của bên mua và bên bán, cũng như các nhà kinh doanh hành động vì quyền lợi của chính họ. Trong thị trường chứng khoán, thí dụ, sở giao dịch chứng khoán New York, nơi những người mua và bán đưa ra giá cạnh tranh cho việc giao dịch các chứng khoán niêm yết bằng phiếu đặt lệnh cho giao dịch. Thị trường hàng hóa kỳ hạn thương lượng trao đổi việc xác định lãi suất, thì ngược lại, là một thị trường đấu giá mở, mà giá thị trường được định bằng tương tác trực tiếp của những người tham gia giao dịch, đứng trên sàn giao dịch. Xem COMPETITIVE BID; DUTCH AUCTIION.
Là thị trường trong đó người mua tham gia đấu thầu cạnh tranh và người bán tham gia chào hàng cạnh tranh cùng một lúc. Giá mà một cổ phiếu được giao dịch đại diện cho mức giá cao nhất mà người mua sẵn sàng trả và mức giá thấp nhất mà người bán sẵn sàng bán. Sau đó giá thầu và giá chào bán phù hợp được kết hợp với nhau và các đơn đặt hàng được thực hiện. Sở giao dịch chứng khoán New York (NYSE) là một ví dụ về thị trường đấu giá. Thị trường đấu giá khác với các quầy giao dịch nơi những giao dịch được đàm phán. Ví dụ: 4 người mua muốn mua một cổ phần của XYZ và thực hiện các giá thầu sau: $ 10,00, 10,02, 10,03 và 10,06. Ngược lại, có 4 người bán mong muốn bán XYZ và họ đã đề nghị bán cổ phần của họ với giá sau: $ 10,06, 10,09, 10,12 và $ 10,13. Trong trường hợp này, các cá nhân đã thực hiện chào giá / ưu đãi cho XYZ ở mức 10,06 đô la sẽ thực hiện các đơn đặt hàng của họ. Tất cả các đơn đặt hàng còn lại sẽ không được thực hiện ngay lập tức và giá hiện tại của XYZ sẽ là 10,06 đô la.
Thị Trường Đấu Giá (Auction Market) là một thuật ngữ trong tài chính. Nó mô tả khái niệm, cơ chế hoặc quy trình cụ thể, được sử dụng trong phân tích, định giá, giao dịch và quản trị rủi ro. Ví dụ: Thị Trường Đấu Giá (Auction Market) có thể dùng trong phân tích báo cáo tài chính hoặc định giá doanh nghiệp, tùy ngữ cảnh. Ứng dụng: hỗ trợ lập báo cáo, phân tích, thẩm định và ra quyết định tài chính. Khi áp dụng, cần lưu ý đến bối cảnh pháp lý và thị trường để hiểu đúng.
Auction Markets / Thị Trường Đấu Giá
Hệ thống qua đó chứng khoán được bán hay mua với giá hợp lý nhất bằng đấu giá cạnh tranh. Các mức giá được thiết lập bởi các nhà môi giới, hành động như các đại lý của bên mua và bên bán cũng như các nhà kinh doanh hành động vì quyền lợi của chính họ. Trong thị trường chứng khoán, thí dụ, Sở giao dịch chứng khoán New York, nơi những người mua và bán đưa ra giá cạnh tranh cho việc giao dịch các chứng khoán niêm yết bằng phiếu đặt lệnh cho giao dịch. Thị trường hàng hóa kỳ hạn thương lượng trao đổi việc xác định lãi suất, thì ngược lại, là một thị trường đấu giá mở, mà giá thị trường được định bằng tương tác trực tiếp của những người tham gia giao dịch, đứng trên sàn giao dịch. Xem COMPETITIVE BID; DUTCH AUCTION.
Across The Boad Tariff Reduction / Gia Giảm Quan Thuế Biểu
Across the boad (ATB) tariff reduction tức Gia giảm toàn bộ quan thuế biểu (hay còn gọi là Gia giảm quan thuế biểu theo đường thẳng - Linear tariff reduction) - Đây là công cụ dùng trong các cuộc thương lượng mua bán quốc tế nhằm tránh sự thương lượng gia giảm theo từng hạng mục. Khi đó, các quốc gia đồng ý tuân theo sự gia giảm phần trăm trong tỷ lệ quan thuế đối với những hàng hoá ấn định.
Auctioneer / Người Bán Đấu Giá
Một thuật ngữ chung chỉ nhân viên bán đấu giá, tại đó những người mua tương lai đấu với nhau bằng cách đặt giá, vật đấu giá sẽ thuộc về người nào đặt giá cao nhất.
Auctions / Đấu Giá
Một kiểu thị trường trong đó người mua tiềm tàng đặt giá cho hàng hoá chứ không phải đơn thuần trả theo.
Acid-Test Ratio, Quick Ratio / Hệ Số Thanh Toán Nhanh
Một tỉ lệ chỉ ra liệu một công ty có đủ tài sản ngắn hạn để thanh toán các khoản nợ ngắn hạn mà không cần phải bán hàng tồn kho đi hay không. Hệ số thanh toán nhanh được tính bằng cách lấy tổng các tài sản có tính thanh khoản cao nhất (tiền mặt, đầu tư ngắn hạn, và khoản phải thu) chia cho tổng nợ ngắn hạn. Hàng tồn kho không được đưa vào công thức trên vì nó khó có thể chuyển ra tiền mặt một cách dễ dàng, các chi phí trả trước cũng không được đưa vào với lý do tương tự. Hệ số thanh toán nhanh là một hệ số khắt khe hơn nhiều so với tỉ lệ thanh toán ngay (current ratio) bởi vì nó đã loại trừ hàng tồn kho ra khỏi công thức tính toán. Công thức này được các nhà đầu tư sử dụng khá phổ biến. Hệ số này nói lên tình trạng tài chính ngắn hạn của một công ty có lành mạnh không. Nếu một công ty có hệ số thanh toán nhanh nhỏ hơn 1, nó sẽ không đủ khả năng thanh toánngay lập tức toàn bộ các khoản nợ ngắn hạn và, cần phải rất cẩn trọng khi đầu tư vào những công ty như vậy. Phân tích sâu hơn nữa, nếu hệ số thanh toán nhanh nhỏ hơn hệ số thanh toán ngay rất nhiều chứng tỏ tài sản ngắn hạn phụ thuộc rất lớn vào hàng tồn kho, đây là một ví dụ của các công ty bán lẻ. Trong trường hợp này tính thanh khoản của tài sản ngắn hạn là tương đối thấp. Ngoài ra cần phải so sánh hệ số thanh toán nhanh của năm nay so với năm trước để nhận diện xu hướng biến động, so sánh với hệ số của doanh nghiệp cùng ngành để đánh giá tương quan cạnh tranh. Thuật ngữ này xuất phát từ cách mà những người đào vàng kiểm tra xem khối quặng mà họ tìm ra có phải là quặng vàng không. Không giống các kim loại khác, vàng không bị axit ăn mòn, nếu mẫu quặng không tan khi nhúng vào axit, người ta nói rằng nó đã qua được phép thử axit. Nếu các báo cáo tài chính của doanh qua được các bước "thử axit", tức là có hệ số thanh toán nhanh tốt (tối thiểu là 1), thì có thể coi doanh nghiệp đó đang có một tình hình tài chính ngắn hạn "bằng vàng".
Một tỉ lệ chỉ ra liệu một công ty có đủ tài sản ngắn hạn để thanh toán các khoản nợ ngắn hạn mà không cần phải bán hàng tồn kho đi hay không. Hệ số thanh toán nhanh được tính bằng cách lấy tổng các tài sản có tính thanh khoản caonhất (tiền mặt, đầu tư ngắn hạn, và khoản phải thu) chia cho tổng nợ ngắn hạn. Hàng tồn kho không được đưa vào công thức trên vì nó khó có thể chuyển ra tiền mặt một cách dễ dàng, các chi phí trả trước cũng không được đưa vào với lý do tương tự. Hệ số thanh toán nhanh là một hệ số khắt khe hơn nhiều so với tỉ lệ thanh toán ngay (current ratio) bởi vì nó đã loại trừ hàng tồn kho ra khỏi công thức tính toán. Công thức này được các nhà đầu tư sử dụng khá phổ biến. Hệ số này nói lên tình trạng tài chính ngắn hạn của một công ty có lành mạnh không. Nếu một công ty có hệ số thanh toán nhanh nhỏ hơn 1, nó sẽ không đủ khả năng thanh toánngay lập tức toàn bộ các khoản nợ ngắn hạn và, cần phải rất cẩn trọng khi đầu tư vào những công ty như vậy. Phân tích sâu hơn nữa, nếu hệ số thanh toán nhanh nhỏ hơn hệ số thanh toán ngay rất nhiều chứng tỏ tài sản ngắn hạn phụ thuộc rất lớn vào hàng tồn kho, đây là một ví dụ của các công ty bán lẻ. Trong trường hợp này tính thanh khoản của tài sản ngắn hạn là tương đối thấp. Ngoài ra cần phải so sánh hệ số thanh toán nhanh của năm nay so với năm trước để nhận diện xu hướng biến động, so sánh với hệ số của doanh nghiệp cùng ngành để đánh giá tương quan cạnh tranh. Thuật ngữ này xuất phát từ cách mà những người đào vàng kiểm tra xem khối quặng mà họ tìm ra có phải là quặng vàng không. Không giống các kim loại khác, vàng không bị axit ăn mòn, nếu mẫu quặng không tan khi nhúng vào axit, người ta nói rằng nó đã qua được phép thử axit. Nếu các báo cáo tài chính của doanh qua được các bước "thử axit", tức là có hệ số thanh toán nhanh tốt (tối thiểu là 1), thì có thể coi doanh nghiệp đó đang có một tình hình tài chính ngắn hạn "bằng vàng".
Audit Evidence / Bằng Chứng Kiểm Toán
BẰNG CHỨNG KIỂM TOÁN bao gồm thông tin bằng văn bản và điện tử (chẳng hạn như séc, hồ sơ chuyển tiền điện tử, hóa đơn, hợp đồng, và các thông tin khác) cho phép kiểm toán viên đưa ra kết luận chính xác về sự trung thực và minh bạch của bản báo cáo tài chính.
Bằng Chứng Kiểm Toán (Audit Evidence) là một thuật ngữ trong tài chính. Nó mô tả khái niệm, cơ chế hoặc quy trình cụ thể, được sử dụng trong phân tích, định giá, giao dịch và quản trị rủi ro. Ví dụ: Bằng Chứng Kiểm Toán (Audit Evidence) có thể dùng trong phân tích báo cáo tài chính hoặc định giá doanh nghiệp, tùy ngữ cảnh. Ứng dụng: hỗ trợ lập báo cáo, phân tích, thẩm định và ra quyết định tài chính. Khi áp dụng, cần lưu ý đến bối cảnh pháp lý và thị trường để hiểu đúng.





