Achieving Society, The. / Xã Hội Thành Đạt
Đây là tiêu đề của một cuốn sách do giáo sư David C. Mc. Clelland của trường đại học Harvard (Princeton, NJ, 1962) xuất bản, trong đó ông định nghĩa khái niệm động cơ thành đạt để đo ý nghĩ tưởng tượng và mức độ của các ý tưởng mới mà ông coi là nhân cách cần thiết đối với các CHỦ DOANH NGHIỆP và vì vậy có ý nghĩa đối với SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ.
Audit Report / Báo Cáo Của Kiểm Toán Viên
Báo cáo của kiểm toán viên là một văn bản do kiểm toán viên lập trình bày về mục tiêu, phạm vi và kết quả của cuộc kiểm toán. Kết quả của cuộc kiểm toán bao gồm các phát hiện, kết luận (ý kiến) và các ý kiến tư vấn.
Audit Risk / Rủi Ro Kiểm Toán
Rủi ro kiểm toán là rủi ro do kiểm toán viên và công ty kiểm toán đưa ý kiến nhận xét không thích hợp khi báo cáo tài chính đã được kiểm toán còn có những sai sót trọng yếu. Rủi ro kiểm toán gồm: - Rủi ro tiềm tàng:là rủi ro tiềm ẩn, vốn có trong từng nghiệp vụ, từng khoản mục trên báo cáo tài chính chứa đựng sai sót trọng yếu khi tính riêng rẽ hoặc tính gộp, mặc dù có hay không có hệ thống kiểm soát nội bộ. - Rủi ro kiểm soát: là rủi ro xảy ra sai sót trong từng nghiệp vụ, từng khoản mục trong báo cáo tài chính khi tính riêng rẽ hoặc tính gộp mà hệ thống kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộ không ngăn ngừa hế, không phát hiện và không được sửa chữa kịp thời. - Rủi ro phát hiện: là rủi ro xảy ra sai sót trọng yéu trong từng nghiệp vụ, từng khoản mục trong báo cáo tài chính khi được tính riêng rẽ hoặc tính gộp mà trong quá trình kiểm toán, kiểm toán viên không phát hiện được.
Đây là rủi ro mà kiểm toán viên sẽ không phát hiện ra lỗi hoặc sai phạm có chủ đích (nghĩa là gian lận) trong khi xem xét báo cáo tài chính của một công ty hay cá nhân. Có hai loại rủi ro kiểm toán chung: rủi ro liên quan đến việc đánh giá các tài liệu tài chính và rủi ro liên quan đến các nhận định được tạo ra bằng cách đánh giá các tài liệu tài chính. Các công ty yêu cầu kiểm toán để cung cấp niềm tin cho các nhà đầu tư rằng các báo cáo tài chính và hồ sơ của họ là chính xác. Để đảm bảo chống lại các vụ kiện tụng tiềm ẩn phát sinh từ các sai sót tài chính bị bỏ lỡ, chẳng hạn như sai sót trọng yếu, kiểm toán viên thường sẽ đều mua bảo hiểm sơ suất nghề nghiệp. Các công ty đại chúng lớn thường tham gia vào một trong bốn công ty kế toán Big Four - PricewaterhouseCoopers, KPMG, Ernst & Young và Deloitte Touche Tohmatsu - cho kiểm toán nội bộ. Big Four trước đây là Big Five, nhưng Arthur Andersen đã ra khỏi khối 5 công ty này sau khi bị truy tố về tội cản trở công lý có dính dáng đến vai trò của nó trong vụ bê bối Enron. Theo báo cáo của Văn phòng Trách nhiệm Chính phủ năm 2008, các công ty kiểm toán Big Four thực hiện kiểm toán 98% các công ty Hoa Kỳ với doanh thu hàng năm trên 1 tỷ đô la. Các công ty nhỏ hơn có nhiều khả năng tham gia vào một trong những doanh nghiệp tầm trung (mid-range) của thành phố, như Grant Thornton hoặc BDO Seidman.
Rủi Ro Kiểm Toán (Audit Risk) là một thuật ngữ trong tài chính. Nó mô tả khái niệm, cơ chế hoặc quy trình cụ thể, được sử dụng trong phân tích, định giá, giao dịch và quản trị rủi ro. Ví dụ: Rủi Ro Kiểm Toán (Audit Risk) có thể dùng trong phân tích báo cáo tài chính hoặc định giá doanh nghiệp, tùy ngữ cảnh. Ứng dụng: hỗ trợ lập báo cáo, phân tích, thẩm định và ra quyết định tài chính. Khi áp dụng, cần lưu ý đến bối cảnh pháp lý và thị trường để hiểu đúng.
Audit Scope / Phạm Vi Kiểm Toán
Phạm vi kiểm toán liên quan đến các hoạt động bao phủ bởi một kiểm toán nội bộ.Phạm vi kiểm toán bao gồm, nơi thích hợp để tiến hành kiểm toán (ví dụ như tài khoản phải trả nhà cung cấp cao bất thường): mục tiêu kiểm toán; tính chất, mức độ của thủ tục kiểm toán thực hiện; Thời gian giai đoạn kiểm toán và hoạt động có liên quan không được kiểm toán để xác định ranh giới kiểm toán.
Phạm Vi Kiểm Toán (Audit Scope) là một thuật ngữ trong tài chính. Nó mô tả khái niệm, cơ chế hoặc quy trình cụ thể, được sử dụng trong phân tích, định giá, giao dịch và quản trị rủi ro. Ví dụ: Phạm Vi Kiểm Toán (Audit Scope) có thể dùng trong phân tích báo cáo tài chính hoặc định giá doanh nghiệp, tùy ngữ cảnh. Ứng dụng: hỗ trợ lập báo cáo, phân tích, thẩm định và ra quyết định tài chính. Khi áp dụng, cần lưu ý đến bối cảnh pháp lý và thị trường để hiểu đúng.
Audit Trail / Bằng Chứng Kiểm Toán
Bản ghi chép theo thứ tự thời gian của một giao dịch, khoản vay hay đầu tư, bao gồm các bản ghi nhớ tín dụng và các tài liệu liên quan. Với một bản ghi chép như thế thể hiện rõ tiến trình từng bước của một giao dịch lưu chuyển trong công ty , giúp việc kiểm tra sau sự kiện nhằm xác định thời gian và nơi phát sinh sai sót. Xem CREDIT REVIEW.
Audit; Auditing / Kiểm Toán
Hiện nay, ở Việt Nam và trên thế giới còn tồn tại rất nhiều cách hiểu khác nhau về kiểm toán. Tuy nhiên quan niệm về kiểm toán được chấp nhận phổ biến hiện nay là: "Kiểm toán là quá trình các kiểm toán viên độc lập và có năng lực tiến hành thu thập và đánh giá các bằng chứng về các thông tin được kiểm toán nhằm xác nhận và báo cáo về mức độ phù hợp giữa các thông tin này với các chuẩn mực đã được thiết lập." Nguồn gốc ra đời của kiểm toán: Có rất nhiều nhà nghiên cứu lịch sử cho rằng kiểm toán ra đời vào khoảng thế kỷ thứ III trước Công Nguyên, gắn liền với nền văn minh của Ai Cập và La-Mã cổ đại. Ở thời kỳ đầu, kiểm toán chỉ hình thành ở mức độ sơ khai, những người làm công việc kế toán đọc to lên những tài liệu kế toán cho một bên độc lập nghe và sau đó chứng thực. Vì vậy "Audit" (có nghĩa là kiểm toán) trong tiếng Anh có nguồn gốc từ Latinh "Audire" có nghĩa là nghe. Các chức năng của kiểm toán Chức năng kiểm tra và xác nhận hay còn gọi là chức năng xác minh. Chức năng trình bày ý kiến ( chức năng tư vấn ) Đối tượng của kiểm toán : Báo cáo tài chính Phân loại kiểm toán: Căn cứ theo mục đích của kiểm toán Kiểm toán hoạt động (Operation Audit) là loại kiểm toán nhắm xem xét và đánh giá về tính kinh tế, tính hiệu lực và hiệu quả của các hoạt động được kiểm toán. Kiểm toán tuân thủ (Compliance) là loại kiểm toán nhằm xem xét đơn vị được kiểm toán có tuân thủ theo đúng các quy định mà các cơ quan có thẩm quyền cấp trên hoặc cơ quan chức năng của nhà nước hoặc cơ quan chuyên môn đề ra hay không. Kiểm toán Báo cáo tài chính (Audit of Financial Stetemants) là loại kiểm toán nhằm kiểm tra và xác nhận về tính trung thực, hợp lý của các Báo cáo tài chính được kiểm toán. Căn cứ theo chủ thể kiểm toán Kiểm toán nội bộ Kiểm toán nhà nước Kiển toán độc lập
Augmented Dickey Fuller Test - Adf / Kiểm Định Dickey Fuller Bổ Sung
Kiểm định này là một phiên bản của kiểm định Dickey Fuller đối với một đơn vị gốc khi tiêu thức xáo động là tương quan theo chuỗi sau khi đã xem xét sự khác nhau trong quá trình tĩnh khác (DSP).
Accumulation / Tích Lũy (Accumulation)
1. Trong đầu tư cá nhân, đây là quá trình góp tiền mặt trong một khoảng thời gian để đầu tư vào chứng khoán nhằm mục đích xây dựng danh mục đầu tư đạt giá trị như mong muốn. Cổ tức và thặng dư vốn vẫn được tái đầu tư trong quá trình này. 2. Trong đầu tư tập thể, đây là hoạt động của nhiều nhà đầu tư mua số lượng lớn cổ phiếu của một công ty đại chúng trong một khoảng thời gian kéo dài. 3. Trong tài chính doanh nghiệp, số tiền lãi giữ lại không chia để tái đầu tư trong hoạt động kinh doanh, đối lập với số tiền lãi được chia cho các cổ đông dưới dạng cổ tức. Theo Investopedia: 1. Khi một nhà đầu tư cá nhân đang cố gắng xây dựng giá trị cho danh mục đầu tư của mình, tức là họ đang tích lũy của cải. Sự tái đầu tư của lợi nhuận qua một quá trình đầu tư có thể đẩy mạnh tiến độ tích lũy bằng số lãi kép. 2. Khả năng để các nhà đầu tư lớn và các định chế tài chính mua rồi bán chứng khoán là có hạn, vì họ phải xử lý một lượng lớn cổ phiếu có thể đẩy giá chứng khoán lên cao nếu đặt lệnh cùng lúc. Để mua đươc số lượng cổ phiếu như mong muốn, các nhà đầu tư tập thể phải mua dàn trải trong một thời gian. 3. Thay vì trả cổ tức cho các nhà đầu tư, tích lũy thu nhập trong doanh nghiệp làm tăng khả năng phát triển và mở rộng kinh doanh, hứa hẹn sản sinh giá trị bổ sung cho các cổ đông về lâu dài.
Augmented Phillips Curve / Đường Phillips Bổ Sung
Việc đưa biến giá cả vào đường Phillips gốc đã dịch chuyển học thuyết một các hiệu quả từ một giải thích về tiền công bằng tiền thành cách giải thích theo nghĩa thực tế.
Aunt Millie / Những Nhà Đầu Tư Ngây Thơ
Một từ mang ý xấu chỉ những nhà đầu tư ngây thơ. Một chuyên gia Wall Street có thể nói rằng: "Vụ đầu tư này có thể sẽ hấp dẫn những Aunt Millie" với nghĩa hoàn toàn dễ hiểu chỉ những vụ đầu tư mà một nhà đầu tư sành sỏi sẽ không đầu tư vào. Thuật ngữ cũng ám chỉ rằng những nhà đầu tư nhỏ như thế sẽ không thể đánh giá đúng rủi ro của vụ đầu tư trong mối quan hệ với những cơ hội thu được lợi nhuận. Các nhà môi giới và tư vấn tài chính, tuân theo luật Know Your Customer, sẽ không đề cập những vụ đầu tư phức tạp và nguy hiểm cho các nhà đầu tư Aunt Millie.
Austrian / Trường Phái Áo / Trường Phái Viên / Trường Phái Tâm Lý
Trường phái Áo hay còn gọi là trường phái Viên hay trường phái tâm lý là một trường phái kinh tế không chính thống ủng hộ chủ nghĩa cá nhân phương pháp luận. Do vậy, người theo trường phái này tin rằng lý thuyết kinh tế có giá trị phải xuất phát từ những quy luật cơ bản của hành vi con người. Cùng với phương pháp tiếp cận chính thống của học thuyết, trường phái này còn ủng hộ phương pháp tiếp cận "đóng kịch" đối với lịch sử. Những người đề xướng phương pháp chính thống bảo vệ quan điểm rằng phương pháp này cho phép việc phát hiện ra những quy luật kinh tế đúng với tất cả các hành vi của con người, còn phương pháp tiếp cận đóng kịch giải quyết các sự kiện lịch sử nhất định. Mặc dù thường gây ra nhiều tranh cãi, Trường phái Áo đã có ảnh hưởng trong lịch sử do sự nhấn mạnh vào giai đoạn sáng tạo của năng suất kinh tế và câu hỏi đặt ra về cốt lõi của học thuyết hành vi đằng sau Kinh tế học Tân cổ điển. Theo nhà kinh tế học thuộc trường phái Áo Joseph Salerno, cái phân biệt trường phái Áo và trường phái kinh tế Tân cổ điển là Học thuyết vòng quy kinh tế Áo, phát biểu như sau: "Học thuyết Áo bao gồm tất cả các đặc điểm Áo nổi bật: học thuyết về tư bản hỗn tạp, cấu trúc của sản xuất, trạng thái thời gian, phân tích liên tục về sự can thiệp tiền tệ, nguồn gốc thị trường và chức năng của lãi suất... Và nó kể một câu chuyện thuyết phục về một giai đoạn lịch sử mà những người theo trường phái Tân cổ điển nghĩ rằng họ có ảnh hưởng.
Austrian School / Trường Phái Kinh Tế Áo
Tên trường phái này được sử dụng để chỉ các nhà kinh tế học từ Menger, Wieser và Bohm-Bawerk trở đi, họ phần lớn nghiên cứu ở Viên và theo một kiểu phân tích riêng biệt.
Trường Phái Kinh Tế Áo (Austrian School) là một thuật ngữ trong tài chính. Nó mô tả khái niệm, cơ chế hoặc quy trình cụ thể, được sử dụng trong phân tích, định giá, giao dịch và quản trị rủi ro. Ví dụ: Trường Phái Kinh Tế Áo (Austrian School) có thể dùng trong phân tích báo cáo tài chính hoặc định giá doanh nghiệp, tùy ngữ cảnh. Ứng dụng: hỗ trợ lập báo cáo, phân tích, thẩm định và ra quyết định tài chính. Khi áp dụng, cần lưu ý đến bối cảnh pháp lý và thị trường để hiểu đúng.
Austrian School / Austrian Economics / Vienna School / Trường Phái Kinh Tế Áo
Câu chuyện về trường phái kinh tế Áo bắt đầu vào thế kỉ 15, khi những người đi sau Thomas Aquinas, viết và dạy học tại University of Salamanca ở Tây Ban Nha, đi tìm phương pháp giải thích cho các hành vi của con người và tổ chức xã hội. Những nhà triết học này quan sát sự tồn tại của quy luật kinh tế, nguồn gốc và ảnh hưởng của các quy luật tự nhiên. Qua một vài thế hệ, họ khám phá và giải thích quy luật của cung và cầu, quy luật của lạm phạt, hoạt động của tỷ giá hối đoái, và bản chất chủ thể của giá trị kinh tế. Với tất cả những thành quả này, Joseph Schumpeter tự hào họ là những nhà kinh tế thực thụ đầu tiên. Họ ủng hộ quyền tài sản và sự tự do trong kí kết hợp đồng và giao dịch kinh tế. Họ đề cao đóng góp của kinh doanh đối với xã hội, nhưng kiên trì chống lại thuế khoá, kiểm soát giá cả và các quy định kiềm chế các doanh nghiệp. Là những nhà thần học đạo đức, họ thúc giục chính phủ áp dụng các biện pháp nghiêm ngặt hợp lý chống lại trộm cắp và giết người. Họ tuân theo quy tắc của Ludwig von Mises: công việc đầu tiên của một nhà kinh tế là chỉ cho chính phủ biết điều gì họ không thể làm. Chuyên luận chung đầu tiên về kinh tế, Essay on the Nature of Commerce, được Richard Cantillon viết vào năm 1730. Sinh ra ở Ailen, ông di cư tới Pháp. Ông cho rằng kinh tế họclà một lĩnh vực khác với nghiên cứu điều tra, và giải thích sự hình thành giá bằng cách sử dụng "thí nghiệm suy nghĩ" (Thought experient). Ông hiểu rằng thị trường giống như một quá trình kinh doanh, và giữ vững một học thuyết Áo về việc tạo ra tiền - học thuyết đó đã dần dần thấm vào nền kinh tế, và phá vỡ quy luật giá cả trong quá trình thâm nhập. Theo sau Cantillon là Anne Robert Jacques Turgot, một nhà quý tộc Pháp ủng hộ quan điểm thị trường và là bộ trưởng tài chính dưới thời kì trước cách mạng Pháp. Các tác phẩm của ông rất ít nhưng sâu sắc. Nghiên cứu "Giá trị và Tiền" (Value and Money) của ông cho thấy nguồn gốc của tiền, và bản chất của sự lựa chọn kinh tế: phản ánh thứ tự ưu tiên của cá nhân. Turgot đã giải thích được sự nghịch lý giữa giá trị của kim cương và nước (diamond-water paradox), thứ làm cản trở những nhà kinh tế học cổ điển, chỉ rõ quy luật doanh lợi ích hẹp dần, và phê bình quy luật cho vay nặng lãi. Ông ủng hộ phương pháp tiếp cận tự do cổ điển đối với những chính sách kinh tế và gợi ý bãi bỏ tất cả các đặc ân dành cho những ngành công nghiệp liên quan tới chính phủ. Turgot là người cha thông thái của một loạt các nhà kinh tế học Pháp vĩ đại của thế kỉ 18 và 19, nổi bật là Jean Baptise Say và Claude-Frederic Bastiat. Say là nhà kinh tế đầu tiên nghiên cứu sâu sắc về phương pháp kinh tế. Ông nhận ra rằng kinh tế học không phải là hàng đống dữ liệu, mà đúng hơn là về sự giải thích bằng ngôn ngữ những sự vật hiện tượng và những hàm ý logic của chúng. Say khám phá ra học thuyết hiệu suất của việc định giá nguồn lực, vai trò của tư bản trong phân công lao động, và Quy luật Say: Sản xuất dư thừa hoặc mức tiêu thụ thấp trên thị trường tự do sẽ không bền vững nếu giá cả được điều chỉnh. Ông là người bảo vệ chính sách tự do kinh doanh và cách mạng công nghiệp, giống như Bastiat. Với vai trò là một nhà báo ủng hộ thị trường tự do, Bastiat cũng bảo vệ quan điểm rằng các dịch vụ phi vật chất cũng tuân theo các quy luật kinh tế giống như hàng hoá vật chất. Một trong số các lời nói bóng gió của Bastiat có nhắc đến "ngôi nhà nguỵ biện có những cửa sổ vỡ nát", sau đó đã được Henry Hazlitt phổ biến. Mặc cho những lý thuyết tinh vi của thời kì đầu của trường phái Áo, trường phái Anh của nửa sau thế kỉ 18 và đầu thế kỉ 19 lại giành được vị trí thống trị, hầu hết bởi các lí do chính trị. Trường phái Anh (dựa trên học thuyết chi phí và năng suất lao động của giá trị) đã dẫn đến sự bùng nổ của chủ nghĩa Marxist và khai thác tư bản. Vai trò thống trị của trường phái Anh gặp phải thử thách lớn trong nhiều năm khi cuốn Các quy luật kinh tế (Priciples of Economics) của Carl Menger được xuất bản năm 1871. Menger, người sáng lập trường phái Áo, làm sống lại phương pháp tiếp cận của các nhà kinh tế Pháp đối với kinh tế, và đưa nó lên một nền tảng vững chắc hơn. Cùng với những tác phẩm cùng thời của Leon Walras và Standley Jevons, Menger phát biểu nền tảng chủ quan của giá trị, và lần đầu tiên giải thích đầy đủ học thuyết giá trị cận biên (một cá nhân càng tiêu dùng nhiều một thứ hàng hoá, anh ta càng nhận được ít giá trị trên mỗi đơn vị). Thêm vào đó, Menger chỉ ra cách tiền được tạo ra trong thị trường tự do như thế nào khi tất cả các hàng hoá có thể trao đổi đều được yêu thích, không phải để tiêu thụ, và là để trao đổi với các hàng hoá khác. Cuốn sách của Menger là nền tảng của cách mạng giá trị thặng dư (marginalist revolution) của khoa học kinh tế. Khi Mises nói rằng: nó khiến một nhà kinh tế không còn là anh ta, ý ông không chỉ đề cập đến học thuyết của Menger về tiền và giá cả, mà còn là về phương pháp tiếp cận. Giống như những người đi tiên phong trong lịch sử, Menger là một người theo chủ nghĩa cá nhân tự do và phương pháp luận cổ điển, coi kinh tế học là khoa học của sự lựa chọn cá nhân. Những điều tra của ông, ra đời 12 năm sau, đã chiến đấu với trường phái lịch sử Đức, trường phái đã chối bỏ học thuyết và coi kinh tế học là sự thu thập các dữ liệu để phục vụ nhà nước. Với vai trò là giáo sư kinh tế của University of Vienna, và sau đó là gia sư của hoàng tử Rudofl của House of Habsburg, Menger hồi sinh kinh tế học với vai trò là khoa học của hành vi con người dựa trên logic suy diễn, và mở đường cho những nhà lí luận sau này nhằm chống lại ảnh hưởng của học thuyết xã hội. Trên thực tế, học trò của ông Friedrich von Wieser đã ảnh hưởng rất lớn đến những tác phẩm sau này của Friedrich von Hayek. Công trình của Menger cho đến ngày nay vẫn là một bản giới thiệu tuyệt vời về phương pháp luận kinh tế. Ở mức độ nào đó, tất cả các nhà kinh tế học trường phái Áo đều tự nhận thấy mình là học trò của Menger. Người ngưỡng mộ và đi theo Menger của đại học Innsbruck, Êugn von Boelm-Bawerk, đã sử dụng những lập luận của Menger và trình bầy lại, sau đó áp dụng vào hàng loạt các tình huống mới bao gồm cả giá trị, giá cả, tư bản và lợi nhuận. Tác phẩm History and Critique of Interest Theories, xuất hiện năm 1884, là một bản liệt kê toàn bộ những nguỵ biện trong lịch sử và bảo vệ chắc chắn quan niệm rằng lãi suất không phải là thành phần nhân tạo mà là một bộ phận vốn có của thị trường. Nó phản ánh thực tế "ưu tiên về thời gian", xu hướng thoả mãn ước muốn càng sớm càng tốt của con người (học thuyết này sau này được Frank Fetter mở rộng). Học thuyết Positive Theory of Capital của Boehm-Bawerk cho thấy rằng tốc độ bình thường của lợi nhuận kinh doanh chính là lãi suất. Các nhà tư bản giữ tiền, trả công cho người lao động, và đợi đến khi sản phẩm được bán để nhận lại lợi nhuận. Thêm vào đó, ông chứng minh rằng tư bản không đồng nhất mà cấu trúc phức tạp và đa dạng có một chiều thời gian. Một nền kinh tế đang phát triển không chỉ là kết quả của gia tăng đầu tư mà còn là kết quả của các quá trình sản suất lâu dài hơn. Boehm-Bawerk tham gia vào trận chiến kéo dài với chủ nghĩa Marxist về vấn đề khai thác học thuyết tư bản, và bác bỏ học thuyết xã hội về tư bản và lương bổng rất lâu trước khi Đảng cộng sản ra đời ở Nga. Boehm-Bawerk cũng tiến hành một hội thảo mà sau này đã trờ thành hình mẫu cho chính các hội thảo của Mises ở Vienna. Boehm-Bawerk ủng hộ các chính sách tuân theo thực tại của các quy luật kinh tế. Ông ủng hộ sự can thiệp với vai trò tác động vào các lực lượng kinh tế thị trường nếu các lực lượng này không thành công trong dài hạn. Trong năm cuối cùng của đế chế Habsburg, ông đã 3 lần giữ vai trò của bộ trưởng tài chính, chiến đấu để giữ cân bằng ngân sách, chống lạm phát và chế độ bản vị vàng, tự do thương mại, và loại bỏ trợ cấp xuất khẩu và các đặc quyền kinh tế khác. Chính các nghiên cứu và tác phẩm của ông đã củng cố vị thế của trường phái kinh tế Áo với đặc điểm là một phương pháp nghiên cứu thống nhất đối với các vấn đề kinh tế, và là nền tảng để trường phái kinh tế Áo tiến vào thế giới sử dụng tiếng Anh. Nhưng một lĩnh vực mà Boehm-Bawerk không bàn thêm trong những phân tích của Menger là tiền, điểm giao giữa phương pháp tiếp cận vi mô và vĩ mô. Mises, chuyên gia cố vấn cho phòng thương mại Áo, đã nhận lấy thử thách này. Kết quả nghiên cứu của Mises mang tên The Theory of Money and Credit, được xuất bản năm 1912. Ông đã lí giải cách thức mà học thuyết hiệu suất cận biên giảm dần áp dụng đối với tiền tệ, và đưa ra định lý "regression theorem" (định lý về mối quan hệ giữa giá trị trung bình của 1 biến ngẫu nhiên và các giá trị tương ứng của một hoặc nhiều biến độc lập), chỉ ra rằng tiền không chỉ tạo ra trong thị trường mà phải luôn luôn là như vậy. Bàn về Học thuyết tiền tệ trường phái Anh, học thuyết lãi suất của Knut Wicksell, và học thuyết cấu trúc sản xuất của Beohm-Bawerk, Mises đã đưa ra một học thuyết bao quát của trường phái Áo về lý thuyết của vòng quay kinh doanh. Một năm sau đó, Mises được bổ nhiệm vào University of Vienna, và hội thảo của Boehm-Bawerk đã dành trọn 2 học kì để tranh luận về cuốn sách của Mises. Sự nghiệp của Mises bị gián đoạn bởi 4 năm Chiến tranh thế giới II. Ông đã mất 3 năm trong số đó làm cán bộ pháo binh, và 1 năm là cán bộ trong bộ phận thông minh kinh doanh. Khi chiến tranh kết thúc, ông xuất bản cuốn Nation, State, and Economy năm 1919, thay mặc cho tự do kinh tế và văn hoá của các nhóm thiểu số ở các đế chế đang bị điêu tàn, và đưa ra học tuyết kinh tế chiến tranh. Trong khi đó, lý thuyết tiền tệ của Mises nhận được sự chú ý của nước Mỹ qua tác phẩm của Benjamin M. Anderson, Jr., một nhà kinh tế ở ngân hàng Chase National Bank. (Cuốn sách của Mises đã bị John Maynard Keynes phê bình gay gắt.) Trong sự hỗn loạn về chính trị sau chiến tranh, nhà nghiên cứu nổi lên là Otto Bauer thuộc chính phủ xã hội chủ nghĩa. Biết Bauer từ hội thảo của Boehm-Bawerk, Mises đã giảng giải về kinh tế cho ông hết đêm này qua đêm khác, cuối cùng thuyết phục Bauer tránh xa những chính sách kiểu Bôn-sê-vích. Những nhà kinh tế theo xã hội chủ nghĩa chưa bao giờ tha thứ cho Mises về hành động này và đã tiến hành chiến tranh chống lại ông trong thế giới chính trị học và đã thành công trong việc ngăn cản ông khiến ông không được nhận các khoản trả cho giáo sư trong trường đại học. Không nản lòng, Mises chuyển sang các vấn đề của chính chủ nghĩa xã hội, viết hàng chồng các bài luận trong năm 1921, và ông đã chuyển thành cuốn sách Socialism trong 2 năm tiếp theo. Chủ nghĩa xã hội không có phép tồn tại tài sản cấ nhân hoặc trao đổi hàng hoá tư bản, và vì vậy không có con đường nào để các nguồn lực có thể tìm thấy giá trị sử dụng cao nhất. Mises dự đoán rằng Chủ nghĩa xã hội sẽ tạo ra sự hỗn loạn tột cùng vào cuối nền văn minh. Mises đã khiến các nhà bảo vệ chủ nghĩa xã hội phải giải thích chính xác bằng ngôn ngữ kinh tế rằng hệ thống xã hội của họ sẽ hoạt động như thế nào, một nhiệm vụ mà những nhà xã hội chủ nghĩa thời đó đã lảng tránh. Tranh luận giữa những người theo trường phái Áo và trường phái xã hội chủ nghĩa vẫn tiếp tục trong thập kỉ tiếp theo và còn lâu hơn nữa, và cho đến khi chủ nghĩa xã hội thế giới sụp đổ vào năm 1989. Thời đó giới học thuật vẫn cho rằng cuộc tranh luận sẽ được giải quyết nghiêng về phe chủ nghĩa xã hội. Trong khi đó, những tranh luận của Mises thay mặt cho thị trường tự do đã hấp dẫn một nhóm các nhà cải đổi quan điểm từ chủ nghĩa xã hội, bao gồm Hayek, Wilhelm Roepke, và Lionel Robbins. Mises bắt đầu tổ chức các buổi hội thảo riêng trong phòng của mình ở Phòng thương mại và có sự tham dự của Fritz Machlup, Oskar Morgenstern, Gottfried von Haberler, Alfred Schutz, Richard von Strigl, Eric Voegelin, Paul Rosenstein-Rodan, và nhiều nhà thông thái khác tới từ khắp các nước Châu Âu. Trong suốt những năm 1920 và 1930, Mises phải chiến đấu trên cả 2 mặt trận hàn lâm khác. Ông đã mang một ngọn gió thuyết phục tới Trường lịch sử Đức với hàng loạt các bài loạn bảo vệ phương pháp suy diễn trong kinh tế học, những phương pháp sau này ông đã gọi là logic của hành động. Ông cũng thành lập học viện nghiên cứu trường phái Áo về chu kỳ kinh doanh (Austrian Institute for Business Cycle Research) và giao cho học trò của mình là Hayek phụ trách học viện. Trong suốt những năm này, Hayek và Mises là tác giả của nhiều nghiên cứu về chu kỳ kinh doanh, cảnh báo mối nguy hiểm của mở rộng tín dụng, và dự đoán về các cuộc khủng hoảng tiền tệ sắp xảy ra. Những công trình này đã được đề cử bởi hội đồng giải thưởng Nobel năm 1974 và Hayek đã nhận được giải Nobel kinh tế vào năm này. Làm việc ở Anh và Mỹ, Hayek sau này trở thành người phản đối các học thuyết kinh tế của Keynes với các cuốn sách về tỷ giá hối đoái, lý thuyết tư bản, và cải cách tiền tệ. Cuốn sách nổi tiếng của ông Road to Serfdom đã giúp làm sống lại dòng tư tưởng tự do cổ điển ở Mỹ sau chương trình cải cách New Deal (của tổng thống Mỹ Franklin Roosevelt) và Chiến tranh thế giới thứ II. Và hàng loạt cuốn sách của ông về luật, thể chế, và tự do làm rõ thêm phương pháp tiếp cận của các nhà triết học thời trước về luật, và ứng dụng nó để phê bình chủ nghĩa quân bình và những biện pháp quá đơn giản đưa ra để giải quyết các vấn đề xã hội. Cuối những năm 1930, sau khi chịu ảnh hưởng của suy thoái kinh tế toàn thế giới, Áo đã bị Đảng quốc xã Đức đe doạ thôn tính. Hayek đã dời đến London năm 1931 do Mises thúc giục, và năm 1934, Mises cũng rời đến Geneva để giảng dậy và viết cho Viện quốc tế về nghiên cứu sau đại học (International Institute for Graduate Studies), và sau đó di cư đến Mỹ. Nhận thấy rằng Mises là kẻ thù không đội trời chung của chủ nghĩa xã hội quốc gia, những người thuộc Đức quốc xã tịch thu các nghiên cứu của Mises trong căn hộ của ông và giấu chúng trong suốt thời kì chiến tranh. Thật tức cười, chính là ý tưởng của Mises được lọc qua nghiên cứu của Roepke và nghệ thuật quản lý nhà nước của Ludwig Erhard, mà dẫn tới những cải cách kinh tế của Đức và xây dựng lại đất nước sau chiến tranh. Sau đó, năm 1992, những chuyên viên lưu giữ văn thư của Áo đã phát hiện ra những công trình bị đánh cắp ở Vienna của Mises trong một kho lưu trữ ở Matxcơva. Trong thời gian ở Geneva, Mises đã viết kiệt tác của mình Nationalokonomie và sau khi tới Mỹ, ông đã biên tập và mở rộng nó thành cuốn Human Action xuất hiện trên thị trường năm 1949. Học trò của ông Murray N. Rothbard đã gọi đó là "thành quả vĩ đại nhất của Mises và một trong những sản phẩm tuyệt vời nhất của bộ óc con người trong thời đại của chúng ta." Sự xuất hiện của tác phẩm này là bản lề của lịch sử của trường phái kinh tế Áo, và nó vẫn là một luận thuyết định nghĩa về trường phái. Mặc dù vậy, nó không được đón nhận nồng nhiệp trong thế giới kinh tế hàn lâm, nơi hướng nhiều đến trường phái của Keynes. Mặc dù Mises chưa bao giờ nhận được những phần trả cho công việc nghiên cứu hàn lâm mà ông xứng đáng, ông đã có những học trò của mình tại New York University, giống như ông đã từng có ở Vienna. Thậm chí trước khi Mises đến Mỹ, nhà báo Henry Hazlitt cũng đã là người ủng hộ ông, bình luận về các cuốn sách của ông ở tờ New York Times và Newsweek, và truyền bá các ý tưởng của ông ở những tạp chí như Ecocomics in One Lesson. Hazlitt cũng có những đóng góp riêng cho trường phái Áo. Ông viết rất nhiều bài phê bình về học thuyết General Theory của Keynes, bảo vệ các bài viết của Say. Các hội thảo của Mises ở New York vẫn tiếp tục cho tới 2 năm trước ngày mất của ông ănm 1973. Trong suốt những năm đó, Rothbard là học trò của ông. Trên thực tế, tác phẩm Man, Economy, and State (1963) của Rothbard đã theo sau tác phẩm Human Action. Phương pháp tiếp cận của Rothbard trong trường phái Áo theo sát quan điểm của những nhà triết học trước đó bằng cách áp dụng khoa học kinh tế trong khuôn khổ của học thuyết quy luật tự nhiên của tài sản. Kết quả là sự bảo vệ trật tự xã hội tư bản dựa trên tự do và hợp đồng. Rothbard theo sát luận thuyết kinh tế của mình với việc điều tra nguyên nhân của đại suy thoái, nghiên cứu này được áp dụng cho học thuyết vòng quay kinh doanh để chỉ ra rằng sụp đổ của thị trường chứng khoán và suy thoái kinh tế là có liên quan đến sự mở rộng tín dụng ngân hàng trước đó. Khi đó trong hàng loạt các nghiên cứu về chính sách của chính phủ, ông thiết lập một khung lí thuyết để xem xét ảnh hưởng của tất cả những can thiệp này tới thị trường. Trong những năm sau này, Mises được chứng kiến sự bắt đầu sống lại của trường phái Áo bắt đầu tư sự xuất hiện của cuốn Man, Economy, and State và bắt đầu tới tận ngày nay. Chính Rothbard đã thành lập nên trường phái Áo và học thuyết tự do cổ điển ở Mỹ, đặc biệt là với tác phẩm Conceived in Liberty, cuốn lịch sử 4 tập về thuộc địa Mỹ và sự thoát khỏi đế quốc Anh. Sự kết hợp của học thuyết quy luật tự nhiên và trường phái Áo xuất hiện trong các nghiên cứu của ông, cuốn The Ethnics of Liberty. Mặc dù những người theo trường phái kinh tế Áo hiện nay đã ở một vị trí rõ rệt hơn bất cứ thời gian này từ năm 1930, Rothbard, giống như Mises, đã không được chào đón nhiệt liệt bởi thế giới học thuật.
Accrued Interest / Lãi Tích Lũy
Accrued Interest là trái phiếu tượng trưng cho một nghĩa vụ nợ, trong đó người sở hữu(người cho vay) được bồi hoàn một khoản tiền dưới dạng lãi suất (trái tức). Thông thường trái tức được thanh toán theo 1 kì hạn cố định (6 tháng, 1 năm). Trong suốt thời gian giữa 2 lần thanh toán trái tức, trái phiếu được phép chuyển nhượng tự do giữa các nhà đầu tư. Nhưng vấn đề là ai sẽ được hưởng lãi suất đó. Chỉ người nắm giữ trái phiếu vào thời điểm thanh toán trái tức mới được phép hưởng trái tức đó, nhưng người bán trái phiếu cũng phải được bồi hoàn cho khoản thời gian anh ta đã nắm giữ trái phiếu. Nói cách khác người bán trái phiếu cần được thanh toán phần lãi tích luỹ của trái phiếu đó trước khi bán trái phiếu. Tình huống hoàn toàn tương tự với các loại chứng khoán trả lãi cố định khác. Lãi tích lũy là số tiền lãi được tích lũy từ lần thanh toán gần đây nhất cho đến khi bán trái phiếu hoặc các loại chứng khoán có thu nhập cố định khác. Khái niệm này thường được sử dụng chủ yếu với các loại chứng khoán chuyển đổi. Khi bán chứng khoán đó, người mua phải trả cho người bán số tiền bằng giá của chứng khoán đó cộng thêm phần lãi tích lũy. Lãi tích lũy được tính theo công thức sau: Lãi tích lũy = (Lãi định kì) x (thời gian tích lũy)/(thời gian 1 kì) Ví dụ: một người mua 100 trái phiếu công ty mệnh giá $1000/tp, được trả lãi $100/năm vào 1 tháng 1 hàng năm. Người này quyết định bán số trái phiếu đó vào 1/10/2006. Vậy lãi tích lũy của số trái phiếu đó là: 100x100x9/12=7500 USD Tổng số tiền mà người mua phải trả sẽ là 100x1000+7500 = 107500 USD
Accrued Interest là: 1. Một thuật ngữ được sử dụng để diễn tả một phương pháp kế toán dồn tích khi tiền lãi phải trả hoặc phải thu đã được ghi nhận, nhưng chưa được thanh toán hoặc thu nhận. Lãi tích lũy xuất hiện do sự khác biệt về thời gian của dòng tiền và hoạt động đánh giá các dòng tiền này. 2. Tiền lãi được tích lũy trên trái phiếu kể từ lần trả lãi cuối cùng gần nhất, nhưng không bao gồm ngày thanh toán. 1. Ví dụ, khoản lãi tích lũy phải thu xuất hiện khi công ty kiếm được lãi từ khoản phải thu tồn đọng, nhưng chưa nhận được tiền. Một khoản vay từ việc bán hàng hóa cho khách hàng cũng được tính lãi vay. Nếu khoản vay được gia hạn vào ngày 1 tháng 10 và thời điểm công ty kết thúc cho vay là vào ngày 31 tháng 12, thì sẽ có hai tháng mà khoản lãi tích lũy phải thu được ghi nhận là lãi doanh thu trong báo cáo tài chính của công ty trong năm. 2. Tiền lãi tích lũy được cộng thêm vào giá hợp đồng trong giao dịch trái phiếu. Lãi tích lũy là số tiền kiếm được từ lần thanh toán lãi cuối cùng. Vì trái phiếu chưa hết hạn hoặc chưa đến hạn của khoản thanh toán tiếp theo, nên chủ sở hữu của trái phiếu chưa chính thức nhận được tiền. Nếu anh ta hoặc cô ta bán trái phiếu, tiền lãi tích lũy sẽ được thêm vào giá bán.
Autarky / Tự Cung Tự Cấp
Tình trạng trong đó một nước tự tách khỏi thương mại quốc tế bằng những hạn chế như thuế quan nhằm tự túc, thường do nguyên nhân làm việc hoặc chính trị.
Autex System / Hệ Thống Autex
AUTEX là một mạng lưới liên lạc điện tử từ Thomson Financial cho phép những người mua và bán cổ phiếu tiềm năng với số lượng cổ phiếu lớn trao đổi với những nhà giao dịch khác về giá đặt bán và giá đặt mua của một cổ phiếu xác định. Bằng cách đưa ra "những quảng cáo thương mại (trade advertisements)" trong một đợt phát hành cổ phiếu, giao diện của mạng lưới cho biết những dấu chỉ về nhu cầu mua và bán cho các nhà giao dịch, những người hy vọng có chút ít cảm giác về khả năng thanh khoản của thị trường trước khi thực hiện một giao dịch lớn.Hệ thống AUTEX: Hệ thống điện tử có thể báo cho các nhà môi giới biết khi một nhà môi giới khác muốn mua hoặc bán cổ phiếu với số lượng lớn. Một khi người mua gặp được người bán, giao dịch thực sự sẽ được thực hiện qua quầy hoặc ngay trên sàn giao dịch.Hãy tưởng tượng hai nhà giao dịch trong một công ty chứng khoán XYZ, một người muốn bán 100,000 cổ phiếu và một người khác muốn mua 100,000 cổ phiếu. Bằng cách nêu nhu cầu của mình trên hệ thống AUTEX, người này có thể xác định người kia mà không phải chịu rủi ro khi đặt một lệnh thị trường lớn có thể đẩy chứng khoán lên giá do sự mất cân bằng đột ngột của cổ phiếu. Một khi nhu cầu đã được thiết lập ở cả 2 bên, giao dịch sẽ được thực hiện theo một quy cách chuẩn, cho dù nó ở sàn giao dịch hay qua thị trường phi tập trung OTC.
Authority Bond / Trái Phiếu Chính Quyền
Trái phiếu được phát hành và được thanh toán từ thu nhập của cơ quan chính phủ hoặc một doanh nghiệp công ích xã hội có thu. Một trong những công ty như thế là Port Authority của New York và New Jersey, điều hành các công trình cầu và đường hầm ở khu vực của thành phố New York. Bởi vì một cơ quan quyền lực thường không có nguồn thu nào khác ngoài thu phí từ các dịch vụ mà mà cơ quan đó điều hành, trái phiếu của các cơ quan này có những đặc trưng của trái phiếu thu nhập. Điểm khác biệt là những biện pháp bảo vệ trái chủ được kết hợp ngay trong hợp đồng trái phiếu chính quyền cũng như trong pháp chế đã tạo thành cơ quan chính quyền này.
Một chứng khoán nợ được phát hành bởi chính quyền, chẳng hạn như các doanh nghiệp hoặc cơ quan chính phủ, nhằm tài trợ cho hoạt động của các doanh nghiệp công ích xã hội có doanh thu. Nhà đầu tư vào các trái phiếu chính quyền được bồi hoàn từ lợi nhuận của doanh nghiệp, đóng vai trò như lợi tức trái phiếu. Trái phiếu chính quyền khá giống với trái phiếu đô thị. Cả hai đều được phát hành bởi các tổ chức có thẩm quyền, tuy nhiên bản chất lại khác nhau. Thêm vào đó, trái phiếu chính quyền có thể kết hợp cùng các bảo hiểm kỹ quỹ, nhằm cung cấp một số bảo hiểm cho trái chủ.
Authorized Investment / Đầu Tư Uỷ Thác
Đầu tư do người thụ ủy hay người nhận ủy thác, theo các văn bản hướng dẫn về công cụ ủy thác. Trái với đầu tư hợp pháp tuân thủ theo các quy định của giới thẩm quyền ngân hàng tiểu bang, hay luật tiểu bang liên quan đến các khoản đầu tư, được cấp phép bởi các ngân hàng thụ ủy và các ngân hàng tiết kiệm hỗ tương.
Authorized Settlement Agent / Đại Lý Thanh Toán Ủy Quyền
Ngân hàng được ủy quyền để đệ trình chi phiếu hay các khoản tiền mặt cho ngân hàng dự trữ liên bang để thu tiền. Với thẻ ngân hàng, ngân hàng được ủy quyền thanh toán hối phiếu để thanh toán các giao dịch mua bán.
Là một ngân hàng được ủy quyền để đệ trình chi phiếu hay các khoản tiền mặt cho ngân hàng dự trữ liên bang để thu tiền. 12 Ngân hàng dự trữ thu và thanh toán séc cho các tổ chức nhận tiền gửi; việc thanh toán cũng được thực hiện thông qua hệ thống thanh toán bù trừ tự động (ACH) và các thỏa thuận thanh toán bù trừ riêng tư. Cục Dự trữ Liên Bang Hoa Kỳ đóng vai trò chủ yếu trong hệ thống thanh toán của Hoa Kỳ. Dịch vụ thanh toán của Cục Dự trữ Liên Bang Mỹ có sẵn cho tất cả các tổ chức nhận tiền gửi, bao gồm cả các tổ chức nhỏ hơn ở những địa điểm xa mà các nhà cung cấp khác có thể không đáp ứng được.
Authorized Shares / Cổ Phiếu Được Phép Phát Hành
Số lượng cổ phiếu tối đa thuộc bất cứ hạng loại nào mà công ty được phép phát hành theo các điều khoản thành lập công ty. Con số này thường được ghi trong phần tài khoản vốn của bản cân đối kế toán. Thông thường, một công ty muốn tăng chứng khoán được phép phát hành phải do các cổ đông quyết định. Con số này chỉ có thể thay đổi nếu tất cả các cổ đông đều bỏ phiếu tán thành. Công ty không cần phải phát hành tất cả các cổ phiếu được phép phát hành và có thể ngay từ đầu giữ lại tối thiểu số cổ phiếu đã phát hành để giảm bớt thuế và các chi phí khác. Số cổ phiếu thực sự phát hành thường ít hơn số cổ phiếu được phép phát hành. Điều đó cho phép các công ty bán thêm cổ phiếu khi chúng cần huy động thêm những nguồn vốn khác. Còn được gọi là "authorized capital stock".





