Appropriate Technology / Công Nghệ Thích Hợp
Việc ứng dụng một công nghệ thích hợp với yếu tố sẵn có. (Xem ALTERNATIVE TECHNOLOGY. INTERMEDIATE TECHNOLOGY, INTERMEDIATE TECHNOLOGY DEVELOPMENT GROUP).
Adjusted Gross Income (AGI) / Thu Nhập Gộp Hiệu Chỉnh (AGI)
Được sử dụng để xác định có thể đánh thuế bao nhiêu thu nhập của bạn. AGI gồm tổng thu nhập từ các nguồn có thể đánh thuế trừ đi sự điều chỉnh tối đa cho phép. Theo Investopedia: AGI trừ đi các phần chiết khấu và miễn thuế cá nhân bằng thu nhập có thể đánh thuế được. Theo Wikipedia: AGI là một thuật ngữ thuế của Mỹ chỉ lượng được sử dụng trong tính toán nghĩa vụ thuế thu nhập của một cá nhân. AGI gồm tổng thu nhập được điều chỉnh theo các khoản chiết khấu cho phép, và là một dấu mốc quan trọng quyết định các lợi ích cho phép khác. Hầu hết giới hạn để chiết khấu hay mua hàng trả sau được quyết định dựa vào AGI hoặc MAGI (modified adjusted gross income) - thu nhập gộp hiệu chỉnh được sửa đổi bởi lượng xác định tùy thuộc vào giới hạn cho trước. Tổng thu nhập bao gồm lương, lợi tức tiền lãi, cổ tức, thu nhập từ lương hưu, lãi suất vốn, các khoản trợ cấp, tiền cho thuê, tiền bản quyền, thu nhập từ trang trại, trợ cấp thất nghiệp, và các loại thu nhập khác. AGI là số cuối cùng trong trang đầu của bản 1040, bản kê khai thuế chuẩn của Mỹ cho cá nhân.
Appropriation Account / Tài Khoản Phân Phối Lãi
Các doanh nghiệp duy trì các tài khoản này cho thấy lợi nhuận sau khi trả thuế được phân phối hay sử dụng như thế nào. (Xem ALLOWANCES AND EXPENSES CORPORATION TAX, ALLOWANCES AND EXPENSES INCOME TAX, TAXABLE INCOME)
Approval Voting / Bỏ Phiếu Tán Thành; Bỏ Phiếu Phê Chuẩn
Một dạng ra quyết định trong đó mỗi cá nhân bỏ phiếu cho một nhóm phương án mà người đó tán thành. (Xem BORDA COUNT, CONDORCET CRITERION, SOCIAL DECISION RULE, SOCIAL WELFARE FUNCTION).
Approved List / Danh Sách Phê Chuẩn
Ngân hàng: là những trái phiếu hay chứng khoán mà ngân hàng có thể giữ lại để đầu tư, thông thường căn cứ trên nhận định của các công ty đánh giá trái phiếu như Standard Poor's, Moody's, Fitch's và các công ty khác. Quy định của Cục dự trữ Liên bang (Mỹ) giới hạn số đầu tư của ngân hàng quốc gia trong trái phiếu có mức tín nhiệm nhất định. Ví dụ các trái phiếu đã được Standard Poor's đánh giá từ B (BBB) trở lên. Các ngân hàng cấp tiểu bang (có giấy phép kinh doanh cấp tiểu bang) cũng chịu lệ thuộc quy định đầu tư như thế, giống ngân hàng quốc gia theo quy định của Cục dự trữ liên bang.Đầu tư: Bản danh sách được chấp thuận có thể giao cho người nhận ủy thác tài sản theo quy chế tiểu bang hay do ban quản trị quỹ hỗ tương đầu tư thực hiện.
Adjusted Balance Method / Phương Pháp Cân Đối Hiệu Chỉnh
1. Một phương pháp tài chính/kế toán trong đó chi phí được tính toán dựa trên lượng tiền còn đang nợ ở cuối giai đoạn hiện tại (khi các khoản nợ tín dụng và các khoản thanh toán đã được thông báo) Hầu hết các tài khoản tiết kiệm sử dụng hệ thống này. Lãi suất được hưởng từ tài khoản được tính toán cuối mỗi tháng ngay khi tất cả các giao dịch đã được thông báo. 2. Công thức tính toán các chi phí tài chính dựa trên số dư tài khoản còn lại sau khi điều chỉnh các khoản hoãn chi và các khoản nợ tín dụng được thông báo trong suốt thời kỳ gửi hóa đơn. Các khoản phí lãi suất tính theo phương pháp này thấp hơn so với phương pháp Cân đối trung bình hàng ngày và Phương pháp Cân đối trước.
Adjustable Rate Preferred Stock (ARPS) / Cổ Phiếu Ưu Đãi Có Điều Chỉnh Cổ Tức; Cổ Phiếu Ưu Đãi Có Lãi Suất Điều Chỉnh
Adjustable Rate Preferred Stock (ARPS) là một loại cổ phiếu ưu đãi mà cổ tức của nó thay đổi, thường là hàng quí, căn cứ theo diễn biến của trái phiếu Chính phủ Mỹ hoặc một chuẩn mực tương tự. Thay đổi về cổ tức thường được tính toán bằng một công thức xác định trước. Gần giống như các loại nợ lãi suất thả nổi, thì cổ phiếu ưu đãi điều chỉnh tỉ lệ cổ tức thường có giá ổn định vì cổ tức có thể được điều chỉnh để bù trừ cho biến động giá. Thông thường vẫn có một khoảng giới hạn nhất định được đặt ra đối với việc điều chỉnh tỉ suất cổ tức làm cho loại cổ phiếu này an toàn hơn. Cổ phiếu ưu đãi loại này hay được phát hành bổ sung có đảm bảo bằng thế chấp hoặc bằng cổ phiếu bảo đảm khác, để tăng cường vốn cho các dự án. Cổ phiếu ưu đãi với tích lũy với cổ tức được trả và điều chỉnh hàng quý. Cổ phiếu này không có ngày đáo hạn, nhưng có thể được mua lại tùy vào quyền chọn của nhà phát hành. Cổ tức của một cổ đông không mang tính tích lũy và được trả cổ tức theo lịch trình trả cổ tức.
Adjustable-Rate Mortgage (ARM) / Cầm Cố Lãi Suất Có Điều Chỉnh (ARM)
Cầm cố dân cư trong đó lãi suất thả nổi lên hoặc xuống tùy theo những thay đổi về chỉ số lãi. Cầm cố có lãi suất điều chỉnh thường có lãi suất ban đầu thấp hơn cầm cố có lãi suất cố định, do đó có cơ hội tiết kiệm lãi đáng kể trong suốt kỳ hạn vay nếu lãi suất ổn định hay giảm.Cầm cố có lãi suất điều chỉnh xuất hiện lần đầu năm 1960, nhưng không được biết đến rộng rãi mãi tới những năm 1980, khi người cho vay bắt đầu khuyến khích các khoản vay ARM, như một sự lựa chọn chi phí thấp hơn so với những khoản vay cầm cố 30 năm , với lãi suất cố định. Các khoản vay ARM, được thiết kế với những giới hạn có sẵn, gọi là mức lãi suất cao nhất, nhằm giảm tác động của các dao động lãi suất, trên các khoản thanh toán tiền vay trong một năm nào đó hay trong suốt thời hạn của khoản vay. Một khoản cầm cố có lãi suất điều chỉnh với mức lãi suất ban đầu 4 1/2% mức tăng tối đa hàng năm kaf 1% và mức tăng tối đa trọn kỳ 4% sẽ có lãi suất không cao hơn 9 1/2 %. Lãi suất ARM thường được điều chỉnh mỗi sáu tháng hoặc một năm một lần tùy vào hình thức vay. Mức thanh toán tiền vay cao nhất không giới hạn số tiền lãi mà người cho vay kiếm được, điều này có nghĩa là tiền vay ARM có thể làm phát sinh mức khấu trừ âm, nếu lãi tiền vay tích lũy vượt mức lãi thực sự phải trả. Khi tính lãi suất cho vay, người cho vay cộng một lãi suất biên vào lãi suất chỉ số, được chọn như định chuẩn, hay lãi suất cơ bản. Các chỉ số thông dụng nhất là chỉ số trái phiếu kho bạc đáo hạn không đổi (CMT) của trái phiếu kho bạc nhà nước phát hành với cùng kì đáo hạn; chỉ số trái phiếu kho bạc dựa trên lợi nhuận đấu giá của các kỳ phiếu kho bạc ngắn hạn 3 tháng, 6 tháng hoặc 1 năm; số bình quân di động 12 tháng của trái phiếu Kho bạc, được tính từ chỉ số CMT của kho bạc nhà nước của kỳ 12 tháng trước.; chỉ số của Chi phí Quỹ Khu vực thứ 1, chi phí trung bình trọng lượng của các tài khoản tiết kiệm, các khoản tạm ứng của ngân hàng Liên bang cho vay mua nhà, và các nguồn quỹ khác được thanh toán bởi các định chế tiết kiệm trong địa hạt Ngân hàng Liên bang Cho vay Mua nhà khu vực thứ 11. Lãi suất Liên ngân hàng Luân Đôn (LIBOR) là lãi suất các ngân hàng lớn của Luân Đôn tính phí lẫn nhau cho mỗi lần vay; chỉ số chứng chỉ tiền gởi CD là lãi suất trung bình có được bởi chứng chỉ tiền gởi giao dịch toàn quốc, và lãi suất cơ bản của ngân hàng, là lãi suất các ngân hàng tính đối với những doanh nghiệp cho vay ưu đãi. Các chỉ số thông dụng nhất là chỉ số kho bạc; chỉ số của chi phí quỹ khu vực thứ 11 và chỉ số LIBOR. Một dạng phổ biến khác của cầm cố có lãi suât điều chỉnh là HYBRID ARM, trong đó tiền vay có lãi suất cố định trong vòng ba đến mười năm, sau đó điều chỉnh theo điều kiện thị trường. Xem ALTERNATIVE MORTGAGE INSTRUMENT; CONSTANT MATURITY TREASURY; HYBRID ARM. Người đi vay sẽ phải chấp nhận rủi ro lãi suất tăng, nhưng bù lại, họ được hưởng lãi suất thấp hơn tại thời kỳ đầu của vay có thế chấp có lãi suất điều chỉnh so với vay thế chấp có lãi suất cố định tại cùng thời điểm. Những người sở hữu nhà lo lắng lãi suất tăng cao có thể lựa chọn lãi suất cố định, trong khi những người cho rằng lãi suất chỉ tăng nhẹ, ổn định hay giảm nên chọn vay có thế chấp có lãi suất điều chỉnh. Các nhà phê bình cho rằng vay có thế chấp có lãi suất điều chỉnh có thể khiến cho những chủ sở hữu nhà gánh chịu những trách nhiệm nặng nề.Vay có thế chấp có lãi suất điều chỉnh còn được gọi là Variable Rate Mortgage (VRM). Không nên nhầm lẫn vay có thế chấp có lãi suất điều chỉnh (ARM) với vay có thế chấp chi trả tăng dần (Graduated Payment Mortgage - GPM), có lãi suất cố định với số tiền trả hàng tháng được sắp xếp để tăng cùng với thu nhập của người đi mượn.
Approved Preferred Share Trust - ADST / Uỷ Thác Cổ Phần Ưu Đãi Được Chấp Thuận
Approved preferred share trust (ADST) nghĩa là: Uỷ thác cổ phần ưu đãi được chấp thuận. Tại Anh, uỷ thác được công ty lập ra vì lợi ích của công nhân và được tài trợ bằng cách mua cổ phần của chính công ty. Thuế đánh trên cổ tức ADST được hoãn cho đến khi bán cổ phần và được và được trả theo tỷ lệ có giảm.
Approved preferred share trust (ADST) nghĩa là: Uỷ thác cổ phần ưu đãi được chấp thuận. Tại Anh, uỷ thác được công ty lập ra vì lợi ích của công nhân và được tài trợ bằng cách mua cổ phần của chính công ty. Thuế đánh trên cổ tức ADST được hoãn cho đến khi bán cổ phần và được và được trả theo tỷ lệ có giảm.
Apriori / Tiên Nghiệm
Apriori là một cụm thuật ngữ miêu tả quá trình suy luận phán đoán từ giả thuyết ban đầu cho đến kết luận. Phương pháp này có thể đối lập với cách tiếp cận dựa trên những cứ liệu rút ra từ thực tế quan sát.
Aquinas St Thomas / (1225-1274)
Aquinas St Thomas là một học giả người Ý, ông là người có đóng góp chính vào tư tưởng kinh tế của hàn lâm viện. Xét về kinh tế học, ông thừa nhận phần lớn học thuyết của Aristotle, bao gồm khái niệm về giá công bằng. Ông cũng phân biệt GIÁ CẢ và GIÁ TRỊ, đối tượng của rất nhiêù cách diễn giải khác nhau. Ý tưởng về giá trị hay giá công bằng không khác hơn giá thông thường (cạnh tranh) vốn có ở một mặt hàng và giá được đưa ra vượt quá mức giá này là sự vi phạm quy tắc đạo đức. Thương mại vốn xấu xa nhưng được bào chữa bởi HÀNG HÓA CÔNG CỘNG. Tương tự, của cải tài sản và hành động của chính phủ được biện hộ bởi hàng hoá công cộng. Cho vay nặng lãi bị chỉ trích là khoản thu cho việc sử dụng tiền mà không có giá trị sử dụng. Những đóng góp chủ yếu của ông đối với lịch sử tư tưởng kinh tế được bao quát trong cuốn SUMMA THEOLOGICA của ông.
Adjustable Peg System / Hệ Thống Neo Tỷ Giá Hối Đoái Có Thể Điều Chỉnh
Adjustable Peg System là hệ thống neo tỷ giá hối đoái có thể điều chỉnh - Hệ thống này được quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) đưa ra tại hội nghị Bretton Woods và đề cập đến một bộ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI CỐ ĐỊNH hay được "neo" mà về cơ bản là cố định nhưng cho phép điều chỉnh hoặc thay đổi với lượng nhỏ theo cả 2 hướng.
Address Principle / Nguyên Lý Địa Chỉ
Trong nền kinh tế KẾ HOẠCH HOÁ như ở Liên Xô trước đây, mỗi mục tiêu chiến lược đều có một tổ chức hoặc "địa chỉ" chịu trách nhiệm thực hiện mục tiêu đó
Arbitrage / Nghiệp Vụ Arbitrage/ Ác-Bít
Arbitrage là một biến tướng của nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối giao ngay. Nghiệp vụ Arbitrage theo nghĩa nguyên thủy là việc lợi dụng sự chênh lệch tỷ giá giữa các thị trường ngoại hối khác nhau để thu lời thông qua hoạt động mua và bán. Trong trường hợp mua ngoại hối tại thị trường rẻ nhất đồng thời bán số ngoại hối đó tại thị trường đắt nhất thị gọi là Arbitrage chênh lệch hay Arbitrage không gian (space Arbitrage) Arbitrage được chia ra làm hai loại: 1. Arbitrage hai điểm (two points arbitrage): được thực hiện khi có sự chênh lệch rõ ràng về tỷ giá của hai đồng tiền giữa hai thị trường khách nhau. 2. Arbitrage ba điểm/ tam giác (three points arbitrage): trường hợp này nhìn bề ngoài chưa thấy sự khác nhau trong tỷ giá giữa các thị trường nhưng thực ra có thể nhận thấy sự chênh lệch tỷ giá thông qua tỷ giá chéo. Trong những năm 60 nghiệp vụ Ácbit rất phát triển do sự thiếu thông tin giữa các thị trường nhưng ngày nay nghiệp vụ này không còn ý nghĩa lớn trong kinh doanh do sự phát triển vượ
Arbitrage / Mua Bán Song Hành
Việc mua và bán chứng khoán, trái phiếu, hàng hoá cùng loại cùng lúc trên hai hay nhiêu thị trường để kiếm lợi nhuận từ chênh lệch giá. Thí dụ nhà mua bán song hành cùng lúc mua một hợp đồng về vàng tại thị trường New York và bán cùng lúc một hợp đồng về vàng tại thị trường Chicago họ kiếm được lợi nhuận vì lúc đó giá ở hai thị trường khác nhau (Người mua bán song hành có giá bán cao hơn giá mua). Mua bán song hành theo chỉ số sẽ khai thác chênh lệch giá giữa hợp đồng futures chỉ số chứng khoán và giá chứng khoán cơ sở. Bằng cách tận dụng chênh lệnh giá tiền giữa các thị trường, nhà mua bán song hành thực hiện chức năng kinh tế làm cho mua bán tại các thị trường này có hiệu quả hơn.
Việc mua và bán chứng khoán, trái phiếu, hàng hoá cùng loại cùng lúc trên hai hay nhiêu thị trường để kiếm lợi nhuận từ chênh lệch giá. Thí dụ nhà mua bán song hành cùng lúc mua một hợp đồng về vàng tại thị trường New York và bán cùng lúc một hợp đồng về vàng tại thị trường Chicago họ kiếm được lợi nhuận vì lúc đó giá ở hai thị trường khác nhau (Người mua bán song hành có giá bán cao hơn giá mua). Mua bán song hành theo chỉ số sẽ khai thác chênh lệch giá giữa hợp đồng futures chỉ số chứng khoán và giá chứng khoán cơ sở. Bằng cách tận dụng chênh lệnh giá tiền giữa các thị trường, nhà mua bán song hành thực hiện chức năng kinh tế làm cho mua bán tại các thị trường này có hiệu quả hơn.
Arbitrage Pricing Theory / Lý Thuyết Định Giá Kinh Doanh Chênh Lệch
Lý thuyết định giá chênh lệch là một lý thuyết tổng quát về định giá tài sản, và nó đang dần có sức ảnh hưởng lớn trong việc định giá các cổ phần.APT nói rằng tỷ suất sinh lợi kỳ vọng của tài sản tài chính có thể được đo lường thông qua các yếu tố kinh tế vĩ mô khác nhau hoặc là yếu tố thị trường. Sự nhạy cảm của tài sản với sự thay đổi trong mỗi yếu tố được đại diện bằng đại lượng xác định gọi là hệ số beta. Xuất phát từ lý thuyết này, mô hình xác định tỷ suất sinh lợi cho các chứng khoán đã được sử dụng để định giá tài sản một cách chính xác- Gía của tài sản phải bằng với mức kỳ vọng vào cuối giai đoạn đầu tư chiết khấu về hiện tại với mức chiết khấu được tính toán trong mô hình. Nếu giá khác nhau, cơ hội kinh doanh chênh lệch sẽ đưa nó về lại đúng đường thẳng như mô hình.Lý thuyết APT được nhà kinh tế học Stephen Ross đề xướng năm 1976Mô hình APTTỷ suất sinh lợi kỳ vọng của một tài sản rủi ro được mô tả thỏa mãn công thức sau: Trong đó: là tỷ suất sinh lợi kỳ vọng của tài sản có rủi ro là phần bù rủi ro nhân tố là tỷ suất sinh lợi phi rủi ro là nhân tố kinh tế vĩ mô là mức nhạy cảm của tài sản với nhân tố k (gọi là bêta nhân tố) là biến động ngẫu nhiên riêng có của tài sản rủi ro, có trung bình bằng 0 Đó là, tỷ suất sinh lợi không chắn chắn của một tài sản j là một quan hệ tuyến tính với n nhân tố. Thêm vào đó, mỗi nhân tố cũng được xem là biến ngẫu nhiên có giá trị trung bình bằng zero.Các giả định của APTAPT đòi hỏi 4 giả định : Tỷ suất sinh lợi có thể được mô tả bằng một mô hình nhân tố Không có các cơ hội kinh doanh chênh lêch Có một lượng chứng khoán đủ lớn để có thể xây dựng một danh mục đầu tư đa dạng hóa tốt, loại bỏ các rủi ro riêng có của các chứng khoán đơn lẻ. Thị trường tài chính không có các bất hoàn hảo APT và kinh doanh chêch lệchKinh doanh chêch lệch là việc thực hiện tìm kiếm lợi nhuận từ tình trạng mất cân bằng giữa hai hoặc nhiều hơn hai thị trường và lợi nhuận kiếm được đó là lợi nhuận phi rủi ro.Bởi vì rủi ro riêng có của doanh nghiệp không quan trọng với nhà đầu tư khi nhà đầu tư đã nắm giữ một danh mục được đa dạng hóa tốt. Do đó, hầu hết các nhà đầu tư không chịu rủi ro riêng có của doanh nghiệp bởi vì họ đã đa dạng hóa tốt. Nếu hai khoản đầu tư hoàn toàn giống nhau nhưng lại có tỷ suất sinh lợi kỳ vọng khác nhau, thì sau đó, nếu không có chi phí giao dịch và các bất hoàn hảo của thị trường thì một nhà đầu tư có thể kiếm lợi phi rủi ro bằng cách mua một khoản đầu tư với tỷ suất sinh lợi kỳ vọng cao hơn và bán khống một khoản đầu tư có mức tỷ suất sinh lợi thấp hơn. Điều này có thể giải thích nhưng cơ hội kinh doanh chênh lệch như thế sẽ chỉ xuất hiện nếu tỷ suất sinh lợi của các chứng khoán không thỏa mãn công thức trên ( tức là công thức thể hiện mối quan hệ giữa tỷ suất sinh lợi kỳ vọng của chứng khoán với các hệ số beta nhân tố. Bởi vì điều này đã được lưu ý từ trước, do đó mối quan hệ giữ tỷ suất sinh lợi kỳ vọng- rủi ro này được biết đến như là lý thuyết kinh doanh chênh lệch (APT)Kinh doanh chênh lệch trong các kỳ vọngAPT mô tả cơ chế nhờ đó nhà đầu tư thực hiện kinh doanh chênh lệch sẽ mang một tài sản từ chỗ bị định giá sai theo mô hình APT trở lại đúng trên đường thẳng APT với mức giá kỳ vọng của nó. Chú ý rằng thông qua kinh doanh chênh lệch đúng nghĩa, nhà đầu tư đã có một mức tưởng thưởng được bảo đảm, trong khi kinh doanh chênh lệch APT được mô tả bên dưới, nhà đầu tư lại chỉ có mức tưởng thưởng kỳ vọng dương. Do đó, APT giả định rằng” kinh doanh chênh lệch trong các kỳ vọng” ví dụ: Các nhà đầu tư thực hiện kinh doanh chênh lệch sẽ mang giá tài sản trở về đúng đường thẳng của tỷ suất sinh lợi hợp lý theo mô hinh hình lý thuyết danh mục đầu tư.Cơ chế thực hiện kinh doanh chênh lệchTrong nội dung của APT, kinh doanh chênh lệch bao gồm kinh doanh 2 tài sản, tối thiểu là phải có một tài sản bị định giá sai. Các nhà kinh doanh chênh lệch bán tài sản đang quá đắt và sử dụng số tiền đó để mua các tài sản đang quá rẻ.Theo APT, một tài sản bị định giá sai nếu giá hiện tại của nó khác xa với mức giá được chỉ ra trước trong mô hình. Gía tài sản ngày hôm nay nên bằng với tổng giá trị các dòng tiền trong tương lai chiết khấu về hiện tại với mức chiết khấu của APT, khi mà tỷ suất sinh lợi kỳ vọng của tài sản là một quan hệ tuyến tính với các yếu tố khác nhau và sự rất nhạy cảm của tài sản với sự thay đổi trong mỗi yếu tố được đo lường bằng hệ số beta xác định.Một tài sản được định giá đúng ở đây trong thực tế có lẽ là một tài sản tổng hợp- tức là một danh mục đầu tư bao gồm nhiều tài sản được định giá chính xác. Danh mục này có cùng tình trạng với tài sản bị định giá sai đối với các yếu tố kinh tế vĩ mô. Các nhà kinh doanh chênh lệch tạo nên danh mục bằng cách xác định số tài sản được định giá đúng( một trên một nhân tố cộng một) và sau đó xác định tỷ trọng của các tài sản để cho beta của danh mục trên mỗi yếu tố cũng giống như beta của mỗi yếu tố đối với tài sản bị định giá sai.Khi nhà đầu tư nắm giữ tài sản và bán khống danh mục hoặc ngược lại, anh ta đang tạo ra một vị thế có tỷ suất sinh lợi kỳ vọng dương( chính là sự khác biệt giữa tỷ suất sinh lợi tài sản và tỷ suất sinh lợi danh mục). Nhà kinh doanh chênh lệch ở vào vị thế kiếm lợi nhuận phi rủi ro.Khi giá hôm nay là quá thấp: ám chỉ rằng vào cuối thời kỳ danh mục đầu tư sẽ được đánh giá theo tỷ suất sinh lợi được chỉ ra trong mô hình APT, trong khi đó, tài sản bị định giá sai sẽ được đánh giá cao với mức với tỷ suất sinh lợi cao hơn tỷ suất sinh lợi trên. Do đó nhà kinh doanh chênh lệch có thể:Hôm nay: Bán khống danh mục đầu tư sau đó dùng tiền mua tài sản bị định giá sai, vào cuối giai đoạn sẽ bán tài sản bị định giá sai, sử dụng tiền đó mua danh mục trở lại, và bỏ túi phần chênh lệchNếu giá hôm nay là quá cao: ám chỉ rằng vào cuối giai đoạn, danh mục sẽ được định giá theo tỷ suất sinh lợi được chỉ ra trong APT, trong khi đó tài sản bị định giá sai sẽ bị đánh giá theo mức tỷ suất sinh lợi thấp hơn mức trên. Do đó nhà kinh doanh chênh lệch có thể:Hôm nay: bán khống tài sản bị định giá sai, dùng tiền đó mua danh mục. Vào cuối giai đoạn sẽ bán danh mục, dùng tiền đó mua lại tài sản bị định giá sai, bỏ túi phần chênh lệch.Mối quan hệ với mô hình định giá tài sản vốnAPT theo sau CAPM là một trong hai lý thuyết có sự ảnh hưởng lớn đến việc định giá tài sản. APT khác với CAPM ở chỗ, APT có ít giả định hơn, do đó nó cho một mô hình giải thích tốt hơn về tỷ suất sinh lợi của tài sản. Gỉa định rằng mỗi nhà đầu tư sẽ nắm giữ một danh mục đầu tư duy nhất với các beta đặc trưng của riêng nó. Hiểu theo một cách nào đó thì CAPM là trường hợp đặc biệt của APT trong đó đường thị trường chứng khoán đại diện cho giá tài sản của mô hình một nhân tố, nơi mà beta chỉ thể hiện sự thay đổi trong giá trị của thị trường.Thêm vào đó, APT có thể được xem giống như là mô hình “một bên cung”, bởi vì các hệ số beta cho thấy mức ảnh hưởng nhạy cảm của tài sản cơ sở với các yếu tố kinh tế. Do đó, các sự thay đổi các nhân tố sẽ gây nên sự thay đổi cấu trúc trong tỷ suất sinh lợi kỳ vọng của tài sản hoặc trong trường hợp của cổ phiếu, là khả năng sinh lợi của một công ty.Một mặt, mô hình định giá tài sản vốn CAPM được xem là mô hình” một bên cầu”. Các kết quả của nó, mặc dù tương tự với các kết quả đó trong mô hình APT, nhưng nó phát sinh từ các vấn đề lớn của mỗi nhà đầu tư và từ kết quả sự cân bằng thị trường.( nhà đầu tư được xem như là” người tiêu dùng” của các tài sản.Sử dụng mô hình APTXác định các nhân tốCũng giống như với CAPM, các bêta xác định nhân tố được tìm thấy thông qua hồi quy tuyến tính của tỷ suất sinh lợi các chứng khoán trong lịch sử. Nhưng không giống CAPM, APT tự nó không bộc lộ các nhân tố xác định giá của nó.- Số lượng và tính tự nhiên của của các nhân tố này thường thay đổi qua thời gian và giữa các nền kinh tế. Dưới đây là gợi ý để tìm kiếm các yếu tố có thể ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lợi của tài sản: Ảnh hưởng của chúng lên các thay đổi không mong đợi trong giá tài sản là rõ ràng Chúng nên đại diện cho các ảnh hưởng không đa dạng hóa ( đó là ; rõ ràng, đề cập đến các yếu tố kinh tế vĩ mô hơn là các yếu tố riêng có của công ty) Đòi hỏi tính đều đặn và thông tin chính xác của các biến Mối quan hệ nên được xem xét trên nền tảng kinh tế Chen, Roll và Ross đã xác định các yếu tố kinh tế vĩ mô sau là rất quan trọng trong việc giải thích tỷ suất sinh lợi của chứng khoán: Sự thay đổi trong lạm phát Sự thay đổi trong GNP được chỉ ra bởi chỉ số sản xuất công nghiệp Sự thay đổi trong lòng tin nhà đầu tư Sự thay đổi trong đường cong tỷ suất sinh lợi trái phiếu Một số nhân tố khác có thể được sử dụng là : Lãi suất ngắn hạn Khác biệt giữa lãi suất ngắn hạn và lãi suất dài hạn Một chỉ số chứng khoán được đa dạng hóa ví dụ như S&P500 hoặc chỉ số Composite NYSE Sự thay đổi trong giá vàng hoặc giá các kim loại quý khác Sự thay đổi trong tỷ giá hối đoái.
Arbitrage Pricing Theory (APT) / Lý Thuyết Định Giá Arbitrage
Arbitrage Pricing Theory (APT) là một mô hình công cụ tài chính và hành vi vốn đầu tư dựa trên giả định rằng nếu phần thu hồi của tài sản đầu tư có thể được miêu tả qua các cấu trúc chứa các nhân tố chính hay các mô hình, phần lợi nhuận dự tính của mỗi tài sản trong danh mục đầu tư có thể được biểu diễn qua sự kết hợp của các hiệp phương sai của các nhân tố và các phần lãi của tài sản. Các nhân tố có thể là bất kì hoặc là các biến số kinh tế vĩ mô, như tỉ suất lợi nhuận, lạm phát, sản xuất công nghiệp, v.v.. Mô hình yếu tố kết quả có thể được sử dụng để tạo ra các danh mục đầu tư theo sát chỉ số thị trường, để dự đoán và theo dõi các rủi ro của một chiến lược phân bổ tài sản, hoặc để dự đoán các phản ứng có thể xảy ra của một danh mục đầu tư đối với sự phát triển kinh tế. Bắt đầu từ mô hình ban đầu của Stephen Ross, mô hình APT đã được tạo ra để ứng dụng trong hầu hết các thị trường tiền mặt và thị trường phái sinh.
Additive Utility Function / Hàm Thoả Dụng Phụ Trợ
Additive Utility Function là một dạng hàm thoả dụng: U=Ua +Ub+Uc . Trong đó U là độ thoả dụng a,b,c ;a hàng hoá thay thế trong các hệ thống chi tiêu tuyến tính, các nhóm hàng hoá này không thể thay thế cho nhau.
Additional Worker Hypothesis / Giả Thuyết Công Nhân Thêm Vào
Theo giả thuyết công nhân thêm vào, thu nhập thực tế của gia đình giảm trong thời kỳ suy thoái theo chu kỳ sẽ gây ra HIỆU ỨNG THU NHẬP.
Arbitrage With Financial Futures / Kĩ Thuật Arbitrage Đối Với Futures Tài Chính
Arbitrage With Financial Futures là Kĩ Thuật Arbitrage, các chỉ số cổ phiếu và các hợp đồng futures của các chỉ số đó thường không biến động tách rời nhau. Khi chúng biến động không đồng thời, giá hợp đồng futures của chỉ số sẽ biến động mạnh hơn hoặc yếu hơn so với chính chỉ số đó. Những người giao dịch có thể kiếm được rất nhiều tiền bằng cách mua một hợp đồng rẻ hơn đồng thời bán một hợp đồng đắt hơn. Kỹ thuật này được gọi là arbitrage, và công cụ chính để thực hiện kỹ thuật này là một chương trình máy tính rất phức tạp theo dõi các biến động về giá. Thông thường, chênh lệch giá chỉ chiếm một tỷ lệ trên một đôla. Nhưng những người buôn chứng khoán giao dịch một khối lượng lớn các hợp đồng vào cùng một thời điểm, vì vậy kết quả thu được sẽ rất rõ ràng - nếu thời điểm đó là lúc thuận lợi. Đồng thời do có rất nhiều người buôn chứng khoán đều đưa ra quyết định như vậy vào cùng một thời điểm, việc mua và bán của họ có thể tạo ra những thay đổi trong các thị trường mà họ tham gia giao dịch.





