Thuật Ngữ Kinh Tế

A B C D E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Z Tất cả

Back Contract / Hợp Đồng Chưa Đáo Hạn

Với hợp đồng futures còn nhiều thời gian sau mới đáo hạn, người ta dùng thuật ngữ Back Contracts (Back Contract). Loại hợp đồng này còn được gọi là Back months hay Distant contracts - nghĩa là hợp đồng còn nhiều tháng nữa mới đáo hạn, ngược lại với Front contracts - hợp đồng gần đến ngày đáo hạn.

Baby Boomer / Thời Kỳ Bùng Nổ Trẻ Sơ Sinh

Những người sinh ra vào Thời kì bùng nổ trẻ sơ sinh được gọi là Baby Boomer. Một người được gọi là Baby Boomer khi người đó sinh vào khoảng thời gian từ năm 1946 - 1964 ở Anh, Mỹ, Canada và Australia. Sau Chiến tranh thế giới thứ II, những nước này chứng kiến sự ra tăng đội ngột trong tỉ lệ sinh đẻ, vì vậy hiện tượng này được đặt tên là Thời kì bùng nổ trẻ sơ sinh. Có khoảng 76 triệu trẻ con Mỹ sinh ra trong thời kì 1945 - 1964. Vào năm 2007, thuật ngữ này dùng để chỉ những người có độ tuổi từ 43-62. Những người sinh ra ở thời kì Baby Boom chiếm gần 28% dân số Mỹ. Thuật ngữ Thế Hệ Sandwich đã được đưa ra vào những năm 1980 để chỉ những người thuộc thế hệ Baby Boom phải chăm sóc cả con cái lẫn bố mẹ của mình.

Baby Bond / Trái Phiếu Mệnh Giá Nhỏ

Baby Bond là loại trái phiếu nợ khả hoán hay trực tiếp có mệnh giá dưới $1.000 dollar, thường từ $25 đến $500. Trái phiếu có mệnh giá nhỏ làm cho thị trường trái phiếu vừa tầm với nhà đầu tư nhỏ (ít tiền), vì lẽ đó mở ra một nguồn quỹ thích hợp với các công ty không đủ điều kiện tham gia vào các thi trường tài chính lớn . Nhưng ngược lại, trái phiếu đòi hỏi phí quản lý cao hơn (tương ứng với tổng số tiền được tăng) đối với việc phân phối và tiến trình thực hiện và không có thị trường lớn và năng động để bảo đảm khả năng chuyển đổi ra tiền mặt (khả năng thanh toán) như các trái phiếu thông thường. Baby bond còn có thể được gọi theo một tên khác là "small dollar bond", trong quá khứ nó được dùng rất phổ biến ở Mỹ đặc biệt là thời kì chiến tranh. Ví dụ như trong thời kì Nội chiến Nam Bắc, chính quyền liên minh đã trang trải hầu hết chi phí chiến tranh bằng việc bán loại cổ phiếu này và trong Thế chiến thứ I một lần nữa trái phiếu này lại giúp đất nước Mỹ về chiến phí. Vào tháng 3-1935 chính phủ Mỹ đã phát hành một loạt trái phiếu "small dollar bond", đây là loại trái phiếu nợ đầu tiên cung cấp cho các nhà đầu tư trung bình nên được gọi là trái phiếu A, sau đó vào năm 1936 phát hành trái phiếu B, năm 1937 và 1938 là trái phiếu C và từ năm 1039-1941 là trái phiếu D. Việc phát hành trái phiếu này là một thành công lớn đối với chính phủ Mỹ vì nó đã đem lại một khoản tiền tương đối là 3,9 tỉ đôla. Tuy nhiên trên thị trường trái phiếu ngày nay, thuật ngữ Baby bond không còn hay được dùng để chỉ trái phiếu Mỹ nữa, mà thay vào đó là chỉ những trái phiếu mệnh giá nhỏ do chính phủ hoặc các chính quyền địa phương phát hành nhằm trang trải vốn cho các dự án xây dựng đắt đỏ.Trái phiếu này thường có kỳ hạn từ 8 đến 15 năm, xếp loại A và đánh giá là rất hấp dẫn. Không có một khoản hoa hồng nào khi buôn bán loại trái phiếu này vì chúng thường được mua bán cá nhân, giữa những nhà đầu tư nhỏ với nhau. Ta có thể xem một ví dụ về việc phát hành Baby bond của thành phố New York, trái phiếu được bán với giá 975$ nhưng giá trị thực của nó lên tới 5000$ khi được bán lại đúng thời hạn vào năm 2019. Người mua phải có trách nhiệm tự quản lý loại trái phiếu này, từ việc tìm cách cất giữ chúng ở đâu cho an toàn nhất đến việc biết chính xác khi nào trái phiếu đến hạn và được đổi ra tiền mặt. Trái phiếu cũng có thể được giữ ở tài khoản tiền gửi của người mua. Một vài tổ chức tài chính ngày càng nhận thấy sự tăng trưởng mạnh mẽ của thị trường trái phiếu này và bắt đầu cung cấp các dịch vụ quản lý. Dịch vụ đầu tiên được đưa ra vào năm 1993 bởi công ty Midwest Securities Trust, một chi nhánh của thị trường chứng khoán Chicago, theo "chương trình giữ an toàn cho Baby bond" của công ty, các nhà đầu tư mà sở hữu một lượng trái phiếu Baby bond có trị giá trấp hơn 1000$ sẽ nhận được một tài khoản ổn định do dịch vụ thanh toán lãi suất và tiền mặt tự động khi trái phiếu đến hạn. Ngoài ra, trong những năm 1990, thuật ngữ Baby bond còn có một cách hiểu khác cũng hết sức thú vị, bắt nguồn từ nghĩa trực tiếp của từ Baby, xuất hiện lần đầu tiên ở Anh, đó là một công cụ tiết kiệm mà bố mẹ mua để chuẩn bị một quĩ vốn nhất định cho con cái khi đến tuổi 18. Việc mua trái phiếu này diễn ra trong 10 năm, trong suốt thời gian này bố mẹ có thể đóng góp hàng tháng từ 10 đến 25 Bảng Anh vào quĩ tiết kiệm này. Những người tham gia đầu tư vào loại trái phiếu này không phải đóng thuế thu nhập hay lợi nhuận.

Đây là chứng khoán thu nhập cố định được phát hành theo mệnh giá nhỏ, thường có mệnh giá tối đa là 5.000 đô la. Các mệnh giá nhỏ tăng sức thu hút của trái phiếu mệnh giá nhỏ cho các nhà đầu tư bán lẻ trung bình. Trái phiếu mệnh giá nhỏ hiện được phát hành chủ yếu bởi các thành phố, quận và tiểu bang để tài trợ cho các dự án cơ sở hạ tầng đắt đỏ và các khoản chi tiêu sử dụng vốn. Các trái phiếu đô thị được miễn thuế này thường có cấu trúc như trái phiếu không được nhận trái tức với thời gian đáo hạn từ 8 đến 15 năm. Trái phiếu mệnh giá nhỏ là các trái phiếu có mệnh giá từ 75 đến 1.000 đô la, do chính phủ Hoa Kỳ phát hành từ năm 1935 đến 1941. Những trái phiếu được miễn thuế này được bán với giá 75% mệnh giá và có thời gian đáo hạn là 10 năm Ở Hoa Kỳ, trái phiếu mệnh giá nhỏ đề cập đến một loại trái phiếu được ra mắt vào cuối những năm 1990 với mục tiêu khuyến khích các khoản tiết kiệm cho trẻ nhỏ của cha mẹ chúng. Cha mẹ phải đóng góp một số tiền nhỏ hàng tháng trong ít nhất 10 năm; đổi lại, đứa trẻ nhận được một khoản tiền miễn thuế tối thiểu được đảm bảo sau khi bước sang tuổi 18.

BA / Mã Quốc Gia BA

BA là mã quốc gia của đất nước Bosnia and Herzegovina, được qui định trong ISO 3166 về mã nước. Bosnia and Herzegovina là một nước cộng hòa nằm trên bán đảo Balkan thuộc Nam Âu, giành độc lập từ Yugoslavia vào ngày 1-3-1992 và được công nhận vào 6-4-1992, với diện tích 51.129 km2, dân số khoảng 4 triệu người và ngôn ngữ chính thức được sử dụng là Bosnia- Herzegovina thuộc hệ Latin. Đất nước này được cai trị theo hình thức phân quyền và về mặt hành chính được phân thành 2 khu: Liên bang Bosnia và Herzegovina và Cộng hòa Srpska. Thủ đô đồng thời cũng là thành phố rộng nhất đất nước là Sarajero, đồng tiền sử dụng là Convertible mark (BAM). BA là mã quốc gia của đất nước Bosnia and Herzegovina, được qui định trong ISO 3166 về mã nước. Bosnia and Herzegovina là một nước cộng hòa nằm trên bán đảo Balkan thuộc Nam Âu, giành độc lập từ Yugoslavia vào ngày 1-3-1992 và được công nhận vào 6-4-1992, với diện tích 51.129 km2, dân số khoảng 4 triệu người và ngôn ngữ chính thức được sử dụng là Bosnia- Herzegovina thuộc hệ Latin. Đất nước này được cai trị theo hình thức phân quyền và về mặt hành chính được phân thành 2 khu: Liên bang Bosnia và Herzegovina và Cộng hòa Srpska. Thủ đô đồng thời cũng là thành phố rộng nhất đất nước là Sarajero, đồng tiền sử dụng là Convertible mark (BAM). Quốc kì của đất nước Bosnia and Herzegovina   Vị trí địa lí của Bosnia and Herzegovina Đất nước Bosnia and Herzegovina có địa hình khá đa dạng, với nhiều núi cao ở trung tâm và phía nam, ngay cả thủ đô Sarajero cũng được bao quanh bởi núi non trùng điệp, đồi ở phía tây bắc và đồng bằng tập trung ở phía đông bắc. Với địa hình lý tưởng như vậy, Sarajero đã trở thành chủ nhà của thế vận hội Mùa đông Olympic năm 1984. Sau khi giành độc lập, Bosnia and Herzegovina một lúc phải đối mặt với hai vấn đề đó là tái thiết lại nền kinh tế đổ nát trong chiến tranh và tiến hành cuộc cải cách hướng tới nền kinh tế kế hoạch tập trung. Trong phần lớn lịch sử của Bosnia, nông nghiệp là ngành chủ chốt và được phát triển trong các trang trại nhỏ do tư nhân quản lí và làm ăn không hiệu quả mấy. Chiến tranh trong những năm 1990 đã phá hủy toàn bộ cơ sở vật chất của đất nước này, từ năm 2000 khả năng sản xuất đã được khôi phục đáng kể, GDP 2004 tăng 10% so với năm 2004, và GDP năm 2006 là 30 tỉ $, đứng thứ 90 trên thế giới, tính theo đầu người là 7.962$, xếp thứ 80. Tuy nhiên tỉ lệ thất nghiệp cao và thâm hụt thương mại trầm trọng vẫn là khó khăn to lớn nhất mà Bosnia and Herzegovina phải đối mặt. Đất nước cộng hòa này với địa hình phong phú, đã có được những lợi thế đặc biệt trong việc phát triển du lịch; doanh thu từ du lịch tăng trung bình 24% một năm (1995-2000) và theo như dự báo của Tổ chức du lịch thế giới thì Bosnia and Herzegovina sẽ trở thành quốc gia có tăng trưởng du lịch cao thứ 3 thế giới trong 15 năm 1995-2020. Tuy là một đất nước tương đối nhỏ nhưng Bosnia rất quan tâm đến việc xây dựng một hệ thống giáo dục hiện đại chất lượng cao, đây là một trong những nền giáo dục tiến bộ, tri thức và kỉ luật nhất trên thế giới. Hệ thống giáo dục ở Bosnia không chỉ khích lệ việc học tập và nghiên cứu mà còn rất coi trọng những thành tích mang tầm cỡ thế giới, và đất nước này đã sở hữu hai giải Nobel về Hóa học và Văn học vào các năm 1975 và 1961. Tuy nhiên cuộc chiến tranh vào những năm 1990 đã gây ra hiện tượng chảy máu chất xám và kết quả là rất nhiều công dân Bosnia làm việc trong lĩnh vực công nghệ cao đã di cư sang Nam Mỹ, châu Âu và Úc sinh sống. Và chỉ rất ít trong số họ đã quay trở lại đất nước với kinh nghiệm và kiến thức đúc kết từ phương Tây để xây dựng đất nước. Hiện nay ở Bosnia có 7 trường đại học, và các trường cao đẳng vệ tinh, tuy nhiên trong suốt 15 năm qua hệ thống này không được hiện đại hóa vì chiến tranh và những lí do chính trị khác, chính vì vậy hiện nay nền giáo dục Bosnia không thể bắt kịp với phương Tây.

B2B - Business To Business / Mô Hình Kinh Doanh Điện Tử B2B

B2B (Business to Business) là loại hình giao dịch qua các phương tiện điện tử và mạng viễn thông đặc biệt là Internet giữa các doanh nghiệp với doanh nghiệp, hơn là với khách hàng. Sau khi đăng kí trên các sàn giao dịch B2B, các doanh nghiệp có thể chào hàng, tìm kiếm bạn hàng, đặt hàng, ký kết hợp đồng, thanh toán qua hệ thống này. Thương mại điện tử B2B đem lại lợi ích thực tế cho các doanh nghiệp, đặc biệt giúp các doanh nghiệp giảm chi phí về thu thập thông tin tìm hiểu thị trường, quảng cáo, tiếp thị, đàm phán và tăng cường cơ hội kinh doanh. Thương mại điện tử (TMĐT) ra đời và phát triển cùng với sự hình thành của 5 mô hình chính: B2C, B2B, B2G, C2C và G2C, tuy nhiên mô hình B2B vẫn chiếm tỷ trọng chủ yếu trong doanh số TMĐT của một quốc gia. Doanh số TMĐT B2B chiếm 92% - 95% doanh thu TMĐT toàn cầu trong 3 năm 2003-2005. B2B phụ thuộc vào năng lực và khả năng sẵn sàng kinh doanh điện tử (e-business). Để triển khai B2B, DN trước hết cần đẩy mạnh ứng dụng CNTT bằng cách tin học hoá các quy trình kinh doanh, quy trình quản lý, quản trị trong nội bộ DN. Và tiến xa hơn, xây dựng các cơ sở dữ liệu nội bộ, tích hợp các quy trình để hỗ trợ việc ra quyết định kinh doanh, kết nối với các đối tác. Điển hình và cũng là ở mức độ phát triển cao nhất của TMĐT B2B phải kể đến mô hình www.alibaba.com. Được thành lập và hoạt động từ năm 1999, Alibaba.com là công ty Dot.com đầu tiên của Trung Quốc thành lập một sàn giao dịch điện tử và hiện nay là một trong những sàn giao dịch thương mại Thế giới lớn nhất và nơi cung cấp các dịch vụ Marketing trên mạng hàng đầu cho những nhà xuất khẩu và nhập khẩu. Alibaba.com cũng là điểm đến đầu tiên và cũng là điểm tới cuối cùng cho các nhà xuất nhập khẩu muốn nắm bắt cơ hội và xúc tiến kinh doanh trên mạng. Trang Web hiện có hơn 4.830.000 thành viên đăng kí đến từ 240 nước khác nhau. Trong 4 năm (2002-2005) liền trang Web công ty vinh dự nhận được giải thưởng "Best of the Web B2B" do tạp chí Forbes bình chọn, với danh mục hơn 27 lĩnh vực và hơn 1300 loại sản phẩm từ những sản phẩm may mặc cho đến đồ điện tử. Hiện nay hai thị trường hoạt động chính của Alibaba.com là Trung Quốc và Nhật bản, nhưng trong ngắn hạn công ty nhắm tới hai thị trường lớn khác là Singapore và Hàn Quốc và trong dài hạn sẽ trở thành cầu nối giữa thị trường Châu Á và Âu-Mỹ.

B Bond/Trái phiếu B

B Bond là trái phiếu huộc loại trái phiếu tiết kiệm. Được chính phủ Mỹ phát hành và bán năm 1936.

Absolute Income Hypothesis / Giả Thuyết Thu Nhập Tuyệt Đối

Giả thuyết này cho rằng các chi phí tiêu dùng (C) là một hàm số của thu nhập khả dụng của cá nhân (Yd): C = C(Yd). Quan điểm này về các yếu tố quyết định tiêu dùng được trình bày chi tiết trong lý thuyết tổng quát của Keynes, người đã đưa ra giả định rằng tiêu dùng sẽ có quan hệ hàm số với thu nhập theo những cách sau đây: Thứ nhất, đối với bất cứ thay đổi nào trong thu nhập, sự thay đổi tương ứng trong tiêu dùng sẽ cùng hướng nhưng ở mức thấp hơn, do đó khuynh hướng tiêu dùng biên sẽ nhỏ hơn 1. 0 < ∆C/∆Y < 1 (Trong đó ∆ là thay đổi nhỏ) Thứ hai, khuynh hướng tiêu dùng sẽ nhỏ hơn khuynh hướng tiêu dùng trung bình: ∆C/∆Y < C/Y. Cuối cùng, tỷ lệ thay đổi khuynh hướng tiêu dùng biên sẽ là âm; có nghĩa là hàm tiêu dùng sẽ ít dốc hơn khi thu nhập tăng. Trong khi dãy số liệu theo thời gian ngắn hạn và số liệu chéo về dạng hàm tiêu dùng ủng hộ mạnh mẽ giả thuyết Keynes thì số liệu dài hạn lại đối lập với nó. Kết quả là dạng này của hàm tiêu dùng chỉ bao hàm những mô hình đơn giản nhất.

Average Daily Balance / Số Dư Bình Quân Hàng Ngày

1. Số tiền bình quân trong một tài khoản tiên gửi bằng với tổng số dư tiền gửi hàng ngày trong suốt kỳ kế toán, thường là một tháng chia cho số ngày.  2. Phương pháp tính chi phí tài chính thẻ tín dụng, được tính bằng cách lấy số dư vào đầu mỗi ngày cộng với các phí mới phát sinh ngày đó, và trừ đi mọi khoản thanh toán cho việc mua. Tổng số kết quả, được chia cho số ngày trong kỳ tính hóa đơn, rồi nhân với chi phí hành chính.

Average Down / Hạ Thấp Giá Trung Bình

1. Quá trình mua thêm cổ phiếu trong một công ty với giá thấp hơn giá ban đầu. Nó làm cho giá trung bình của tất cả cổ phiếu bạn mua giảm. 2. Chiến lược nhằm hạ thấp giá trung bình phải trả cho cổ phiếu của một công ty. Ví dụ một nhà đầu tư muốn mua 1.000 cổ phiếu có thể mua 400 cổ phiếu theo giá thị trường hiện hành và mua tiếp 3 lần sau, mỗi lần 200 cổ phiếu khi giá rớt. Như thế giá trung bình của cổ phiếu sẽ thấp hơn nếu mua một lần tất cả 1.000 cổ phiếu. Các nhà đầu tư cũng kéo giá trung bình xuống để giảm bớt những mất mát do thuế. Nếu một người nào đó mua cổ phiếu với giá $20 mỗi cổ phiếu, sau đó giá hạ xuống còn $10. Thay vì không làm gì cả, nhà đầu tư có thể mua với giá $10 sau đó bán lỗ cổ phiếu đã mua với giá $20, như thế có thể dùng để bù trừ cho số tiền khác đã kiếm được trong thời gian tính thuế. Tuy nhiên theo quy luật Mua Bán Phủi Tay (wash sale) nói rằng để được quyền khai là đã thua lỗ, nhà đầu tư không được bán chứng khoán đã mua với giá $20 ít nhất là 30 ngày sau khi mua chứng khoán với giá $10. Đôi khi, đây một chiến lược tốt, nhưng đôi khi, ta nên bán tất cả cổ phiếu bị hạ giá thay vì mua thêm vào.

Average Life / Thời Gian Hữu Dụng Trung Bình

Average Life là:  1. Ước lượng thời gian đến ngày đáo hạn của trái phiếu, tính cả khả năng trả tiền sớm. Thời gian hữu dụng trung bình được tính toán sử dụng trung bình trọng số của thời gian tính đến khi nhận được hết các dòng tiền trong tương lai. 2. Số năm tính đến thời điểm khi 1/2 của mỗi dollar vốn ban đầu bỏ ra mua một chứng khoán sẽ được chi trả. Thời gian hữu dụng trung bình là một phương pháp tính nhanh thời điểm thu hồi trái phiếu, đồng thời xác định lợi suất khi đáo hạn của trái phiếu. Cách tính này chỉ có tính tương đối bởi vì nó phụ thuộc vào các khoản chi trả trước của người vay và nhiều yếu tố khác. Ví dụ, một khoản thế chấp 30 năm thông thường sẽ trả trước nhanh hơn nhiều so với các dạng khác. Một nửa thời gian hữu dụng của trái phiếu doanh nghiệp hay chính phủ thường được xác định bằng các khoản chi trả trước vào các quỹ chi phí chìm. Còn được gọi là thời gian hữu dụng bình quân trọng số đối với chứng khoán bảo đảm bằng thế chấp hay Đáo hạn trung bình (Average Matusity) đối với trái phiếu chính phủ và doanh nghiệp.

Average Life / Thời Gian Sống Bình Quân

Số năm đến thời ddierm thanh toán 50% giá trị ban đầu bằng tiền của một chứng khoán. Thời gian bình quan là phương pháp thanh toán tính ngày thu hồi trái phiếu, xác định suất thu lợi đáo hạn. Cách tính này chỉ xấp xỉ, vì nó phụ thuộc vào việc thanh toán trước của người vay và các yếu tố khác. Ví dụ một vài khoản vay cầm cố quy ước 30 năm sẽ trả trước nhanh hơn các cầm cố khác. Phân nửa kỳ đáo hnaj của các trái phiếu công ty và đô thị thường được xác định bởi việc trả trước vào quỹ thanh toán nợ. Cũng được gọi là kỳ đáo hạn bình quân trọng số với các chứng khoán được đảm bảo bằng cầm cố hay kỳ đáo hạn bình quân với các trái phiếu công ty và trái phiếu đô thị.  Xem CASH FLOW YIELD; DURATION; HALF LIFE.

ADJUSTING INTEREST RATE

Một trong số các công cụ mà FED sử dụng khi muốn nền kinh tế thay đổi theo hướng tăng hay giảm là lãi suất chiết khấu. Nếu lãi suất chiết khấu tăng lên, các ngân hàng có xu hướng vay ít hơn và tiền sẵn sàng để cho vay tới khách hàng giảm đi. Nếu lãi suất giảm, ngân hàng có xu hướng vay tự do hơn và cho vay tới khách hàng ở mức lãi suất hấp dẫn hơn. Kết quả là những thay đổi về lãi suất chiết khấu có ảnh hưởng rộng khắp đến nền kinh tế. Và nếu FED không thoả mãn với phản ứng kinh tế, no có thể hạ hoặc tăng lãi suất lần thứ 2, lần thứ 3...

Adjustment Process / Quá Trình Điều Chỉnh

Đây là thuật ngữ chung chỉ các cơ chế điều chỉnh hoạt động trong nền kinh tế thế giới nhằm loại bỏ những mất cân đối trong thanh toán với nước ngoài. Những cơ chế liên quan đến bản vị vàng, chế độ bản vị hối đoái, thừa số ngoại thương, tỷ giá hối đoái thả nổi.

Administrative Expense / Chi Phí Quản Lí; Chi Phí Quản Trị

Administrative Expense là chi phí xảy ra trong quá trình quản lí chung của doanh nghiệp. Ví dụ bao gồm lương quản lí, tiền thuê văn phòng và trang thiết bị cho đội ngũ quản lí, chi phí bảo hiểm, các dịch vụ được sử dụng cho đội ngũ quản lí, trang thiết bị mất giá. Ví dụ, trang thiết bị mất giá 1000 đôla, trong đó 60% liên quan đến bán hàng và 40% liên quan đến quản lí tính theo mét vuông hoặc tính theo lượng nhân viên, thì báo cáo thu nhập sẽ phát biểu rằng 600 đôla là chi phí bán hàng và 400 đôla là chi phí quản lí. Administrative Expenses là các chi phí mà một tổ chức phải chịu không liên quan trực tiếp đến một chức năng cụ thể như chế tạo hoặc sản xuất hoặc bán hàng. Các chi phí này có liên quan đến toàn bộ tổ chức, trái ngược với một bộ phận riêng lẻ; còn được gọi là "administrative cost." Tiền lương của giám đốc điều hành cấp cao và chi phí cho các dịch vụ chung như kế toán là ví dụ về chi phí quản trị.

Advance Refunding / Thanh Toán Tạm Ứng Trước

Đợt phát hành trái phiếu để thanh toán cho những trái phiếu chưa thanh toán khác. Trái phiếu mới này thường được phát hành với mệnh giá thấp hơn mệnh giá trái phiếu chưa thanh toán trước đây. Một đợt phát hành trái phiếu mà trái phiếu được bán với giá thấp hơn trái phiếu chưa được thanh toán trước đây. Số tiền thu được sẽ được đầu tư, và khi những trái phiếu trước đây có thể trả ngay được, chúng sẽ được thanh toán dứt với số tiền thu được từ đầu tư. Theo Investopedia Thanh toán tạm ứng trước thường được Chính phủ sử dụng để trì hoãn việc trả nợ của mình thay vì phải trả ngay một khoản tiền lớn. Trái phiếu nhà nước thường được miễn thuế, nhưng nếu được phát hành để thanh toán tạm ứng trước, nó sẽ không được miễn thuế nữa, bởi vì trái phiếu nhà nước thường có lãi suất thấp hơn, và chính quyền có thể sử dụng thanh toán tạm ứng trước để phát hành lượng không giới hạn các khoản vay với lãi suất thấp để đầu tư với lãi suất cao hơn.

Adverse Opinion / Ý Kiến Bất Lợi

Adverse Opinion là thuật ngữ được sử dụng khi một kiểm toán viên cho rằng báo cáo tài chính của công ty không phản ánh đúng tình hình tài chính, kết quả của sự điều hành, thay đổi trong tình hình tài chính hoặc không phù hợp với tiêu chuẩn Gaap. Kiểm toán viên phải đưa ra được lý do cho ý kiến bất lợi của mình trong báo cáo kiểm toán. Ý kiến bất lợi thường chỉ có khi CPA (Kế toán có chứng chỉ hành nghề tiêu chuẩn) không thể thuyết phục được khách hàng thay đổi báo cáo tài chính, nên họ phải phản hồi đánh giá của kiểm toán viên về kết quả các sự kiện trong tương lai nếu không họ sẽ phải tôn trọng GAAP.

Adverse Selection / Lựa Chọn Đối Nghịch

Adverse Selection là khuynh hướng của những người đang đối mặt với nguy hiểm hay rủi ro muốn được bảo hiểm. Ví dụ, những người đang mắc bệnh hiểm nghèo sẽ muốn mua bảo hiểm sức khỏe và những người đến những vùng nguy hiểm như khu vực chiến tranh muốn mua nhiều bảo hiểm nhân thọ hơn. Các công ty thuê nhân công cho những vị trí nguy hiểm muốn có mức bảo hiểm bồi thường lớn hơn cho công nhân. Để hạn chế những rắc rối với lựa chọn bất lợi, các công ty bảo hiểm cố gắng giảm chi phí quảng cáo đến những người đối tượng phải bồi thường cao bằng cách tăng phí bảo hiểm hay hạn chế bảo hiểm cho những đối tượng này.

Advertising - Advertisement / Quảng Cáo

Advertising là danh từ không đếm được, ám chỉ một hành động thông báo với khách hàng về sản phẩm, dịch vụ, hoặc nguyên vật liệu mà công ty sử dụng để tạo ra sản phẩm dịch vụ. Advertisement là danh từ đếm được, ám chỉ một bản tin quảng cáo, như bản thông báo, hoặc một đoạn phim về một sản phẩm cụ thể. Advertisement thường được viết tắt là ad (tiếng Anh-Anh hoặc Anh-Mỹ) hoặc advert (Anh-Anh).

Advertising - Sale Ratio / Tỷ Lệ Doanh Số - Quảng Cáo

Advertising - Sale Ratio là tỷ lệ chi phí quảng cáo của các hãng trên tổng doanh thu bán hàng.

Advertorial / Quảng Cáo Thương Mại

Các công ty Việt Nam hiện nay đã chú trọng hơn đến vai trò của PR, trong đó có việc sử dụng các bài báo theo dạng Advertorial, thuật ngữ được dùng trong ngành PR (Public Relations). Advertorial - Bài báo thương mại, là khái niệm chỉ việc công ty mua trang trên các báo để đưa những thông tin mình cần đưa. Từ này là sự kết hợp của 2 từ “quảng cáo” và “biên tập”. Đôi khi, Advertorial được miêu tả như một công cụ xúc tiến hỗ trợ. Các công ty thường trình bày Advertorial theo phong cách một bài báo thông thường, đôi lúc thông tin “trông có vẻ” khách quan để tăng sức thuyết phục, khác với hình thức quảng cáo là công khai tung hô về mình. Nhiều tờ báo có đội ngũ chuyên viết bài theo kiểu Advertorial, hoặc có thể sử dụng những người làm nghề tự do. So với các hình thức PR truyền thống như đưa tin, viết bài, phỏng vấn,...hình thức. Advertorial có ưu thế là doanh nghiệp có thể đưa thông tin và hình ảnh của mình đến bạn đọc một cách đầy đủ và không sợ ban biên tập tờ báo chỉnh sửa. Cách này cũng tạo “cảm giác đáng tin cậy” hơn vì được trình bày giống một bài viết. Tuy nhiên, Advertorial cũng dễ bị “lộ tẩy” là một bài quảng cáo thông thường và gây phản cảm. Các công ty Việt Nam hiện nay đã chú trọng hơn đến vai trò của PR, trong đó có việc sử dụng các bài báo theo dạng Advertorial.

Chuột không dây Ugreen M751 với con lăn vô cực Máy chơi game retro Powkiddy X55