Thuật Ngữ Kinh Tế

A B C D E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Z Tất cả

Advising Bank, Notifying Bank / Ngân Hàng Thông Báo

Advising Bank, Notifying Bank là một ngân hàng tham gia trong sơ đồ thanh toán quốc tế bằng thư tín dụng, trong đó nó có vai trò thông báo cho người hưởng lợi rằng một L/C đã được mở tại ngân hàng phát hành cho người hưởng lợi và các điều khoản, điều kiện của L/C đó. Ngân hàng thông báo thường chỉ có trách nhiệm thông báo, chứ không nhất thiết có trách nhiệm đối với việc thanh toán L/C mà nó thông báo. Sau khi L/C được phát hành theo yêu cầu của người nhập khẩu, L/C này sẽ được chuyển tới ngân hàng thông báo. Ngân hàng thông báo tiếp đó có trách nhiệm chuyển nguyên văn L/C này tới cho người xuất khẩu. Ngân hàng thông báo có thể là chi nhánh hoặc một ngân hàng có quan hệ với ngân hàng phát hành tại nước người hưởng lợi. Để tránh tình trạng giả mạo, ngân hàng phát hành thường gửi L/C qua chi nhánh hoặc ngân hàng có quan hệ đại lý với nó, các ngân hàng này bao giờ cũng có chữ kí mẫu lưu trong hồ sơ để kiểm tra chữ kí trên L/C và một hệ thống mã hoá bí mật để phân biệt một L/C thật với một L/C giả mạo. Người xuất khẩu có thể yêu cầu người nhập khẩu chỉ định chính ngân hàng của người xuất khẩu làm ngân hàng thông báo trong đơn xin mở L/C. Ở một số nước, việc làm này đem lại nhiều lợi ích cho người xuất khẩu, như là chi phí thấp hơn do quan hệ tốt của người xuất khẩu với ngân hàng, giao dịch thuận tiện hơn khi mà người xuất khẩu đã có sẵn tài khoản tại ngân hàng này.

Affiliate / Liên Kết Thành Viên

Affiliate là quan hệ giữa hai công ty khi một công ty sở hữu số vốn góp đáng kể, nhưng dưới mức đa số cổ phần có quyền biểu quyết của công ty kia, hoặc khi cả hai đều là công ty phụ thuộc (công ty con) của công ty thứ ba. Hai công ty được gọi là liên kết thành viên khi một công ty chiếm ít hơn đa số cổ phiếu có quyền biểu quyết của công ty còn lại, hoặc cả 2 là công ty con của một công ty thứ 3. Một công ty chi nhánh là công ty mà trên 50% cổ phiếu có quyền biểu quyết được sở hữu bởi một công ty khác, được gọi là công ty mẹ. Một công ty chi nhánh theo định nghĩa, luôn là một liên kết, nhưng một liên kết được gọi là chi nhánh chỉ khi tồn tại sự kiểm soát đa số. Trong ngôn từ hàng ngày, liên kết là từ chính xác cho những quan hệ liên công ty, tuy nhiên không trực tiếp, khi mối quan hệ công ty mẹ- con không thích hợp. Trong bộ luật ngân hàng (Banking Act) năm 1933: tổ chức liên kết là bất kỳ tổ chức nào mà ngân hàng sở hữu hay kiểm soát bằng cách nắm giữ cổ phiếu, hoặc các cổ đông của ngân hàng sở hữu, hoặc các viên chức của tổ chức này cũng là các nhân sự quản lý của ngân hàng. Cơ quan thuế vụ: Nhằm mục đích thuế thu được thống nhất, một nhóm liên kết là tập hợp các công ty mà công ty mẹ của chúng sở hữu ít nhất 80% cổ phiếu có quyền biểu quyết.

Affiliate / Quan Hệ Liên Kết

Affiliate là quan hệ giữa hai công ty khi một công ty sở hữu số vốn góp đáng kể, nhưng dưới mức đa số cổ phần có quyền biểu quyết của công ty kia, hoặc khi cả hai đều là công ty phụ thuộc (công ty con) của công ty thứ ba.

Affiliate Marketing / Marketing Liên Kết

Affiliate Marketing là một phương pháp đẩy mạnh kinh doanh trực tuyến. Hình thức Marketing này được nhiều công ty cũng như cá nhân sử dụng để trong hoạt động tiếp thị trực tuyến và được phân loại thành: mạng lưới liên kết, các công ty quản lý liên kết và quản lý liên kết nội bộ. Đặc biệt là đối với nhóm đối tượng thứ ba, họ dùng nhiều phương pháp khác nhau để quảng cáo sản phẩm và dịch vụ của đối tác đến khách hàng của mình. Những phương pháp này bao gồm tối ưu hóa công cụ tìm kiếm một cách có hệ thống, tiếp thi công cụ tìm kiếm được trả trước, tiếp thị bằng thư và nhiều loại hình quảng cáo khác. Marking liên kết được đánh giá là cách sử dụng một trang web để hướng sự chú ý của công chúng đến trang web khác. Đây chính là một nhánh của tiếp thị trực tuyến. Trong khi các công cụ tìm kiếm, thư điện tử và RSS thu hút được nhiều sự chú ý của các khách hàng nhỏ lẻ trên mạng trực tuyến thì marketing liên kết đang tiếp tục giữ vai trò là yêu tố cơ bản trong các chiến lược tiếp thị của những đối tác nhỏ lẻ trên cộng đồng internet.

Affiliated / Thành Viên Chủ Chốt

Affiliated là một cá nhân ở vị trí có thể ảnh hưởng đến toàn bộ hoạt động của công ty. Các thành viên chủ chốt bao gồm ban giám đốc, ủy viên ban quản trị và chủ sở hữu. Tùy văn cảnh, "affiliated person" có thể được viết đơn giản là "affiliate"

Affiliated Company / Công Ty Con

Affiliated Company là những công ty cổ phần độc lập về pháp luật mà đa số phiếu của nó thuộc sở hữu của một công ty khác (tức công ty mẹ - holding company). Công ty con là chủ thể độc lập. Có bảng tổng kết tài sản riêng. Có Hội đồng quản trị và đại hội cổ đông riêng. Nhưng công ty mẹ có thể kiểm soát chặt chẽ các hoạt động của công ty con chủ yếu thông qua việc nắm cổ phiếu khống chế. Công ty con lại cũng có thể có công ty con của mình.

Affordability Index, Housing Affordability Index / Chỉ Số Đánh Giá Khả Năng Mua Nhà

Affordability Index, Housing Affordability Index là tiêu chuẩn được thiết lập bởi Hiệp Hội các nhà kinh doanh địa ốc Hoa Kì (National Association of Realtors - NAR) để đánh giá khả năng tài chính của khách hàng khi mua nhà. Chỉ số ở mức 100 nghĩa là thu nhập của gia đình đó là thu nhập của một gia đình trung bình (theo báo cáo của Ủy ban dân số Hoa Kỳ - Cencus Bureau) có thể vay có tài sản thế chấp cho một ngôi nhà giá trung bình điển hình cho một gia đình hạt nhân. Nếu chỉ số trên 100 nghĩa là gia đình có thể đáp ứng một khoản vay có tài sản thế chấp cho một ngôi nhà giá trung bình, với khoản thanh toán ngay khoảng 20%. Chỉ số càng cao thì khả năng đáp ứng cho một ngôi nhà giá trung bình càng cao. Lãi suất thế chấp hiện hành là lãi suất thực tế của khoản cho vay dựa trên nhà đang có sẵn. Khoản thế chấp căn cứ trên 80% khoản vay (20% khoản thanh toán ngay) và tỷ lệ theo tiêu chuẩn là 25%, nghĩa là 25% tổng thu nhập hàng tháng của người đi vay là cần thiết để chi trả chi phí nhà ở, bao gồm cả khoản thế chấp. Tỷ lệ theo tiêu chuẩn 25% đủ để chi trả khoản tiền lãi và khoản tiền vốn, nhưng không đủ cho thuế và bảo hiểm. Có 3 loại chỉ số được tính toán bởi NAR. Chỉ số lãi suất cố định được dựa trên lãi suất hiện hành của vay thế chấp có lãi suất cố định với thời gian 30 năm. Chỉ số lãi suất hiệu chỉnh được tính toán sử dụng lãi suất thực tế của vay thế chấp có lãi suất hiệu chỉnh. Chỉ số tổng hợp sử dụng giá trị trung bình của vay thế chấp có lãi suất cố định và lãi suất hiệu chỉnh, căn cứ theo tỷ trọng tương ứng của khoản vay lãi suất cố định và hiệu chỉnh dựa trên nhà đang có sẵn. NAR cũng tính toán chỉ số khả năng đáp ứng của những người mua nhà lần đầu tiên, chỉ ra những đặc điểm của người mua nhà lần đầu và ngôi nhà họ mua. Nhóm người mua nhà lần đầu tiên thường là những gia đình trẻ thuê nhà với chủ hộ trong độ tuổi từ 25 đến 44, và có thu nhập thấp hơn đa số dân. Chỉ số cho rằng họ có khả năng trả ngay 10% và 0.25% cho lãi suất thế chấp với bảo hiểm thế chấp cá nhân bắt buộc. Nhà mua lần đầu tiên chiếm khoảng 85% các ngôi nhà sẵn có được mua với giá trung bình. Một số nhà kinh tế cho rằng mỗi phần trăm lãi suất thế chấp nhà tăng sẽ làm giảm 300 000 ngôi nhà được bán.

After Hours Trading / Giao Dịch Chứng Khoán Ngoài Giờ

Hầu hết các thị trường chứng khoán lớn nhất nước Mỹ như NYSE hay NASDAQ thường mở cửa giao dịch từ 9h30 sáng đến 4h00 chiều. Các giao dịch chứng khoán ngoài khung thời gian trên được gọi là giao dịch chứng khoán ngoài giờ. Thị trường chứng khoán hoạt động ngoài khung thời gian trên là thị trường chứng khoán ngoài giờ - After hours market. Trước năm 2000, các giao dịch ngoài giờ diễn ra chủ yếu giữa các tổ chức tài chính, đầu tư chuyên nghiệp, với khối lượng giao dịch lớn. Gần đây nhiều sàn giao dịch chứng khoán nhỏ đã mở rộng thời gian giao dịch của họ tạo cơ hội cho các nhà đầu tư cá nhân tham gia. Với sự ra đời của các mạng thông tin điện tử (ECN), mọi nhà đầu tư cá nhân đều có khả năng tiếp cận với thị trường chứng khoán ngoài giờ giao dịch chính thức. Hiện nay, về cơ bản, có 3 loại thị trường chứng khoán ngoài giờ giao dịch chính thức như sau: Các thị trường chứng khoán ngoài giờ của Mỹ: NYSE và ASE có các phiên giao dịch, cho phép khớp lệnh vào lúc 5h chiều dựa trên giá đóng cửa lúc 4h. BSE và PSE có các phiên giao dịch ngoài giờ từ 4h-4h15. CHX và PCX có phiên giao dịch ngoài giờ cho đến tận 4h30. Ngoài ra, CHX còn có phiên giao dịch điện tử, chuyên xử lý các lệnh giới hạn từ 4h30 đến 6h30. Các thị trường chứng khoán nước ngoài: một vài sàn giao dịch chứng khoán ngoài Mỹ cũng mua bán các cổ phiếu niêm yết trên NYSE ngoài giờ giao dịch chính thức của Mỹ do có chênh lệch múi giờ. Giờ giao dịch hoàn toàn do từng thị trường qui định. Các mạng thông tin điện tử (ECN), cho phép các tổ chức tham gia giao dịch từ năm 1975, và các cá nhân từ 1999. Về cơ bản, các giao dịch ngoài giờ hầu như chỉ được tiến hành với lệnh giới hạn. project1.jpgGiao dịch chứng khoán ngoài giờ giúp các nhà đầu tư nhanh chóng chớp thời cơ khi nắm được những thông tin thị trường quan trọng trước khi thị trường chứng khoán mở cửa vào sáng hôm sau, khi mà thông tin này đã lan khắp. Tuy nhiên, giao dịch chứng khoán ngoài giờ cũng có nhưng điểm bất lợi nhất định: Thường chỉ đặt lệnh mua bán được trên một hệ thống giao dịch nhất định Tính thanh khoản thấp: ngoài giờ giao dịch, số lượng người bán, người mua thấp nên việc tìm được người bán - người mua phù hợp sẽ khó khăn hơn. Chênh lệch giá bán - mua cao: cũng do có ít người mua, người bán hơn nên chênh lệch giá bao giờ cũng cao hơn các giao dịch trong giờ chính thức. Xu hướng thiên về các lệch giới hạn: nhiều hệ thống giao dịch điện tử chỉ chấp nhận lệnh giới hạn, trong đó nhà đầu tư phải ấn định mức giá mà anh ta muốn thực hiện lệnh mua/bán.

After Sight / Sau Khi Trình Ra

After sight được hiểu là Sau khi đã thấy/ Sau khi trình ra. Thuật ngữ dùng để thông báo rằng hối phiếu hay giấy báo trả tiền sẽ được chi trả sau khi nó được trình ra để nhận chi trả. Người bán vẫn còn quyền sở hữu số hàng hoá đang vận chuyển cho đến khi chứng từ vận chuyển được trình cho ngân hàng chi trả và ngân hàng này chấp nhận.

Aftermarket / Thị Trường Sau Khi Phát Hành

Aftermarket là thuật ngữ được dùng trong trường hợp khi mua bán cổ phần trên thị trường chứng khoán sau khi công ty phát hành cổ phần ra công chúng. Giá cả của cổ phần lúc này tăng hay giảm tuỳ theo thị trường cung cầu, không còn theo giá căn bản như lúc công ty mới phát hành cổ phần.

After Tax Real Rate Of Return / Tỷ Lệ Lợi Nhuận Thực Sau Khi Đóng Thuế

After Tax Real Rate Of Return là tỷ lệ lợi nhuận thực sau khi đóng thuế là thuật ngữ dùng để chỉ số tiền mà nhà đầu tư có được sau khi đã điều chỉnh theo lạm phát. Số tiền này xuất phát từ lợi tức và tư bản kiếm được (capital gains) trong các vụ đầu tư. Khi xẩy ra lạm phát, giá trị của mỗi dollar đều mất đi một phần, bởi vậy nhà đầu tư phải theo dõi tỷ lệ lợi nhuận thực sau khi đóng thuế kể từ khi cam kết về vốn. Nhà đầu tư sẽ tìm một tỷ lệ lợi nhuận tương xứng nếu không nói là vượt hơn tỷ lệ lạm phát.

Aged Fail / Sai Hẹn Kéo Dài

Aged Fail là sự sai hẹn giữa hai hay nhiều bên trong một giao dịch chứng khoán và kéo dài trên 30 ngày. Sai hẹn kéo dài thường xảy ra giữa các công ty và quầy giao dịch, hiếm khi xảy ra giữa các nhà đầu tư cá nhân. Theo Điều lệ Ủy ban Chứng khoán Hoa Kỳ (SEC), các bên sai hẹn khi giao tiền mặt hay chứng khoán sau khi giao dịch đã xảy ra sẽ phải chịu một số khoản phí nhất định cho sai hẹn kéo dài.

Age - Earning Profile / Biểu Quan Hệ Thu Nhập Theo Tuổi

Age - Earning Profile là mối quan hệ giữa thu nhập và tuổi. Biểu diễn quá trình thu nhập theo tuổi đơn giản nhất là một đường nằm ngang đi từ số 0 đến độ tuổi rời trường học, khoảng cách của các bước được quyết định bởi trình độ học vấn.

Agency / Đại Lý Ủy Quyền

Agency là mối quan hệ giữa người ủy quyền và một bên khác, được ủy quyền để thực hiện các chỉ dẫn trong giao dịch với bên thứ 3. Ví dụ, giao quyền cho luật sư để thương lượng một hợp đồng. 1. Tài chính: Một bên quản lý tài khoản cho một bên khác, như phòng ký thác ngân hàng cho một khách hàng cơ quan, như quỹ lương hưu. Một ngân hàng, hoạt động như một đại lý ủy quyền, cũng có thể mua hoặc bán chứng khoán cho một cá nhân. 2. Chứng khoán: Chứng khoán của các cơ quan ủy quyền liên bang phát hành (Federal agency securities), những chứng khoán này khác với các loại chứng khoán phát hành bởi kho bạc Mỹ, chẳng hạn các giấy tờ ghi nợ của Government National Mortgage Association, Federal Intermediate Credit Banks, Export-Import Bank. Những chứng khoán này không tuân theo các quy định đăng ký tại Ủy ban Chứng khoán Hoa Kỳ (Securities and Exchange Commission). Một số chứng khoán của các cơ quan này được đảm bảo bởi chính quyền liên bang. Agency Bank: Một dạng tổ chức thường được các ngân hàng nước ngoài sử dụng khi muốn xâm nhập thị trường Hoa Kỳ. Một ngân hàng ủy quyền không thể tự nó chấp nhận tiền gửi hay mở rộng các khoản vay, mà phải hoạt động như một cơ quan đại diện cho ngân hàng mẹ. Nó cũng là một định chế tài chính phát hành giấy chứng nhận sở hữu cổ phiếu nước ngoài (American Depository Receipt) ra thị trường chung.

Agency Problem / Vấn Đề Đại Diện

Trên lý thuyết, các cổ đông, người chủ sở hữu đích thực của một công ty, phải là người điều hành các hoạt động của nó. Song thật là một điều vô cùng khó khăn để có thể thống nhất hàng ngàn cổ đông của một công ty, mỗi người nắm một số cổ phần rất nhỏ của công ty, để đưa ra một quyết định nào đó. Trên thực tế, cổ đông của các tập đoàn lớn ngày nay rất phân tán và do đó quyền điều hành thực chất lại nằm trong tay các giám đốc điều hành (director). Các giám đốc điều hành là những người được các cổ đông uỷ quyền đứng ra điều hành công ty, đem lại lợi ích cho cả hai phía. Tuy nhiên, chính uỷ quyền trên lại gây sự tách rời hay sự chia cắt quyền sở hữu và quyền quản lý một doanh nghiệp. Sự tách rời giữa quyền sở hữu và quyền quản lý doanh nghiệp làm nảy sinh các mối lo ngại rằng, những người quản lý sẽ theo đuổi những mục tiêu rất hấp dẫn đối với họ, song chưa chắc đã có lợi cho các cổ đông, cho công ty. Ví dụ, một giám đốc, khi cân nhắc giữa hai công ty cung cấp cùng một loại dịch vụ, có thể sẽ lựa chọn công ty có dịch vụ kém chất lượng hơn với giá cao hơn, chỉ vị họ sẵn sàng "lại quả" cho ông ta đậm đà hơn công ty kia. Trong ví dụ này, rõ ràng, vị giám đốc đã bỏ qua lợi ích chung của doanh nghiệp, cái đáng ra phải là mục đích cao nhất của ông ta, để tư túi cho riêng mình. Ở một mức độ nào đó, như trong tình huống này, lợi ích của người uỷ quyền (công ty, cổ đông) và lợi ích của người được uỷ quyền (giám đốc) đã mâu thuẫn với nhau. Mâu thuẫn này được biết đến dưới cái tên "vấn đề đại diện" (Agency Problem). Người uỷ quyền, chính là các cổ đông, phải tìm cách nào đó để đảm bảo người được uỷ quyền (các nhà quản lý) hành động vì quyền lợi của người uỷ quyền. Muốn đạt được điều này các cổ đông phải bỏ ra các "chi phí uỷ quyền" để giám sát hoạt động của các nhà quản lý và tạo ra những cơ chế khuyến khích các nhà quản lý theo đuổi việc tối đa hoá lợi ích cho các cổ đông chứ không phải chỉ vì lợi ích cá nhân. Rất nhiều phương pháp được sử dụng để đồng nhất hành động của các nhà quản lý cấp cao với lợi ích của các cổ đông, vì một mục tiêu chung có lợi cho cả hai phía: Gắn liền phần thưởng cho nhà quản lý với việc nâng cao lợi ích cho các cổ đông: Các cổ đông có thể thưởng cho các giám đốc và quản lý cấp cao bằng quyền mua cổ phiếu, cho phép các nhà quản lý mua cổ phiếu vào một ngày nhất định trong tương lai tại một mức giá cố định trước. Nếu giá cổ phiếu tăng mạnh kể từ ngày nhà quản lý được tặng quyền mua cổ phiếu và ngày thực hiện quyền mua này thì nhà quản lý thực sự sẽ kiếm được một gia tài bằng việc mua cổ phiếu ở mức giá địn trước và bán ra thị trường. Các nhà quản lý này có một lợi ích rõ ràng từ việc đẩy giá cổ phiếu lên và như vậy trong một mức độ nào đó đã đạt được sự đồng thuận với các cổ đông, bởi khi công ty hoạt động tốt thì cả hai sẽ cùng có lợi. Một phương pháp gần tương tự là phân phối cổ phiếu cho các nhà quản lý doanh nghiệp nếu họ đạt được một số mục tiêu nhất định xét trên kết quả hoạt động của công ty, ví dụ, đạt được mức tăng trưởng theo kế hoạch về thu nhập trên đầu cổ phiếu. Sa thải: Nguy cơ bị sa thải, với sự mất mát về tài chính cũng như danh dự có thể sẽ động viên các nhà quản lý giúp họ không đi chệch hướng quá xa so với định hướng đem lại sự thính vượng của các cổ đông. Tuy nhiên, phương pháp này ít khi được sử dụng bởi vì nó khó thực thi. Nguy cơ các nhà đầu tư bán cổ phiếu và công ty bị thâu tóm: hầu hết các cổ đông lớn (đặc biệt là các tổ chức đầu tư) của các công ty niêm yết lớn đều không có ý định bỏ ra những khoản chi phí lớn để điều hành và giám sát tất cả các công ty mà nó giữ cổ phiếu. Hoàn toàn bình thường, phản ứng đầu tiên của các cổ đông lớn khi họ phát hiện ra rằng hoạt động quản trị đang không diễn ra theo cách mà họ cho là sẽ đem lại lợi ích tối đa là bán các cổ phiếu đó đi thay vì can thiệp vào các hoạt động đó. Điều này sẽ làm giảm giá cổ phiếu và khiến việc huy động vốn trở nên khó khăn hơn. Nếu quá trình này kéo dài, công ty có thể sẽ đứng trước nguy cơ bị thâu tóm bởi một công ty khác, và đương nhiên các vị trí quản lý cấp cao sẽ mất việc. Nỗi sợ hãi bị thâu tóm có thể sẽ tạo ra một số điểm dừng nhất định để ngăn ngừa việc lợi ích của các cổ đông hoàn toàn bị bỏ qua. Các qui định về quản chế tập đoàn: có rất nhiều áp lực về mặt pháp lý cũng như về giám sát (vd: Luật công ty) được tạo ra để thúc đẩy các nhà quản lý hành động vì lợi ích của cổ đông. Ví dụ, theo các qui định này ban giám đốc không thể do một người duy nhất đứng đầu vừa với tư cách chủ tịch vừa với tư các tổng giám đốc. Đồng thời, các giám đốc không mang tính chất điều hành, nên có thêm quyền lực để đại diện cho lợi ích cổ đông, đặc biệt, họ phải chiếm đa số trong việc đưa ra các quyết định liên quan đến lương thưởng của các giám đốc và sổ sách kế toán của công ty. Kiểm soát dòng thông tin: các công ty kiểm toán, công ty chứng khoán, sàn giao dịch chứng khoán, các cơ quan quản lý và cộng đồng đầu tư liên tục đấu tranh để đòi các công ty đưa ra những thông tin chính xác, kịp thời và chi tiết về hoạt động của họ. Các báo cáo tài chính, báo cáo thường niên với chất lượng cao hơn và sự hiện diện của các thông tin khác cho nhà đầu tư và các chuyên gia phân tích như các báo cáo tóm lược của công ty và các thông cáo báo chí sẽ giúp giám sát các công ty tốt hơn, và sớm phát hiện ra bất cứ một động thái nào của các nhà quản lý bướng bỉnh gây tổn hại lợi ích cho các cổ đông.

Agency Shop / Nghiệp Đoàn

Agency Shop là nghiệp đoàn - yêu cầu công nhân tham gia tuyển dụng không phải gia nhập công đoàn nhưng phải đóng công đoàn phí.

Agency Theory / Học Thuyết Chủ - Thợ

Agency Theory là học thuyết giải thích mối quan hệ người người chủ (principal), như các cổ đông, và người làm (agent), như các quản lý của công ty (executives). Trong mối quan hệ này, người chủ cử ra đại diện hoặc thuê người làm thực hiện các công việc. Học thuyết đảm bảo giải quyết 2 rắc rối điển hình thường gặp: (i) mục tiêu của người chủ và người làm không bị mâu thuẫn (mâu thuẫn này gọi là agency problem), và (ii) bên chủ và bên làm việc thống nhất phương pháp đối phó-giải quyết với các rủi ro.

Agglomeration Economies / Tính Kinh Tế Nhờ Kết Khối

Agglomeration Economies là các khoản tiết kiệm chi phí trong một hoạt động kinh tế do các xí nghiệp hay các hoạt động gần vị trí của nhau.

Aggregate Concentration / Sự Tập Trung Gộp

Biểu đồ chi tiết về SỐ LƯỢNG CỦA SẢN PHẨM QUỐC GIA RÒNG có thể được mua ở mỗi mức giá chung.

Aggregate Expenditure / Chi Tiêu Gộp

Aggregate Expenditure là tổng số chi tiêu danh nghĩa cho hàng hoá và dịch vụ trong một nền kinh tế.

Chuột không dây Ugreen M751 với con lăn vô cực Máy chơi game retro Powkiddy X55