Thuật Ngữ Kinh Tế

A B C D E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Z Tất cả

Management Accounting / Kế Toán Quản Trị

Kế toán quản trị là quá trình xác định, đo lường, tích lũy, phân tích, chuẩn bị, giải thích các thông tin tài chính, được sử dụng bởi các nhà quản lý để lập kế hoạch, đánh giá và kiểm soát trong một tổ chức và đảm bảo sử dụng thích hợp và trách nhiệm cho các nguồn lực của nó. Kế toán quản trị cũng bao gồm việc chuẩn bị các báo cáo tài chính cho các nhóm không trực tiếp quản lý doanh nghiệp như cổ đông, các chủ nợ, cơ quan quản lý, và cơ quan thuế.

National Income / Thu nhập quốc dân

National Income là thước đo giá trị tiền tệ và hàng hoá và dịch vụ được cung cấp trên toàn quốc từ hoạt động kinh tế.

Management / Quản Lý / Quản Trị

“Quản lý” (hoặc quản trị) là một trong các từ rất thường gặp và hay được sử dụng. Điều nàykhiến phần lớn chúng ta tin rằng mình hiểu quản lý là gì? Niềm tin này chỉ bị lung lay khi đượcyêu cầu nêu ra một định nghĩa chính xác về quản lý. Có nhiều định nghĩa về quản lý: Quản lý là dự báo và lập kế hoạch, tổ chức, ra lệnh (lý thuyết hiện đại thay thế bằng địnhhướng), điều phối và kiểm soát. Henri Fayol (1841-1925), lý thuyết quản trị cổ điển. Quản lý là một chức năng của xã hội chuyên trách đảm bảo các nguồn lực được sử dụnghiệu quả. Peter Drucker (1909-), người được cả cộng đồng kinh doanh và học thuật coi làcha đẻ của lý thuyết quản trị hiện đại. Quản lý là nghệ thuật và khoa học quan tâm tới việc sử dụng các nguồn lực để sinh lời,có hệ thống, và thích hợp trong mọi khía cạnh của nền kinh tế quốc gia. Jonh Marsh, cựugiám đốc Viện quản trị Anh quốc (British Institute of Management). Quản lý là hoàn thành công việc thông qua con người. R Falk nêu trong cuốn “The Businessof Management”. Quản lý là việc hoàn thành các mục tiêu mong muốn bằng cách xây dựng một môi trườngthuận lợi để làm việc trong đó cho các cá nhân vận hành trong từng nhóm được tổ chức.Koontz và O’Donnel phát biểu trong cuốn “Principles of Management”.

Balance Of Payments / Cán Cân Thanh Toán

Việc hạch toán các giao dịch kinh tế của một quốc gia với các quốc gia khác trong một thời kỳ nhất định, thường là một năm. Cán cân thanh toán của bất kỳ quốc gia nào cũng được chia thành hai loại tài chính: tài khoản vãng lai (current account), tượng trưng cho thương mại xuất nhập khẩu, cộng với thu nhập từ du lịch, lợi nhuận thu từ hải ngoại, thanh toán tiền lãi, và tài khoản vốn (capital account), tượng trưng cho tổng số tiền gửi ngân hàng, đầu tư bởi các nhà đầu tư tư nhân, và các chứng khoán nợ được bán bởi ngân hàng trung ương hay các cơ quan chính phủ.  Trong thuật ngữ kinh tế, thặng dư cán cân thanh toán nghĩa là một quốc gia thu tiền từ thương mại và đầu tư, nhiều hơn số tiền nó trả cho các quốc gia khác, dẫn đến sự tăng giá trị đồng tiền quốc gia đối với tiền tệ của các quốc gia khác. Thâm hụt ngân sách trong cán cân thanh toán có tác động ngược lại: nhập khẩu lớn hơn xuất khẩu, sự phụ thuộc vào các nhà đầu tư nước ngoài và nội tệ bị định giá quá cao. Các quốc gia trải qua việc thâm hụt cán cân thanh toán phải bù khoản chênh lệch bằng cách xuất khẩu vàng hay dự trữ ngoại tệ mạnh, như đồng dollar Mỹ, là đơn vị tiền tệ được chấp nhận thanh toán nợ quốc tế. Xem INTERNATIONAL RESERVES; SPECIAL DRAWING RIGHTS.

National Enterprise Board - NEB / Ban Doanh Nghiệp Quốc Gia

National Enterprise Board - NEB là một tổ chức của nhà nước được thành lập bởi Đạo luật công nghiệp năm 1975. Chức năng chính của NEB là tăng cường hiệu quả sản xuất công nghiệp và tính cạnh tranh quốc tế, tiếp quản các cổ phần hiện có của chính phủ để đảm bảo mức sinh lãi.

National Economic Development Council (NEDC) / Hội Đồng Phát Triển Kinh Tế Quốc Gia

National Economic Development Council (NEDC) là một hội đông ở Anh, chủ tịch của hội đồng là Bộ trưởng Tài chính, là một diễn đàn cho các đại diện của chính phủ, các doanh nghiệp nhà nước và tư nhân, các nghiệp đoàn và giới học giả nhằm đề ra và đánh giá các chính sách liên quan đến hoạt động và sự tăng trưởng nền kinh tế Anh vào năm 1962.

National Debt / Nợ Quốc Gia

Theo định nghĩa thông thường thì National Debt phản ánh tổng số nghĩa vụ nợ còn tồn đọng của chính quyền trung ương và được chia là hai loại: nợ có thể bán được, tức là CHỨNG KHOÁN được trao đổi ; và nợ không thể bán được, ví dụ như giấy chứng nhận tiết kiệm quốc gia.

Malleable Capital / Vốn Uyển Chuyển

Là một giả định về bản chất của vốn hiện vật thường sử dụng trong kinh tê học cổ điển, theo đó các vật liêu hình thành nên một cỗ máy cụ thể có thể được thay đổi ngay lập tức và không hề tốn kém thành một cỗ máy khác.

National Bureau For Economic Research / Phòng Nghiên Cứu Kinh Tế Quốc Gia

National Bureau For Economic Research là một tổ chức tư nhân phi lợi nhuận của Mỹ được thành lập năm 1920 dưới hình thức một trung tâm nghiên cứu độc lập và khách quan.

National Bargaining / Thương Lượng Mang Tính Quốc Gia

National Bargaining là sự thương lượng tập thể giữa những người làm công ăn lương và đại diện của giới chủ để đề ra mức lương và những điều kiện làm việc trong một ngành hoặc một nhóm ngành trên toàn quốc.

Making Decision / Ra Quyết Định

Nhà quản trị luôn luôn ra quyết định, và ra quyết định là một trong những kỹ năng chủ yếu của nhà quản trị. Bạn luôn luôn được mời ra quyết định và thực hiện quyết định. Chất lượng và kết quả của quyết định của bạn có khả năng ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đến nhân viên và tổ chức của bạn. Điều chủ yếu là bạn phải biết tối đa hóa khả năng ra quyết định của bạn nếu bạn muốn trở thành một thà quản trị thực sự có hiệu quả.Các bước để đưa ra quyết định bao gồm:  Xác định vấn đề. Phân tích nguyên nhân Đưa ra các phương án / giải pháp Chọn giải pháp tối ưu. Thực hiện quyết định. Đánh giá quyết định.

Balance Of Payment / Cán Cân Thanh Toán

Cán cân thanh toán, hay cán cân thanh toán quốc tế, ghi chép những giao dịch kinh tế của một quốc gia với phần còn lại của thế giới trong một thời kỳ nhất định. Những giao dịch này có thể được tiến hành bởi các cá nhân, các doanh nghiệp cư trú trong nước hay chính phủ của quốc gia đó. Đối tượng giao dịch bao gồm các loại hàng hóa, dịch vụ, tài sản thực, tài sản tài chính, và một số chuyển khoản. Thời kỳ xem xét có thể là một tháng, một quý, song thường là một năm. Những giao dịch đòi hỏi sự thanh toán từ phía người cư trú trong nước tới người cư trú ngoài nước được ghi vào bên tài sản nợ. Các giao dịch đòi hỏi sự thanh toán từ phía người cư trú ở ngoài nước cho người cư trú ở trong nước được ghi vào bên tài sản có. Cán cân thanh toán có thể được sử dụng như một dấu hiệu ổn định kinh tế và chính trị. Trên góc độ kinh tế học, thặng dư cán cân thanh toán nghĩa là một quốc gia nhận được nhiều từ thương mại và đầu tư hơn là phải trả cho các quốc gia khác, khiến đồng tiền của quốc gia này tăng trị so với các quốc gia khác. Cán cân thanh toán thâm hụt có ảnh hưởng ngược lại, nhập khẩu vượt quá xuất khẩu, phụ thuộc vào các nhà đầu tư nước ngoài, và một đồng tiền mất giá. Các quốc gia đang có thanh toán thâm hụt phải thay đổi tình thế bằng cách xuất khẩu vàng hoặc dự trữ ngoại tệ mạnh, như đồng dollar Mỹ, là những đồng tiền được chấp nhận để trả các khoản nợ quốc tế. Các thành phần của cán cân thanh toán Theo quy tắc mới về biên soạn biểu cán cân thanh toán do IMF đề ra năm 1993, cán cân thanh toán của một quốc gia bao gồm bốn thành phần sau. Tài khoản vãng lai: Tài khoản vãng lai ghi lại các giao dịch về hàng hóa, dịch vụ và một số chuyển khoản. Tài khoản vốn: Tài khoản vốn ghi lại các giao dịch về tài sản thực và tài sản tài chính. Thay đổi trong dự trữ ngoại hối nhà nước: Mức tăng hay giảm trong dự trữ ngoại hối của ngân hàng trung ương. Do tổng của tài khoản vãng lai và tài khoản vốn bằng 0 và do mục sai số nhỏ, nên gần như tăng giảm cán cân thanh toán là do tăng giảm dự trữ ngoại hối tạo nên. Mục sai số: Do khó có thể ghi chép đầy đủ toàn bộ các giao dịch trong thực tế, nên giữa phần ghi chép được và thực tế có thể có những khoảng cách. Khoảng cách này được ghi trong cán cân thanh toán như là mục sai số. Khủng hoảng cán cân thanh toán Khủng hoảng cán cân thanh toán xảy ra khi nhà đầu cơ mua hết tài sản của chính phủ trong dự trữ ngoại hối.

Majority Rule / Quy Tắc Đa Số

Là một hình thức LỰA CHÓN TẬP THỂ hoặc QUY TẮC QUYẾT ĐỊNH XÃ HỘI mà theo đó bất kỳ đề nghị nào được sự ủng hộ của hơn một nửa số "người biểu quyết" sẽ được chọn.

National Accounts / Hệ Thống Tài Khoản Quốc Gia

Là việc soạn thảo các tài khoản nhằm đưa ra được những ước tính về THU NHẬP QUỐC DÂN.

Maintaining Financial Futures Market's Liquidity / Duy Trì Tính Thanh Khoản của Thị Trường Futures Tài Chính

Tương tự như các thị trường futures khác, những người đầu cơ duy trì hoạt động của thị trường thông qua các giao dịch liên tục. Họ mua hoặc bán các hợp đồng futures tuỳ thuộc vào xu hướng mà họ cho rằng thị trường sẽ biến động theo. Trong những thị trường này, tình hình chính trị thế giới, các mô hình giao dịch và nền kinh tế là các yếu tố không thể đoán trước được. Các thông tin đồn đại cũng đóng một vai trò quan trọng. Sự quan tâm của những người đầu cơ tài chính đối với việc bán đi 100.000$ trị giá Trái phiếu Kho bạc Mỹ dài hạn, cũng không có gì khác với sự quan tâm của những người đầu cơ lúa đối với 5.000 giạ lúa mỳ. Điều mà họ quan tâm là việc thu được lợi nhuận. Vì vậy, vào thời điểm nào có vẻ thuận lợi, họ sẽ bù đắp hợp đồng mà họ sở hữu bằng cách mua một hợp đồng có quyền lợi trái ngược (opposing contract) và nhờ đó thu về lợi nhuận hoặc giảm bớt thua lỗ. Ví dụ, trong bảng giá hợp đồng futures tháng 9 cho đồng Bảng Anh, đóng cửa với giá 1,5056, có giá thấp nhất là 1,3980 và giá cao nhất là 1,5800. Nếu một người đầu cơ mua hợp đồng đó theo giá thấp nhất và bán với giá cao nhất, phần lợi nhuận thu về (trước khi phải trả phí hoa hồng và các chi phí khác) có thể đạt tới 18 cent (đơn vị nhỏ hơn đô la) trên mỗi đồng Bảng, hay có nghĩa là thu được 11.250$ trên một hợp đồng trị giá 62.500 Bảng Anh.

Balance Of Payment / Cán Cân Thanh Toán Quốc Gia

Các thành phần của cán cân thanh toán quốc gia Cán cân thanh toán (Balance of Payment) hay cón gọi Cán cân thanh toán quốc tế, ghi chép những giao dịch kinh tế của một quốc gia với phần còn lại của thế giới trong một thời kỳ nhất định. Những giao dịch này có thể được tiến hành bởi các cá nhân, các doanh nghiệp cư trú trong nước hay chính phủ của quốc gia đó. Đối tượng giao dịch bao gồm các loại hàng hóa ,dịch vụ , tài sản thực , tài sản tài chính , và một số chuyển khoản . Thời kỳ xem xét có thể là một tháng, một quý, song thường là một năm. Những giao dịch đòi hỏi sự thanh toán từ phía người cư trú trong nước tới người cư trú ngoài nước được ghi vào bên tài sản nợ. Các giao dịch đòi hỏi sự thanh toán từ phía người cư trú ở ngoài nước cho người cư trú ở trong nước được ghi vào bên tài sản có. Theo quy tắc mới về biên soạn biểu cán cân thanh toán do IMF đề ra năm 1993 , cán cân thanh toán của một quốc gia bao gồm bốn thành phần sau. 1.Tài khoản vãng lai.  Cán cân thương mại hàng hóa + Xuất khẩu _ Nhập khẩu  Cán cân thương mại phi hàng hóa + Cán cân dịch vụ  Vận tải  Du lịch  Các dịch vụ khác + Cán cân thu nhập  Kiều hối  Thu nhập từ đầu tư  Các chuyển khoản Cán cân thương mại là một mục trong tài khoản vãng lai của cán cân thanh toán quốc tế . Cán cân thương mại ghi lại những thay đổi trong xuất khẩu và nhập khẩu của một quốc gia trong một khoảng thời gian nhất định (quý hoặc năm) cũng như mức chênh lệch (xuất khẩu trừ đi nhập khẩu) giữa chúng. Khi mức chênh lệch là lớn hơn 0, thì cán cân thương mại có thặng dư. Ngược lại, khi mức chênh lệch nhỏ hơn 0, thì cán cân thương mại có thâm hụt. Khi mức chênh lệch đúng bằng 0, cán cân thương mại ở trạng thái cân bằng. Cán cân thương mại còn được gọi là xuất khẩu ròng hoặc thặng dư thương mại. Khi cán cân thương mại có thặng dư, xuất khẩu ròng/thặng dư thương mại mang giá trị dương. Khi cán cân thương mại có thâm hụt, xuất khẩu ròng/thặng dư thương mại mang giá trị âm. Lúc này còn có thể gọi là thâm hụt thương mại. Tuy nhiên, cần lưu ý là các khái niệm xuất khẩu, nhập khẩu, xuất khẩu ròng, thặng dư/thâm hụt thương mại trong lý luận thương mại quốc tế rộng hơn các trong cách xây dựng bảng biểu cán cân thanh toán quốc tế bởi lẽ chúng bao gồm cả hàng hóa lẫn dịch vụ . 2.Tài khoản vốn Ghi lại tất cả những giao dịch về tài sản (gồm tài sản thực như bất động sản hay tài sản tài chính như cổ phiếu , trái phiếu , tiền tệ ) giữa người cư trú trong nước với người cư trú ở quốc gia khác. Khi những tuyên bố về tài sản nước ngoài của người sống trong nước lớn hơn tuyên bố về tài sản trong nước của người sống ở nước ngoài, thì quốc gia có thặng dư tài khoản vốn (hay dòng vốn vào ròng ). Theo quy ước, dòng vốn vào ròng phải bằng thâm hụt tài khoản vãng lai . Lưu ý ở đây nhấn mạnh đến sự luân chuyển vốn giữa một nước với thế giới bến ngoài. Nếu dòng vốn đổ vào trong nước (FDI, FII..) lớn hơn dòng vốn từ trong nước chảy ra bên ngoài (đầu tư vào các nước khác chẳng hạn) thì ta có thặng dư Tài khoản vốn và ngược lại. Tài khoản tài chính (hay tài khoản đầu tư) là một bộ phận của tài khoản vốn ghi lại những giao dịch về tài sản tài chính. 3.Thay đổi trong dự trữ ngoại hối nhà nước Mức tăng hay giảm trong dự trữ ngoại hối của ngân hàng trung ương . Do tổng của tài khoản vãng lai và tài khoản vốn bằng 0 và do mục sai số nhỏ, nên gần như tăng giảm cán cân thanh toán là do tăng giảm dự trữ ngoại hối tạo nên. 4.Mục sai số

Nash Solution / Giải Pháp Nash

Trong LÝ THUYẾT TRÒ CHƠI, Nash Solution là khái niệm được áp dụng trong những điều kiện nhất định để tìm ra cách giải quyết cho những trò chơi hai người hợp tác với nhau.

Nasdaq Composite Index / Chỉ Số Kết Hợp Nasdaq

© SAGA - Là chỉ số chứng khoán của tất cả các cổ phiếu phổ thông và chứng khoán tương tự (ADRs, tracking stocks, limited partnership interests) được niêm yết trên Sàn giao dịch chứng khoán NASDAQ.  Điều này có nghĩa rằng chỉ số được xây dựng từ hơn 3000 cổ phiếu bộ phận. Do trên sàn Nasdaq có cả các cổ phiếu của các công ty Mỹ và công ty nước Ngoài, nên chỉ số Nasdaq không chỉ là chỉ số cổ phiếu của chứng khoán Mỹ. Đọc thêm: Sàn giao dịch chứng khoán Nasdaq

NASDAQ / Sàn Giao Dịch Chứng Khoán NASDAQ

NASDAQ là chữ viết tắt của cụm từ National Association of Securities Dealers Automated Quotations system, là sàn giao dịch chứng khoán điện tử của Mỹ, có giá trị vốn hoá thị trường đứng thứ 3 thế giới (sau NYSE và Tokyo stock Exchange). Điểm khác biệt quan trọng giữa NASDAQ với các sàn giao dịch chứng khoán lớn khác là ở chỗ nó là một sàn giao dịch chứng khoán phi tập trung (OTC). Nasdaq được thành lập năm 1971 bởi Hiệp hội những người buôn bán chứng khoán Quốc gia (NASD), và hiện đang được điều hành bởi Nasdaq Stock Market, Inc. NASDAQ là sàn giao dịch chứng khoán điện tử lớn nhất nước Mỹ, với khoảng 3,200 công ty niêm yết và số lượng cổ phiếu giao dịch bình quân nhiều hơn bất kỳ sàn giao dịch khác ở Mỹ, kể cả NYSE. Khi bắt đầu mở cửa giao dịch vào ngày 8/2/1971, NASDAQ là sàn thị trường chứng khoán điện tử tiên phong trên thế giới. Lúc đầu, nó chỉ đơn thuần là hệ thống bản điện tử niêm yết giá chứ chưa thực sự kết nối giữa người mua với người bán. Tác dụng quan trọng nhất lúc đó là nó giúp làm giảm mức chênh lệch giữa giá mua(bid price) và giá bán(ask price) cổ phiếu, gây bất lợi cho những tay môi giới chứng khoán thường kiếm bộn nhờ chênh lệch này, song lại làm thị trường chứng khoán hoạt động nhộn nhịp hơn. Vài năm sau, NASDAQ tiến gần hơn đến một sàn giao dịch chứng khoán theo đúng nghĩa của nó, khi đưa vào hoạt động hệ thống báo cáo và giao dịch chứng khoán tự động. Cho đến năm 1987, hầu hết các giao dịch được tiến hành qua điện thoại, song trong suốt cuộc khủng hoảng của thị trường chứng khoán năm 1987, những người tạo lập thị trường hầu như không trả lời điện thoại. Để đối phó với vấn đề này, Hệ thống thực thi các lệnh nhỏ (SOES) đã ra đời, cung cấp cho những người mua bán chứng khoán một phương thức giao dịch điện tử hoàn toàn mới, và để đảm bảo những giao dịch nhỏ không bị bỏ qua. NASDAQ cũng niêm yết cổ phiếu của chính họ trên sàn dưới mã hiệu NDAQ. Chỉ số chủ yếu trên NASDAQ là chỉ số tổng hợp NASDAQ (The Nasdaq Composite), được xây dựng dựa trên giá cổ phiếu của toàn bộ các công ty niêm yết trên NASDAQ. Chỉ số này là chỉ số được theo dõi nhiều nhất đối với các công ty về công nghệ. Một số mốc chính với chỉ số tổng hợp NASDAQ:          -17/7/1995: lần đầu tiên chỉ số tổng hợp NASDAQ đóng cửa ở mức giá trên 1000 điểm          -10/3/2005: chỉ số này đạt mức giao dịch cao kỉ lục 5,132.52 điểm          -10/10/2002: chỉ số tổng hợp NASDAQ tụt xuống mức thấp nhất 1,108.49 điểm Bên cạnh NASDAQ Composite thì NASDAQ 100 và Nasdaq Financial 100 cũng là những chỉ số chứng khoán rất quan trọng. Nasdaq 100 là chỉ số chứng khoán của 100 công ty phi tài chính lớn nhất được niêm yết trên NASDAQ, cả công ty trong nước và quốc tế, còn Nasdaq Financial 100 là của các công ty tài chính. Để được lọt vào top 100 công ty trong chỉ số NASDAQ 100, một công ty phải đạt được các số tiêu chí sau, bao gồm:       Được niêm yết độc quyền trên NASDAQ       Đã niêm yết được ít nhất 2 năm( hoặc 1 năm nếu thoả mãn một số tiêu chuẩn về vốn hoá thị trường)       Khối lượng giao dịch bình quân ngày tối thiểu là 200,000 cổ phiếu       Lưu hành báo cáo hàng quí và hàng năm       Không đứng trước nguy cơ phá sản Ngoài ra, nếu công ty có nhiều loại cổ phiếu thì nó chỉ được phép có 1 cổ phiếu với giá trị vốn hoá thị trường lớn nhất được tham gia vào chỉ số NASDAQ 100. Danh mục công ty nằm trong NASDAQ 100 được tái cơ cấu lại theo chu kì 1 năm hoặc sau khi xảy ra các vụ chia tách, sáp nhập các công ty trong top 100. Trong danh sách của NASDAQ 100 được công bố 1/2/2007 có nhiều cái tên khá quen thuộc trong lĩnh vực IT như: Adobe Systems Incorporated (ADBE), Amazon.com, Inc. (AMZN), Apple Inc. (AAPL), Cisco Systems, Inc. (CSCO), Dell Inc. (DELL), eBay Inc. (EBAY). NASDAQ đã có những nỗ lực đáng kể nhằm thâu tóm London Stock Exchange. Hiện NASDAQ đã nắm được 28.75% cổ phần của London Stock Exchange và đưa ra mức giá £12.43, mức giá cao nhất mà họ từng trả cho một cổ phần trên thị trường mở.

Macroeconomics / Kinh Tế Học Vĩ Mô

Kinh tế học vĩ mô là một nhánh (hay phần nội dung) đặc biệt quan trọng của kinh tế học, tập trung nghiên cứu các hiện tượng có tính chất phổ biến, áp dụng chung và tạo thành bức tranh chung về tình trạng của toàn nền kinh tế. Các nội dung và hiện tượng quan trọng nhất mà kinh tế vĩ mô nghiên cứu là các bộ phận, các vấn đề và câu hỏi cần giải đáp liên quan tới hiểu biết của xã hội về: Lạm phát và thiểu phát, thất nghiệp và nhân dụng, tăng trưởng và suy thoái. Như vậy, kinh tế học vĩ mô là bộ phận của kinh tế học nghiên cứu các trạng thái và chuyển động của toàn bộ một nền kinh tế như một "chỉnh thể." Các vấn đề trọng tâm của kinh tế học vĩ mô ngày nay cũng liên quan trực tiếp và chặt chẽ tới các vấn đề chính trị trọng yếu, trong nhiều trường hợp còn khó phân biệt đâu là vấn đề thuần túy kinh tế học và đâu là chính trị.

Macroeconomics là khoa học nghiên cứu hành vi của toàn bộ nền kinh tế nói chung. Kinh tế học vĩ mô là một nhánh (hay phần nội dung) đặc biệt quan trọng của kinh tế học, tập trung nghiên cứu các hiện tượng có tính chất phổ biến, áp dụng chung và tạo thành bức tranh chung về tình trạng của toàn nền kinh tế. Các nội dung và hiện tượng quan trọng nhất mà kinh tế vĩ mô nghiên cứu là các bộ phận, các vấn đề và câu hỏi cần giải đáp liên quan tới hiểu biết của xã hội về: Lạm phát và thiểu phát, thất nghiệp và nhân dụng, tăng trưởng và suy thoái. Như vậy, kinh tế học vĩ mô là bộ phận của kinh tế học nghiên cứu các trạng thái và chuyển động của toàn bộ một nền kinh tế như một "chỉnh thể." Các vấn đề trọng tâm của kinh tế học vĩ mô ngày nay cũng liên quan trực tiếp và chặt chẽ tới các vấn đề chính trị trọng yếu, trong nhiều trường hợp còn khó phân biệt đâu là vấn đề thuần túy kinh tế học và đâu là chính trị.

Chuột không dây Ugreen M751 với con lăn vô cực Máy chơi game retro Powkiddy X55