Nested Hypotheses / Các Giả Thuyết Lồng Nhau
Trong MÔ HÌNH HỒI QUY, CÁC GIẢ THIẾT được coi là "lồng nhau trong" nếu CÁC BIẾN GIẢI THÍCH trong một giả thiết là một tập hợp con của các biến số giải thích trong các biến khác.
Margin Purchare / Mua Ký Quỹ
21/01/2008. Là việc mua chứng khoán bằng tài khoản ký quỹ; nhà đầu tư khi mua chứng khoán chỉ cần có một số tiền nhất định trong tổng giá trị chứng khoán đặt mua, phần còn lại sẽ do CTCK cho vay. Sau khi thực hiện giao dịch, chứng khoán mua được sẽ do công ty nắm giữ để làm vật thế chấp. Khi nhà đầu tư có nhu cầu bán chứng khoán, CTCK sẽ thực hiện lệnh bán chứng khoán và thu về phần vốn đã cho nhà đầu tư vay gồm cả gốc lẫn lãi. Nhà đầu tư tiến hành giao dịch mua ký quỹ trong trường hợp họ kỳ vọng giá chứng khoán sẽ tăng lên trong tương lại.Muốn thực hiện giao dịch mua ký quỹ, nhà đầu tư phải mở tài khoản ký quỹ. Trong hợp đồng mở tài khoản ký quỹ sẽ quy định rõ chủ tài khoản phải đảm bảo được tỷ lệ ký quỹ bắt buộc do UBCK quy định. Tỷ lệ này càng cao thì giá trị chứng khoán hoặc tiền mà nhà đầu tư đi vay CTCK càng nhỏ.
Neo-orthodoxy / Trường Phái Tân Chính Thống
Neo-orthodoxy là tên gọi được đặt cho những người phản đối phái CHÍNH THỐNG MỚI trong cuộc tranh luận về việc kiểm soát cung tiền tệ.
Margin Of Safety / Biên An Toàn
Là một nguyên lý đầu tư trong đó nhà đầu tư chỉ mua chứng khoán khi giá thị trường thấp hơn nhiều so với giá trị nội tại của chứng khoán đó. Nói cách khác, khi mức giá thị trường thấp hơn nhiều so với mức giá nội tại mà nhà đầu tư xác định thì khoảng chênh lệch giữa hai giá trị này được gọi là biên an toàn. Sự chênh lệch này cho phép giảm thiểu khả năng gặp rủi ro của mỗi quyết định đầu tư. Thuật ngữ này ban đầu được phổ biến bởi Benjamin Graham ( người được biết tới như là cha đẻ của đầu tư) và các học trò của ông, trong đó nổi bật nhất là Warren Buffett. Biên an toàn không có khả năng đảm bảo rằng đầu tư của bạn chắc chắn sẽ thành công và vẫn có thể khiến cho những đánh giá phân tích của bạn bị sai lệch. Việc đánh giá giá trị thực sự của một công ty (tức là giá trị nội tại của công ty đó) thường mang tính chủ quan của người phân tích. Mỗi nhà đầu tư có một cách khác nhau để tính toán giá trị nội tại của một công ty, cách tính đó có thể đúng nhưng cũng hoàn toàn có khả năng bị sai. Đó là chưa kể tới việc đánh giá được doanh thu, lợi nhuận của công ty là vô cùng khó khăn. Tuy nhiên biên an toàn có thể giảm nhẹ các sai số trong việc tính toán. Khái niệm biên an toàn được sử dụng không chỉ trong lĩnh vực tài chính mà còn được sử dụng trong rất nhiều lĩnh vực khác. Ví dụ: giả sử rằng các kĩ sư xây dựng đang xây một chiếc cầu chịu được trọng tải 100 tấn. Như vậy liệu có phải chiếc cầu này được xây dựng với khả năng chống đỡ chính xác là 100 tấn ? Chắc chắn là không rồi vì con số 100 tấn có thể còn có những sai số, và lượng giao thông qua cầu sẽ có lúc nào đó vượt ngưỡng 100 tấn, vì thế sẽ là an toàn hơn nếu xây một chiếc cầu có thể chịu được trọng tải là130 tấn, như vậy biên an toàn đối với cây cầu là 30 tấn và nó sẽ đảm bảo rằng cây cầu sẽ không sập khi bị quá tải trong phạm vi 30 tấn. Việc đầu tư vào chứng khoán cũng tương tự như vậy. Bạn thấy rằng chứng khoán này đáng giá đến tận 10 đôla, việc mua nó ở mức giá 7.50 đôla sẽ cho bạn một biên an toàn trong trường hợp các phân tích của bạn không chính xác và cổ phiếu thực chất chỉ trị giá 9 đôla. Trong kế toán thì biên an toàn là khoảng chênh lệch giữa doanh số bán hàng kì vọng và điểm hoà vốn. Không có một tiêu chuẩn toàn cầu nào để xác định xem độ rộng của biên an toàn bao nhiêu thì hợp lý. Mỗi nhà đầu tư phải tự tìm ra phương cách xác định cho riêng mình. Sử dụng biên an toàn, bạn có thể mua một chứng khoán khi trị giá thực của nó cao hơn giá thị trường. Đây là ý tưởng chính trong lý thuyết đầu tư giá trị của Benjamin Graham, trong đó việc bảo toàn vốn đầu tư là nguyên tắc số một. Benjamin Graham cho rằng chúng ta nên xem xét các công ty nhỏ, không mấy nổi tiếng, có tỉ lệ P/E thấp. Nhà đầu tư cũng có thể phân tích các báo cáo tài chính và các ghi chú để hiểu được liệu công ty có che giấu cáctài sản có thể dễ dàng bị bỏ qua, không chú ý tới hay không, ví dụ như các khoản đầu tư vào công ty khác. Warren Buffett, có lẽ là nhà đầu tư nổi tiếng nhất hiện nay, là học trò của Benjamin Graham ở trường đại học Columbia, đã từng nói rằng " ba từ quan trọng nhất đối với đầu tư chính là: biên an toàn_margin of safety".
Neo-imperialism / Chủ Nghĩa Đế Quốc Kiểu Mới
Theo các tác phẩm của phái MÁC XÍT và XÃ HỘI CHỦ NGHĨA thì neo-imperialism là sự kiểm soát nền kinh tế của các nước chậm phát triển bởi các tập đoàn tư bản khổng lồ có trụ sở tại các nước tư bản phát triển.
Neoclassical Synthesis / Hợp Đề Tân Cổ Điển
Luận chứng cho rằng sự tồn tại của CÂN BẲNG THẤT NGHIỆP phát sinh từ giả định về mức lương cứng nhắc của Keynes. Đây là sự kết hợp giữa một bên là việc lồng ghép của Keynes đối với các khu vực thực tế và khu vực tiền tệ của một nền kinh tế, nhằm chứng minh cho sự quyết định cùng một lúc của thu nhập danh nghĩa và lãi suất với phía bên kia là các quan điểm cổ điển cho rằng xu hướng đạt tới điểm cân bằng toàn dụng nhân công chỉ có thể bị cản trở bởi tính cứng nhắc trong hệ thống kinh tế.
Neoclassical Macroeconomics / Kinh Tế Học Vĩ Mô Tân Cổ Điển
Về cơ bản thì đây là sự trình bày lại dưới một hình thức tỷ mỉ hơn về KINH TẾ HỌC CỔ ĐIỂN chính thống.
Margin Loan / Vay Kí Quỹ
Vay kí quỹ là khoản vay mà một người môi giới vay người đầu tư để mua chứng khoán. Vay kí quỹ thường được sử dụng với cho mục đích, nhưng thông thường là cho việc mua cổ phiếu, trái phiếu và các loại chứng khoán khác. Một khoản vay kí quỹ luôn đi kèm giá kỹ quỹ (tiền lãi đánh trên khoản vay), và phí ký quỹ này phụ thuộc vào sự hiện diện của đồ ký quỹ. Khách hàng sử dụng khoản vay kí quỹ khi họ không có đủ tiền để mua chứng khoán hoặc để thu lợi từ những chứng khoán có khả năng tăng giá mang lại lợi nhuận. Vay kí quỹ là mục đích chính của một tài khoản kí quỹ.
Neoclassical Growth Theory / Học Thuyết Tăng Trưởng Tân Cổ Điển
Neo-classical Growth Theory là cụm thuật ngữ tổng hợp đề cập đến những mô hình tăng trưởng kinh tế được xây dựng trong khuôn khổ học thuyết tân cổ điển, trong đó chú trọng đến việc thúc đẩy khả năng thay thế giữa vốn và lao động trong hàm sản xuất để đảm bảo sự tăng trưởng đến trạng thái bền vững, cho nên tình trạng mất ổn định được phát hiện ra trong mô hình tăng trưởng HARROD - DOMAR do giả định về hệ số cố định giữa vốn và lao động gây ra.
Neoclassical Economics / Kinh Tế Học Tân Cổ Điển
Neo-classical Economics là một phần của học thuyết kinh tế trong đó có sử dụng những kỹ thuật và phương pháp tiếp cận tổng hợp của các nhà kinh tế học đầu tiên theo trường phái biên thế kỷ XIX.
Kinh Tế Học Tân Cổ Điển (Neoclassical Economics) là một thuật ngữ trong tài chính. Nó mô tả khái niệm, cơ chế hoặc quy trình cụ thể, được sử dụng trong phân tích, định giá, giao dịch và quản trị rủi ro. Ví dụ: Kinh Tế Học Tân Cổ Điển (Neoclassical Economics) có thể dùng trong phân tích báo cáo tài chính hoặc định giá doanh nghiệp, tùy ngữ cảnh. Ứng dụng: hỗ trợ lập báo cáo, phân tích, thẩm định và ra quyết định tài chính. Khi áp dụng, cần lưu ý đến bối cảnh pháp lý và thị trường để hiểu đúng.
Margin Call / Yêu Cầu Bảo Chứng
Nhà môi giới - thương nhân chứng khoán, hoặc trung tâm thanh toán hợp đồng kỳ hạn yêu cầu đối với một thành viên thanh toán, về tiền hoặc thế chấp bổ sung để bù đắp khoản lỗ trong một tài khoản bảo chứng. Nếu một khoản vay của ngân hàng được bảo đảm bởi những chứng khoán có bảo chứng, thì bên cho vay có thể thu hồi khoản vay, nếu khách hàng không đăng ký thế chấp bổ sung hoặc trả hết khoản vay. Nếu yêu cầu bảo chứng bằng chứng khoán, thì khách hàng được yêu cầu gởi thêm tiền mặt hoặc chứng khoán đủ điều kiện vào một thời gian nhất định ngày hôm sau, hoặc tài sản thế chấp được bán để thỏa mãn khoản vay hiện hữu. Trong hoạt động đặt cọc kinh doanh chứng khoán các nhà đầu tư không chỉ kinh doanh bằng vốn tự có mà còn sử dụng cả vốn vay từ những nhà môi giới. Với một thị trường biến động mạnh, giá cổ phiếu tăng giảm rất thất thường. Giá trị số chứng khoán của nhà đầu tư trong tài khoản đặt cọc có thể nhanh chóng sụt xuống dưới số tiền mà nhà môi giới cho vay. Để tránh điều này, ngoài giới hạn đối với tỉ lệ đặt cọc ban đầu, nhà đầu tư còn phải duy trì một tỉ lệ đặt cọc luôn cao hơn một mức tối thiểu để đảm bảo an toàn cho nhà môi giới. Tỉ lệ này thương được quyết định bởi FED và bản thân các công ty môi giới chứng khoán. Các tỷ lệ tối thiểu đối với nhà đầu tư cá nhân bao giờ cũng khắt khe hơn nhà đầu tư tổ chức. Khi tài khoản đặt cọc của nhà đầu tư không đáp ứng được các mức giới hạn nói trên, nhà môi giới có thể yêu cầu nhà đầu tư tăng đặt cọc. Nếu nhà đầu tư không tăng đặt cọc nhà môi giới có thể bán số chứng khoán đặt cọc ấy để bù đắp phần vốn đã cho nhà đầu tư vay. Ví dụ: nhà đầu tư X có $10,000 và vay thêm $10,000 từ người môi giới để mua một lô cổ phiếu giá $20,000. Nếu giá thị trường của lô cổ phiếu đó giảm xuống còn $15,000, thì giá trị thuần của khoản đầu tư chỉ còn $5000 ($15,000 - $10,000). Nếu tỉ lệ đặt cọc tối thiểu là 25% thì nhà đầu tư phải có ít nhất là $15,000 x 25% = $3,750 trong tài khoản. Như vậy với $5000, nhà đầu tư vẫn chưa gặp phải vấn đề gì. Tuy nhiên, nếu tỉ lệ đặt cọc tối thiểu là 40% ($6000) thì người môi giới sẽ gửi đến nhà đầu tư một yêu cầu tăng đặt cọc $1000 vào tài khoản để đạt được tỉ lệ 40%. Nếu nhà đầu tư không thực hiện yêu cầu này, người môi giới sẽ thanh lý số chứng khoán kia. Nếu vì bất cứ lý do gì, nhà đầu tư không thực hiện yêu cầu tăng đặt cọc của công ty môi giới, công ty môi giới có quyền bán chứng khoán trong tài khoản của nhà đầu tư cho đến khi tỉ lệ sở hữu của nhà đầu tư trong tài khoản vượt qua mức tối thiểu. Điều đáng sợ hơn là các nhà môi giới có thể không cần tham vấn nhà đầu tư trước khi quyết định bán chứng khoán. Điều này hoàn toàn phụ thuộc vào qui định trong hợp đồng giữa hai bên.
Neighborhood Effects / Những Hiệu Ứng Đến Xung Quanh
Neighborhood Effects là một cụm thuật ngữ khác dùng thay cho thuật ngữ NHỮNG NGOẠI ỨNG, khi ngoại ứng đó có tính không gian.
Negotiation / Đàm Phán
Theo nghĩa rộng, đàm phán là quá trình tương tác các ảnh hưởng lẫn nhau. Những tương tác bao gồm, giải quyết mâu thuẫn, thống nhất hành động, và diễn biến thực. Thương lượng chính là một dạng của giải quyết tranh chấp. Đàm phán bao gồm 3 thành tố cơ bản: Quá trình, hành vi và diễn biến thực. Quá trình liên quan đến cách mà các bên thương lượng: bối cảnh thương lượng, những bên tham gia, mẹo (kĩ thuật) mà các bên sử dụng, và các giai đoạn diễn ra. Hành vi đối với các mối quan hệ giữa các bên, giao tiếp giữa các bên và phong cách họ lựa chọn. Diễn biến thực liên quan đến những thứ mà các bên thương lượng: chương trình làm việc, các vấn đề cần đề cập, những lựa chọn, và những thống nhất đạt được cuối cùng. Những người đàm phán có kĩ năng có thể sử dụng rất nhiều kĩ thuật từ những bài phát biểu đi thẳng vào vấn đề đến những cách tiếp cận "dễ gây nhầm lẫn" và chứa nhiều mưu mẹo hơn. Có hai phương pháp đàm phán chính: Một bên thua, một bên thắng win-lose Cả hai bên đều đạt được lợi ích win-win
Margin Call / Lệnh Gọi Ký Quỹ
21/01/2008. Trong quá trình thực hiện giao dịch mua ký quỹ, khi sử dụng tài khoản ký quỹ, nhà đầu tư phải luôn đảm bảo tỷ lệ ký quỹ (bằng cách lấy giá trị chứng khoán sở hữu chia cho tổng giá trị chứng khoán trên tài khoản) ở mức tỷ lệ ký quỹ duy trì do UBCK quy định. Trường hợp tỷ lệ ký quỹ trên tài khoản ký quỹ nhỏ hơn tỷ lệ ký quỹ phải duy trì, CTCK sẽ phát lệnh ký quỹ yêu cầu nhà đầu tư phải bổ sung thêm tiền hoặc chứng khoán vào tài khoản để đảm bảo tỷ lệ ký quỹ ở trên mức tỷ lệ ký quỹ duy trì. Nếu nhà đầu tư không thực hiện lệnh gọi ký quỹ, CTCK có thể sẽ bán số chứng khoán của nhà đầu tư trên tài khoản.
Negotiated Sale / Bảo Lãnh Phát Hành Thỏa Thuận
Theo phương thức bảo lãnh phát hành này, nhà bảo lãnh tham gia rất sớm vào quá trình phát hành nhằm hỗ trợ chính quyền địa phương tổ chức phát hành, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà phát hành thay đổi nhanh chóng theo các biến động của thị trường. Ngày phát hành thường không cố định và tuỳ thuộc vào lãi suất thị trường mà đợt phát hành được trì hoãn hay xúc tiến. Bảo lãnh phát hành theo thỏa thuận thường được sử dụng khi các đợt phát hành có những điều khoản về trái phiếu phức tạp. Thoả thuận này đặc biệt có lợi cho các nhà phát hành mới vì nó cho phép nhà bảo lãnh nổ lực mở rộng thị trường đến các nhà đầu tư thận trọng thay mặt các tổ chức phát hành. Tóm lại, việc tham gia sớm vào quá trình phát hành có thể tiết kiệm rất nhiều chi phí cố vấn tài chính. Nhược điểm cơ bản của thỏa thuận là nhà phát hành chỉ làm việc với một nhà bảo lãnh riêng lẻ có thể gặp khó khăn trong việc tính toán mức hoa hồng bảo lãnh phù hợp.
Margin Buying / Đặt Cọc Mua Chứng Khoán
Đặt cọc mua chứng khoán là việc mua chứng khoán bằng tiền của mình cộng với tiền vay từ nhà môi giới. Nhà đầu tư sẽ dùng một số tiền nhỏ để đặt cọc cho người môi giới, sau đó vay phần tiền còn lại để mua chứng khoán. Số chứng khoán này, sau đó lại được sử dụng như khoản đặt cọc cho khoản vay. Chênh lệch giữa giá trị của số chứng khoán này và khoản vay chính là giá trị đầu tư thuần. Mức chênh lệch này phải luôn lớn hơn mức đặt cọc tối thiểu để bảo vệ nhà môi giới trước sự giảm giá của số chứng khoán đó xuống dưới giá trị khoản vay. Đây là một kĩ thuật nhân vốn đầu tư, giúp nhà đầu tư có thể sử dụng một số tiền lớn hơn số vốn thực tế của anh ta để đầu tư vào chứng khoán. Kiểu đầu tư này là một cách tuyệt vời để kiếm được lợi nhuận lớn từ số vốn đầu tư tương đối nhỏ, nhưng nó cũng có thể làm cho nhà đầu tư bị thua lỗ cực kì nặng nề. Ví dụ: một nhà đầu tư có trong tay $1000 và dự định đầu tư vào một cổ phiếu Y. Hãy xem xét hai cách đầu tư sau: Cách 1: nhà đầu tư mua số cổ phiếu đó hoàn toàn bằng tiền của mình, anh ta sẽ mua được số cổ phiếu trị giá $1000. Nếu số cổ phiếu đó tăng giá gấp đôi lên $2000 thì nhà đầu tư sẽ thu được lợi nhuận $1000 - tương đương 100%. Nếu số cổ phiếu trên sụt xuống chỉ còn $500, thì nhà đầu tư lỗ mất $500, thật tồi tệ, nhưng dù sao ông ta vẫn còn lại chút ít vốn để đầu tư. Cách 2: nhà đầu tư dùng $1000 này làm khoản đặt cọc, để vay thêm $3000 nữa từ công ty chứng khoán và mua số cổ phiếu trị giá $4000. Sau đó toàn bộ số cổ phiếu này cũng được công ty chứng khoán giữ lại như một khoản đặt cọc. Ở đây giá trị đầu tư thuần lúc đầu là $4000 - $3000 = $1000, và sẽ thay đổi tùy theo biến động giá chứng khoán. Nếu giá cổ phiếu tăng gấp đôi lên $8000, giá trị đầu tư thuần lúc này tăng lên $5000, nhà đầu tư sẽ kiếm được $4000, trừ tiền lãi vay và chi phí giao dịch anh ta vẫn đạt được tỉ suất lợi nhuậngần 400%. Ngược lại nếu giá cổ phiếu giảm xuống còn một nửa - $2000, anh ta thua lỗ $2000, không chỉ mất luôn số vốn đầu tư mà thậm chí còn bị lâm vào nợ nần chồng chất. Trên đây chỉ là ví dụ minh họa cách thức mà kiểu đầu tư này nhân lãi và lỗ lên nhiều lần. Trên thực tế, công ty chứng khoán hiếm khi buông lỏng nhà đầu tư để mình tự rơi vào hoàn cảnh khó khăn như trên, vì khi nhà đầu tư thua lỗ thì công ty chứng khoán cũng khó có thể đảm bảo khả năng thu hồi được khoản vay của mình. Kể từ thập niên 1920 đến nay, hoạt động đặt cọc mua chứng khoán này đã có những thay đổi đáng kể. Vào thời đó, các qui định giám sát hoạt động đầu tư kiểu này còn khá lỏng và yêu cầu đặt cọc tối thiểu là rất thấp. Khi giá chứng khoán sụt giảm giá trị đầu tư thuần sẽ nhanh chóng giảm xuống dưới mức tối thiểu đó, buộc nhà đầu tư phải bán tháo chứng khoán ra và đây là một nhân tố dẫn đến cuộc Đại khủng hoảng và suy thoái năm 1929. Hiện nay, các nhà môi giới có xu hướng đặt ra mức yêu cầu đặt cọc tối thiểu cao hơn, để tự bảo vệ họ trước những biến động của thị trường. Ở Mỹ, Ủy ban chứng khoán Liên Bang đã đặt ra một số quy định điều chỉnh hoạt động đặt cọc mua chứng khoán, và các tổ chức tự điều chỉnh như NASD hay NYSE cũng có những qui định của riêng mình. Trong các qui định này quan trọng nhất là mức đặt cọc tối thiểu bắt buộc, trên NYSE mỗi nhà đầu tư phải đặt cọc tại công ty môi giới $2000 và bị giới hạn tỉ lệ vay không quá 50% tổng giá trị khoản đầu tư.
Negotiable Certificate Of Deposit (NCD) / Chứng Chỉ Tiền Gửi Có Thể Chuyển Nhượng Được
Là một công cụ vay nợ do các ngân hàng hoặc các tổ chức tín dụng khác phát hành xác nhận các khoản tiền gửi của người gửi tiền. Khác với chứng chỉ gửi tiền thông thường, loại này có thể được chuyển nhượng (hoặc bán) cho một người khác mà không bị phạt bởi các ngân hàng phát hành. NCD thường có kỳ hạn từ 3 đến 12 tháng. Để tăng tính hấp dẫn của công cụ này, lãi suất áp dụng cho nó thường cao hơn lãi suất của loại tiền gửi cùng kỳ hạn thông thường. Đồng thời ở một số nước, ngân hàng phát hành còn cho phép người sở hữu loại chứng chỉ này có thể bán chúng trước hạn (với một mức giá khấu trừ). NCD thường dùng để huy động các nguồn vốn lớn. Vì vậy các ngân hàng thường đặt mức tối thiểu cho một NCD. Ở Mỹ, NCD thường có mệnh giá lớn (trên 100.000 USD). NCD có thể bán lại ở thị trường thứ cấp. Hiện nay công cụ này được hầu hết các ngân hàng thương mại lớn của Mỹ phát hành và thu được những thành công lớn, với tổng số dư gần đây vượt quá tổng số dư của tín phiếu kho bạc Mỹ. Chúng là những nguồn vốn đặc biệt quan trọng mà các ngân hàng thương mại nhận từ các công ty, các quỹ tương trợ cho thị trường tiền tệ, và các cơ quan của chính phủ.
Negative Income Tax / Thuế Thu Nhập Âm; Bổ Trợ Thu Nhập Thấp
Negative Income Tax là một chương trình hỗ trợ thu nhập trong đó các cá nhân hoặc hộ gia đình có thu nhập thấp hơn mức "hoà vốn" nhất định sẽ nhận được các khoản thanh toán, mức thanh toán liên quan đến mức thu nhập. Do vậy, những người không có khoản thu nhập nào khác sẽ nhận được một khoản tiền tối thiểu được bảo đảm.
Thuế Thu Nhập Âm; Bổ Trợ Thu Nhập Thấp (Negative Income Tax) là một thuật ngữ trong tài chính. Nó mô tả khái niệm, cơ chế hoặc quy trình cụ thể, được sử dụng trong phân tích, định giá, giao dịch và quản trị rủi ro. Ví dụ: Thuế Thu Nhập Âm; Bổ Trợ Thu Nhập Thấp (Negative Income Tax) có thể dùng trong phân tích báo cáo tài chính hoặc định giá doanh nghiệp, tùy ngữ cảnh. Ứng dụng: hỗ trợ lập báo cáo, phân tích, thẩm định và ra quyết định tài chính. Khi áp dụng, cần lưu ý đến bối cảnh pháp lý và thị trường để hiểu đúng.
Needs / Nhu Cầu
Theo định nghĩa của Philip Kotler: Nhu cầu là cảm giác thiếu hụt một cái gì đó mà con người cảm nhận được. Như vậy cảm giác thiếu hụt một cái gì đó mà con người cảm nhận được đó là một trạng thái đặc biệt của con người, nó xuất hiện khi còn người tồn tại, sự thiếu hụt ấy đòi hỏi phải được thoả mãn, bù đắp. Ý tưởng cốt lõi của Marketing là hướng tới thoả mãn nhu cầu của con người. Nhu cầu của con người rất đa dạng và phức tạp và có thể xem xét từ những góc độ khác nhau. Abraham Maslow căn cứ vào tính chất của nhu cầu đã phân chia thành thứ bậc của các nhu cầu. Theo ông, con người ta cố gắng thoả mãn được những nhu cầu quan trọng nhất và khi nhu cầu nào đó đã được thoả mãn thì lại xuất hiện sự đòi hỏi thoả mãn những nhu cầu tiếp theo. Tháp nhu cầu Maslow Marketing có thể phân chia nhu cầu thành nhu cầu hiện tại và nhu cầu tiềm tàng. Nhu cầu hiện tại: là nhu cầu thiết yếu đã và đang được đáp ứng, tại thời điểm đó, đối với người tiêu dùng là nhu cầu quan tọng nhất và được xếp lên hàng đầu. Nhu cầu tiềm tàng: loại thứ nhất là nhu cầu đã xuất hiện, nhưng vì lí do nào đó mà con người chưa được đáp ứng, chưa được thoả mãn; loại thứ hai là những nhu cầu chưa xuất hiện, bản thân người tiêu dùng chưa biết đến nhu cầu đó, nhưng với các nhà kinh tế, các nhà nghiên cứu Marketing và các doanh nghiệp lại có thể dự đoán trước sự xuất hiện của các nhu cầu này trên cơ sở phân tích và dự đoán. Vì vậy họ có khả năng vạch ra chiến lược nhằm tác động và thoả mãn trong tương lai.
Margin Account / Tài Khoản Ký Quỹ Hay Tài Khoản Bảo Chứng
Một loại tài khoản môi giới trong đó người môi giới cho khách hàng vay tiền mặt để mua chứng khoán. Khoản vay trong tài khoản được ký quỹ bởi chứng khoán và tiền mặt. Nếu giá trị của cổ phiếu sụt giảm quá một mức nhất định đã được xác định trước, người chủ tài khoản sẽ được yêu cầu đặt thêm tiền hoặc bán một phần cổ phiếu. Khi sử dụng một tài khoản ký quỹ, nghĩa là bạn đang đầu tư bằng tiền của người môi giới cho mình. Bằng cách sử dụng sức mạnh đòn bẩy của khoản vay, bạn có thể làm khuếch đại cả lãi và khoản lỗ của khoản đầu tư. Tài khoản ký quỹ được quản lý trong đạo luật T bởi Hiệp hội các nhà buôn bán chứng khoán Mỹ (National Association of Securities Dealers), Sàn giao dịch chứng khoán New York, và những luật lệ của từng công ty môi giới. Các yêu cầu ký quỹ có thể được trả bởi tiền mặt hoặc các chứng khoán đủ tư cách. Trong trường hợp chứng khoán được bán khống, một khoản tương đương của chứng khoán đó thường được "mượn" mà không phải chịu lãi từ một nhà môi giới khác để thực hiện việc bán, trong khi quá trình được lưu giữ trong bản giao kèo do người thứ 3 giữ để làm bằng dưới dạng ký quỹ cho bên cho mượn chứng khoán.





