Thuật Ngữ Kinh Tế

A B C D E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Z Tất cả

Call Credit / Tín Dụng Gọi Trả

Call Credit Là loại tín dụng mà Ngân hàng cho vay không kỳ hạn, khi nào cần thu hồi vốn về, Ngân hàng sẽ thông báo trước cho người đi vay một số ngày nhất định. Tín dụng gọi trả là một trong những nghiệp vụ quan trọng của ngân hàng thương mại. Thông qua loại tín dụng này, ngân hàng sử dụng triệt để các nguồn vốn huy động được, tránh để cho vốn chết. Một số đặc điểm của tín dụng gọi trả: Lãi suất thường thấp Xác định thời gian chống gọi trả. Người đi vay muốn thời gian này càng dài càng tốt, ngược lại, Ngân hàng lại giới hạn thời gian này lại. Điều này phụ thuộc vào sự thỏa thuận giữa đôi bên. Tín dụng gọi trả ra đời xuất phát từ lợi ích của Ngân hàng, do đó, điều kiện vay đối với loại tín dụng này cũng dễ dàng hơn.

Behavioural Expectations / Kỳ Vọng Dựa Trên Hành Vi

Một quan điểm về sự hình thành các kỳ vọng dựa trên các yếu tố tâm lý và xã hội.

Behavioural Equation / Phương Trình Về Hành Vi

Một mối quan hệ toán học trong một mô hình kinh tế hay kinh tế lượng, phản ánh sự phản ứng của một cá nhân hay một tập hợp các cá nhân đối với các khuyến khích kinh tế (ví dụ HÀM TIÊU DÙNG).

Behavioral Finance / Tài Chính Hành Vi

Đây là một lĩnh vực tài chính đưa ra các lý thuyết đựa trên các phân tích tâm lý để giải thích những diễn biến bất thường trên thị trường chứng khoán. Tài chính hành vi thường dựa trên giả định rằng cấu trúc thông tin và đặc tính của những người tham gia vào thị trường chứng khoán đều bị ảnh hưởng một cách hệ thống bởi các quyết định đầu tư cá nhân cũng như các tác động của thị trường. Đã có rất nhiều nghiên cứu viện dẫn các hiện tượng đã xảy ra trong thị trường chứng khoán đối lập với thuyết thị trường hiệu quả, không thể giải thích được một cách thoả đáng theo mô hình này nhưng lại có thể lý giải dựa trên các lý thuyết tài chính hành vi. Hãy cùng xét môt ví dụ: Giả sử cho một người lựa chọn giữa việc chắc chắn nhận được 50$ và tung đồng xu, nếu được thì anh ta sẽ có 100$, nếu không được thì anh ta sẽ chẳng có gì. Một khả năng là người này lựa chọn bỏ túi 50$. Tuy nhiên anh ta cũng có thể thử vận may với trò chơi sấp ngửa, xác suất là 50:50. Thông thường thì mọi người có xu hướng tung đồng xu để kiếm thêm được 50$ mặc dù việc này có thể khiến anh ta mất luôn cả 50$ mà lẽ ra anh ta lẽ ra đã có được một cách chắc chắn. Hành vi trên cũng đúng với các nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán. Ví dụ các nhà đầu tư vào chứng khoán của tập đoàn Nortel Networks, năm 2000 giá cổ phiếu của tập đoàn này giảm từ 100$ xuống còn chưa đầy 2$. Và cho dù giá có giảm thế nào thì các nhà đầu tư vẫn tin rằng giá sẽ sớm hồi phục, do đó họ vẫn tiếp tục nắm giữ cổ phiếu này. Tài chính hành vi cũng khám phá ra rằng các nhà đầu tư có xu hướng đầu tư với giá trị  lớn mà chỉ dựa trên lượng thông tin ít ỏi từ một nguồn duy  nhất. Thêm vào đó, niềm tin của họ thật khó mà lay chuyển nổi. Vào cuối những năm 90, một niềm tin đeo đuổi các nhà đầu tư đó là bất cứ sự sụt giá đột ngột nào trên thị trường cũng là một thời điểm tốt để mua vào. Các nhà đầu tư thường quá tự tin vào phán quyết của mình và tin vào những lời đồn thổi hơn là sự thật hiển hiện trước mắt mình. Trên thực tế có rất ít các nhà đầu tư giá trị sử dụng các nguyên lý hành vi để tìm ra cổ phiếu nào rẻ nhưng lại mang lại thu nhập thực sự cho họ. Lý thuyết tài chính hành vi hiện vẫn nặng về học thuật hơn là khả năng ứng dụng để quản lý tiền tệ và đầu tư. Robert Shiller, tác giả của cuốn sách"Irrational Exuberance", đã chỉ ra rằng thị trường trong cuối thập kỉ 90 là một quả bóng khổng lồ, nhưng ông lại không thể tiên liệu được là khi nào thì quả bóng đó sẽ nổ. Tương tự, các chuyên gia nghiên cứu hành vi ngày nay cũng không thể dự báo khi nào thì thị trường sẽ xuống tới mức thấp nhất mà họ chỉ có thể mô tả trạng thái hiện tại của thị trường là thế nào. Lý thuyết tài chính hành vi không thể cung cấp một phương thức đầu tư kì diệu, nhưng lại có thể giúp các nhà đầu tư cẩn trọng hơn đối với các hành vi đầu tư của mình, từ đó có thể tránh được các sai lầm khiến họ trở nên nghèo hơn.

Một lĩnh vực tài chính dựa trên lý thuyết tâm lý học để giải thích các hiện tượng bất thường của thị trường chứng khoán. Trong tài chính hành vi, người ta cho rằng các cấu trúc thông tin và các đặc điểm của người tham gia thị trường sẽ ảnh hưởng đến quyết định đầu tư cá nhân cũng như kết quả của thị trường một cách có hệ thống. Đã có nhiều nghiên cứu ghi nhận hiện tượng lịch sử lâu dài trong thị trường chứng khoán đi ngược lại với giả thuyết thị trường hiệu quả và không thể áp dụng các mô hình một cách hợp lý dựa trên tính hợp lý của nhà đầu tư hoàn hảo. Tài chính hành vi luôn cố gắng để lấp đầy khoảng trống đó.

Default / Vi Phạm Nghĩa Vụ Trả Nợ

Vi phạm nghĩa vụ trả nợ là việc con nợ không thực hiện các nghĩa vụ pháp lý theo hợp động vay mược, có nghĩa là anh ta đã không thanh toán đúng hạn hoặc vi phạm một điều khoản nào đó của hợp đồng vay mượn. Tình tràng này có thể xảy ra với tất cả các nghĩa vụ nợ nần bao gồm trái phiếu, vay đặt cọc, vay mượn thông thường, kì phiếu. Cần phân biệt thuật ngữ vi phạm nghĩa vụ trả nợ với thuật ngữ vỡ nợ và phá sản. Về căn bản "vi phạm nghĩa vụ trả nợ" có nghĩa là con nợ chưa trả được nợ - hoặc chưa muốn trả hoặc là chưa trả được. "Vỡ nợ" là thuật ngữ mang tính pháp lý chỉ tình trạng con nợ không thể thanh toán được các khoản nợ. Còn "phá sản" là một kết luận pháp lý do tòa án tuyên bố khi một doanh nghiệp vi phạm nghĩa vụ trả nợ hoặc vỡ nợ. Cũng giống như vỡ nợ, việc "vi phạm nghĩa vụ trả nợ" cũng được chia làm 2 loại. Loại thứ nhất là vi phạm nghĩa vụ thanh toán tiền lãi và gốc đáo hạn. Loại thứ hai là vi phạm nghĩa vụ trả nợ về mặt kĩ thuật. Vi phạm nghĩa vụ thanh toán về mặt kĩ thuật xảy ra khi một điều khoản qui định nghĩa vụ của con nợ bị vi phạm. Điều khoản qui định nghĩa vụ của con nợ được chia làm hai loại: loại khẳng định và loại phủ định. Điều khoản khẳng định qui định con nợ phải duy trì được các thông số về mặt kế toán ở một mức độ nào đó, ví dụ: giá trị thuần của doanh nghiệp phải duy trì trên 200 triệu USD. Các điều khoản khẳng định hay bị vi phạm nhất là các điều khoản liên quan đến giá trị thuần, vốn lưu động (working capital), hay hệ số thanh toán ngắn hạn (current ratio),tỉ lệ nợ trên vốn. Điều khoản phủ định qui định con nợ sẽ không được tiến hành một số hoạt động đầu tư, tài chính nào đó trừ khi thỏa mãn những điều kiện nhất định. Nhìn chung doanh nghiệp ít khi vi phạm những điều khoản kiểu thứ hai này hơn. Với hầu hết các khoản nợ (gồm có nợ công ty, nợ cầm cố thế chấp, và nợ ngân hàng), ngay khi xảy ra sự vi phạm nghĩa vụ trả nợ, con nợ thường có nghĩa vụ phải thanh toán toàn bộ số nợ, gồm cả gốc lẫn lãi.

Behavioral Economics / Kinh Tế Học Hành Vi

Trong phân tích kinh tế thì Kinh tế học hành vi là một nhánh riêng của nó, được áp dụng trong các nghiên cứu đối với các nhân tố thuộc con người và xã hội, kinh nghiệm và cảm xúc nhằm mục đích hiểu rõ hơn các quyết định cũng như hành vi của người tiêu dùng, nhà đầu tư; đánh giá mức độ ảnh hưởng đến giá cả trên thị trường, doanh thu và việc phân bổ các nguồn lực. Ngay từ khi được hình thành, khái niệm kinh tế học hành vi được phát triển dựa trên kết quả của việc quan sát và khảo sát thực nghiệm, nhưng đến nay, khái niệm này chủ yếu được dựa những dữ liệu kinh tế thực tế. Kinh tế học hành vi tập trung nghiên cứu 3 mảng đề tài chính: Khám phá (Heuristics): con người thường đưa ra các quyết định dựa trên quy tắc ngón cái, không bám sát các phân tích hợp lý; Bối cảnh (Framing): bối cảnh sẽ ảnh hưởng tới hành động của người đưa ra quyết định; Thị trường không hiệu quả (Market inefficiencies): tồn tại một số giải thích tại sao những kết quả thị trường quan sát được lại trái với các kỳ vọng hợp lý và hiệu quả thị trường. Đó là: định giá không chính xác, quyết định bất hợp lý, và thu nhập bất thường.

Beggar My Neighbour Policies / Chính Sách Làm Nghèo Nước Láng Giềng

Những biện pháp kinh tế mà một nước thực hiện nhằm cải thiện tình hình trong nước, thường là giảm thất nghiệp và có những tác động bất lợi với các nền kinh tế khác.

Deed-In-Lieu / Chứng Thư Ngăn Ngừa Tịch Biên

Deed-in-lieu là cách viết tắt của chứng thư ngăn ngừa tịch biên "deed in lieu of foreclosure". Chứng thư này chuyển chủ quyền sang nơi cho vay trong trường hợp người vay không trả được nợ và muốn tránh bị tịch biên. Bên cho vay có thể có hoặc không ngưng các thủ tục tịch biên nếu người thuê yêu cầu được cung cấp chứng thư ngăn ngừa tịch biên. Bất kể bên cho vay có chấp nhận chứng thư này hay không, việc tránh và không trả nợ thường sẽ được ghi vào hồ sơ tín dụng. Chứng thư ngăn ngừa tịch biên chỉ có thể tránh được việc đưa các văn kiện tiến hành việc tịch biên vào sổ bộ và trở thành ký lục công cộng (public record).

Bed And Breakfast / Bán Trễ Mua Sớm

Bed and breakfast là thuật ngữ chỉ việc Bán trễ mua sớm. Vậy ta hiểu bán trễ mua sớm là gì? Chứng khoán được bán vào cuối ngày trên thị trường chứng khoán sau đó được mua lại vào buổi sáng kế tiếp. Nhà mua bán có ý định tạo ra một vụ thua lỗ để bù trừ vào số tư bản kiếm được bị đánh thuế. Nếu giá mua lại ngay kế tiếp rớt giá mạnh so với giá bán thì nhà mua bán không bị lỗ. Do đó không được bù trừ vào thuế.

Call Auction Continuous Auction / Khớp Lệnh Định Kỳ-Khớp Lệnh Liên Tục

Trên thị trường chứng khoán, việc khớp lệnh để tìm ra mức giá bán và giá mua phù hợp cho những nhà đầu tư được thực hiện qua một trong hai phương thức: khớp lệnh định kỳ và khớp lệnh liên tục. Phương thức khớp lệnh định kỳ (Call Auction) là phương thức giao dịch trong đó giá thực hiện mua và bán được xác định theo điều kiện cho phép khối lượng giao dịch cao nhất, trên cơ sở tập hợp tất cả các lệnh mua và lệnh bán trong một khoảng thời gian nhất định. Tức là, khi xuất hiện yêu cầu của nhà đầu tư đặt ra muốn mua hoặc bán một loại chứng khoánnào đó (đặt lệnh) thì Trung tâm giao dịch chứng khoán sẽ tiến hành ghép lệnh hay gọi là khớp lệnh, dựa trên tình hình cung cầu chứng khoán đó để đưa ra một lệnh thị trường - một mức giá tốt nhất - để các nhà đầu tư mua bán chứng khoán đó, nhằm đạt được giá trị giao dịch lớn nhất. Và việc khớp lệnh này tất nhiên phải tuân theo một số nguyên tắcnhất định. Với Call Auction việc khớp lệnh được thực hiện sau khi đã tập trung tất cả các lệnh mua và bán trong một thời gian nhất định, ví dụ tại Sàn giao dịch Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành khớp lệnh 3 phiên/ ngày, vào một thời điểm nhất định, và đều đặn từ thứ 2 đến thứ 6. Tuy nhiên với cơ chế khớp lệnh định kỳ, nhà đầu tư lại luôn có xu hướng tranh mua, tranh bán vào gần thời điểm khớp lệnh, khiến nhiều phiên đại diện giao dịch không thể nhập kịp các lệnh vào hệ thống, đó là nguyên nhân gây ra hiện tượng ách tắc hay sập sàn.  Phương thức khớp lệnh liên tục (Continuous Auction) trong đó giao dịch được thực hiện liên tục ngay khi có các lệnh đối ứng được nhập vào hệ thống. Với phương thức khớp lệnh liên tục, ngay sau khi lệnh được nhập vào hệ thống, sẽ lập tức được so khớp và hình thành giao dịch, từ đó, giá cả được xác định liên tục chứ không phải vào một thời điểm nhất định như khớp lệnh định kỳ. Tuy nhiên muốn áp dụng phương thức khớp lệnh hiện đại này các Trung tâm giao dịch chứng khoán phải tiến hành nâng cấp hệ thống cơ sở vật chất, đặc biệt các chương trình xử lý lệnh và giao dịch cho khách hàng theo đúng lộ trình mà Trung tâm thông báo. Hơn nữa, nhà đầu tư cần hiểu biết hơn, nắm vững thông tin hơn khi quyết định đầu tư trên thị trường chứng khoán, nếu không rủi ro khi đầu tư theo phương thức giao dịch liên tục cũng cao hơn.  Hiện nay Trung tâm giao dịch Hà Nội áp dụng đồng thời hai phương thức là giao dịch báo giá và giao dịch thỏa thuận, điều này cho phép khách hàng có thể linh hoạt lựa chọn hình thức giao dịch thích hợp. Giao dịch thỏa thuận có thể áp dụng trong trường hợp nhà đầu tư đã tìm được đối tác giao dịch và giao dịch báo giá áp dụng trong trường hợp chưa tìm được đối tác giao dịch. Đặc biệt báo giá là phương thức giao dịch linh hoạt và tiên tiến, theo đó các lệnh giao dịch khi đã nhập vào hệ thống sẽ được khớp lệnh ngay nếu có các lệnh đối ứng trên hệ thống thỏa mãn được về mức giá giao dịch - Về bản chất đây có thể coi là hình thức giao dịch khớp lệnh liên tục. Với phương thức giao dịch khớp lệnh định kỳ, mức giá dự kiến khớp lệnh sẽ có những thay đổi thường xuyên và chỉ có thể chính thức xác định tại thời điểm khớp lệnh; như vậy trong trường hợp người đầu tư đặt lệnh sớm, mức giá đặt giao dịch thường có thể sẽ không phù hợp với mức giá khớp lệnh, vì thế người đầu tư muốn đặt lệnh sát với thực tế thị trường thì thường phải theo dõi quá trình giao dịch và đưa ra quyết định cuối cùng vào sát thời điểm khớp lệnh, điều này đôi khi cũng không hoàn toàn được như mong muốn do hầu hết người đầu tư đều tập trung đặt lệnh vào sát giờ khớp lệnh vì thế có thể sẽ dẫn đến nguy cơ dồn toa tắc nghẽn và lệnh giao dịch của khách hàng có thể không kịp chuyển vào hệ thống. Hơn thế nữa, người đầu tư sẽ phải dành khá nhiều thời gian để theo dõi sau khi đã đặt lệnh mới biết được kết quả giao dịch của mình. Ngược lại, đối với phương thức giao dịch báo giá tại TTGDCK Hà Nội, trong trường hợp nhà đầu tư theo dõi và quyết định đặt lệnh giao dịch đối ứng với các lệnh đã có sẵn trên hệ thống, nếu các điều kiện thỏa mãn thì việc khớp lệnh sẽ được thực hiện ngay sau khi lệnh được nhập vào hệ thống, điều này sẽ giảm thiểu tối đa thời gian mà người đầu tư phải theo dõi đặt lệnh cũng như chờ xác nhận kết quả giao dịch, thời gian dành cho việc đầu tư chứng khoán của khách hàng được rút ngắn để làm các công việc khác. Chính bởi ưu điểm của phương thức giao dịch báo giá như đã đề cập ở điểm trên, nhà đầu tư khi tham gia giao dịch có thể lựa chọn thời điểm đặt lệnh cũng như mức giá đặt mua thích hợp nhất, phù hợp nhất với nhu cầu đầu tư và tình hình thị trường, đồng thời đảm bảo khả năng giao dịch được ở mức cao nhất.

Trên thị trường chứng khoán, việc khớp lệnh để tìm ra mức giá bán và giá mua phù hợp cho những nhà đầu tư được thực hiện qua một trong hai phương thức: khớp lệnh định kỳ và khớp lệnh liên tục. Phương thức khớp lệnh định kỳ (Call Auction) là phương thức giao dịch trong đó giá thực hiện mua và bán được xác định theo điều kiện cho phép khối lượng giao dịch cao nhất, trên cơ sở tập hợp tất cả các lệnh mua và lệnh bán trong một khoảng thời gian nhất định. Tức là, khi xuất hiện yêu cầu của nhà đầu tư đặt ra muốn mua hoặc bán một loại chứng khoánnào đó (đặt lệnh) thì Trung tâm giao dịch chứng khoán sẽ tiến hành ghép lệnh hay gọi là khớp lệnh, dựa trên tình hình cung cầu chứng khoán đó để đưa ra một lệnh thị trường - một mức giá tốt nhất - để các nhà đầu tư mua bán chứng khoán đó, nhằm đạt được giá trị giao dịch lớn nhất. Và việc khớp lệnh này tất nhiên phải tuân theo một số nguyên tắcnhất định. Với Call Auction việc khớp lệnh được thực hiện sau khi đã tập trung tất cả các lệnh mua và bán trong một thời gian nhất định, ví dụ tại Sàn giao dịch Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành khớp lệnh 3 phiên/ ngày, vào một thời điểm nhất định, và đều đặn từ thứ 2 đến thứ 6. Tuy nhiên với cơ chế khớp lệnh định kỳ, nhà đầu tư lại luôn có xu hướng tranh mua, tranh bán vào gần thời điểm khớp lệnh, khiến nhiều phiên đại diện giao dịch không thể nhập kịp các lệnh vào hệ thống, đó là nguyên nhân gây ra hiện tượng ách tắc hay sập sàn.  Phương thức khớp lệnh liên tục (Continuous Auction) trong đó giao dịch được thực hiện liên tục ngay khi có các lệnh đối ứng được nhập vào hệ thống. Với phương thức khớp lệnh liên tục, ngay sau khi lệnh được nhập vào hệ thống, sẽ lập tức được so khớp và hình thành giao dịch, từ đó, giá cả được xác định liên tục chứ không phải vào một thời điểm nhất định như khớp lệnh định kỳ. Tuy nhiên muốn áp dụng phương thức khớp lệnh hiện đại này các Trung tâm giao dịch chứng khoán phải tiến hành nâng cấp hệ thống cơ sở vật chất, đặc biệt các chương trình xử lý lệnh và giao dịch cho khách hàng theo đúng lộ trình mà Trung tâm thông báo. Hơn nữa, nhà đầu tư cần hiểu biết hơn, nắm vững thông tin hơn khi quyết định đầu tư trên thị trường chứng khoán, nếu không rủi ro khi đầu tư theo phương thức giao dịch liên tục cũng cao hơn.  Hiện nay Trung tâm giao dịch Hà Nội áp dụng đồng thời hai phương thức là giao dịch báo giá và giao dịch thỏa thuận, điều này cho phép khách hàng có thể linh hoạt lựa chọn hình thức giao dịch thích hợp. Giao dịch thỏa thuận có thể áp dụng trong trường hợp nhà đầu tư đã tìm được đối tác giao dịch và giao dịch báo giá áp dụng trong trường hợp chưa tìm được đối tác giao dịch. Đặc biệt báo giá là phương thức giao dịch linh hoạt và tiên tiến, theo đó các lệnh giao dịch khi đã nhập vào hệ thống sẽ được khớp lệnh ngay nếu có các lệnh đối ứng trên hệ thống thỏa mãn được về mức giá giao dịch - Về bản chất đây có thể coi là hình thức giao dịch khớp lệnh liên tục. Với phương thức giao dịch khớp lệnh định kỳ, mức giá dự kiến khớp lệnh sẽ có những thay đổi thường xuyên và chỉ có thể chính thức xác định tại thời điểm khớp lệnh; như vậy trong trường hợp người đầu tư đặt lệnh sớm, mức giá đặt giao dịch thường có thể sẽ không phù hợp với mức giá khớp lệnh, vì thế người đầu tư muốn đặt lệnh sát với thực tế thị trường thì thường phải theo dõi quá trình giao dịch và đưa ra quyết định cuối cùng vào sát thời điểm khớp lệnh, điều này đôi khi cũng không hoàn toàn được như mong muốn do hầu hết người đầu tư đều tập trung đặt lệnh vào sát giờ khớp lệnh vì thế có thể sẽ dẫn đến nguy cơ dồn toa tắc nghẽn và lệnh giao dịch của khách hàng có thể không kịp chuyển vào hệ thống. Hơn thế nữa, người đầu tư sẽ phải dành khá nhiều thời gian để theo dõi sau khi đã đặt lệnh mới biết được kết quả giao dịch của mình. Ngược lại, đối với phương thức giao dịch báo giá tại TTGDCK Hà Nội, trong trường hợp nhà đầu tư theo dõi và quyết định đặt lệnh giao dịch đối ứng với các lệnh đã có sẵn trên hệ thống, nếu các điều kiện thỏa mãn thì việc khớp lệnh sẽ được thực hiện ngay sau khi lệnh được nhập vào hệ thống, điều này sẽ giảm thiểu tối đa thời gian mà người đầu tư phải theo dõi đặt lệnh cũng như chờ xác nhận kết quả giao dịch, thời gian dành cho việc đầu tư chứng khoán của khách hàng được rút ngắn để làm các công việc khác. Chính bởi ưu điểm của phương thức giao dịch báo giá như đã đề cập ở điểm trên, nhà đầu tư khi tham gia giao dịch có thể lựa chọn thời điểm đặt lệnh cũng như mức giá đặt mua thích hợp nhất, phù hợp nhất với nhu cầu đầu tư và tình hình thị trường, đồng thời đảm bảo khả năng giao dịch được ở mức cao nhất.

Call / Lệnh Thu Hồi Hợp Đồng Option Theo Chiều Lên

Call có thể hiểu là: Lệnh thu hồi hợp đồng option theo chiều lên. Thuật ngữ này có nghĩa: 1. Ngân hàng người cho vay yêu cầu chi trả sớm số tiền vay bởi vì người vay đã không làm đúng các cam kết trong hợp đồng như duy trì số bảo hiểm tương xứng hay chi trả đúng định kỳ, hoặc trong tiền vay hoạt kỳ (Demand Loan) người cho vay thực hiện quyền của người cho vay là yêu cầu chi trả lại đủ số tiền vay vào bất kỳ thời điểm nào. 2. Lệnh gọi của tổng kiểm soát được tổng kiểm soát viên tiền tệ gửi cho ngân hàng quốc gia để lập báo cáo theo lệnh gọi (Call Report) hay báo cáo tình hình (Report of Condition). 3. Lệnh của cơ quan lập pháp gởi cho một ngân hàng đang khó khăn yêu cầu ngân hàng huy động thêm vốn, đôi khi gọi là lệnh gọi vốn. 4. Quyền thu hồi trái phiếu đang lưu hành trước khi đáo hạn. Thời điểm đầu tiên khi nhà phát hành có thể ra lệnh gọi trái phiếu có ấn định trong tập quảng bá mỗi kỳ phát hành trái phiếu, trong giao kèo có ghi điều khoản về lệnh gọi. 5. Quyền mua một số lượng cổ phần đã ấn định theo một giá ấn định và theo thời điềm cố định.

Decreasing Cost Industry / Ngành Có Chi Phí Giảm Dần

Một ngành mà đường cung dài hạn dốc xuống. Điều này xảy ra nếu có những yếu tố tạo hiệu quả kinh tế nằm ngoài hãng mà lại nằm trong ngành.

Calender Spread / Mua Bán Song Hành Theo Lịch

Mua và bán song hành theo lịch, là khái niệm chỉ sách lược mua bán hợp đồng options bằng cách mua 2 hợp đồng option có cùng loại chứng khoán nhưng khác ngày đáo hạn. Nếu giá điểm (exercise price= strike price = giá thi hành) giống nhau thì gọi là chênh lệch theo chiều ngang (horizontal spread); Nếu giá thi hành khác nhau thì gọi là chênh lệch theo đường chéo (diagonal spread). Nhà đầu tư lời hay lỗ là do chênh lệch giá hẹp hay rộng (ít hay nhiều).

Declaration Date / Ngày Công Bố Chi Trả Cổ Tức

Đây là ngày BGĐ/HĐQT, sau khi đã được ĐHĐCĐ thông qua (họp trực tiếp hoặc lấy ý kiến bằng văn bản), thông báo trên các phương tiện truyền thông đại chúng rằng công ty chuẩn bị trả cố tức cho các cổ đông. Trong ngày này công ty cũng sẽ thông báo luôn ngày đăng ký cuối cùng và ngày thực hiện quyền.

Decision Theory / Lý Thuyết Ra Quyết Định

Lý thuyết liên quan đến việc hình thành các quá trình hành động thích hợp nhằm đạt được các mục tiêu trong các hoàn cảnh cụ thể có thể không ổn định.

Lý Thuyết Ra Quyết Định (Decision Theory) là một thuật ngữ trong tài chính. Nó mô tả khái niệm, cơ chế hoặc quy trình cụ thể, được sử dụng trong phân tích, định giá, giao dịch và quản trị rủi ro. Ví dụ: Lý Thuyết Ra Quyết Định (Decision Theory) có thể dùng trong phân tích báo cáo tài chính hoặc định giá doanh nghiệp, tùy ngữ cảnh. Ứng dụng: hỗ trợ lập báo cáo, phân tích, thẩm định và ra quyết định tài chính. Khi áp dụng, cần lưu ý đến bối cảnh pháp lý và thị trường để hiểu đúng.

Calendar Effect / Hiệu Ứng Niên Lịch

Đây là một tập hợp các lý thuyết xác nhận rằng một số ngày tháng hoặc thời gian nào đó trong năm sẽ có  sự biến động về giá cao hơn mức bình quân, tác động đến các chỉ số thị trường và do đó cho thấy thời gian nào là tốt hay không tốt để đầu tư. Dưới hiệu ứng niên lịch còn có các hiệu ứng cụ thể như : hiệu ứng ngày thứ 2, hiệu ứng tháng 10, hiệu ứng Halloween, hiệu ứng tháng một...Hiệu ứng tháng một là hiệu ứng trong đó xét một cách tổng thể thì giá cả của các chứng khoán tăng trong tháng một. Thông thường, người ta quy kết sự tăng giá này là do các nhà đầu tư mua vào các loại chứng  khoán mà giá của chúng vừa mới giảm xuống do việc bán ra hàng loạt của các nhà đầu tư vào cuối tháng 12 nhằm giảm khoản thuế phải nộp trên thặng dư vốn hoặc thu tiền để chuẩn bị cho các kì nghỉ...Người ta cho rằng hiệu ứng tháng một ảnh hưởng tới các doanh nghiệp có mức vốn hoánhỏ  nhiều hơn các doanh nghiệp có mức vốn hoá trung bình và lớn. Tuy nhiên xu hướng này hiện nay không còn rõ nét nữa bởi thị trường luôn có sự điều chỉnh liên tục trước các hiệu ứng. Một lý do nữa khiến cho hiệu ứng này ngày nay không còn quan trọng nhiều như trước nữa đó là ngày càng có nhiều người sử dụng các kế  hoạch nghỉ hưu (retirement plans) tạo vỏ bọc về thuế nên họ không cần bán chứng khoán vào cuối năm để giảm thuế nữa. Hiệu ứng tháng 10 là hiệu ứng thừa nhận rằng các chứng khoán có xu hướng giảm giá trong suốt tháng 10. Một vài nhà đầu tư có thể lo lắng trong suốt tháng 10 bởi đây là thời gian mà trong lịch sử, nhiều thị trường đã bị sụp đổ trong tháng này. Ngày thứ hai đen tối, thứ ba đen tối và cả thứ năm đen tối đều xảy ra vào tháng 10 năm 1929, sau đó là cuộc đại suy thoái nổi tiếng mà chúng ta đã biết. Thêm vào đó cuộc suy thoái năm 1987 được cho là bắt đầu xảy ra vào ngày 19 tháng 10, ngay sau đó chỉ số Dow đã sụt giảm tới 22.6% trong vỏn vẹn có một ngày. Ngày nay, hiệu ứng tháng 10 chủ yếu được coi là một kì vọng có tính tâm lý học hơn là một hiện tượng thực tế. Phần lớn các số liệu thống kê đều đi ngược lại với lý thuyết này. Hiệu ứng ngày thứ hai là lý thuyết cho rằng thu nhập từ thị trường chứng khoán vào ngày thứ hai sẽ tiếp nối xu hướng từ ngày thứ 6 trước đó. Vì thế, nếu ngày thứ 6 thị trường đi lên thì xu hướng này sẽ tiếp tục vào ngày thứ hai tới, sau ngày nghỉ cuối tuần. Một vài nghiên cứu đã cho thấy sự liên hệ tương tự, nhưng không có nghiên cứu nào  có thể lý giải một cách chính xác sự tồn tại của hiệu ứng ngày thứ hai. Phần lớn các bằng chứng của các hiệu ứng trên đều là giai thoại, mặc dù cũng có một số trường hợp thống kê đúng với các lý thuyết này, và thông thường thì những bằng chứng này cũng đã đủ để khiến cho nhiều nhà đầu tư tin vào hiệu ứng niên lịch.

Bears / Người Đầu Cơ Giá Xuống

Những cá nhân tin rằng giá chứng khoán hoặc trái khoán sẽ giảm và do đó bán những chứng khoán hy vọng rằng có thể mua lại ở mức giá thấp hơn.

Decision Rule / Quy Tắc Ra Quyết Định

Một tiêu chuẩn sử dụng trong việc chọn lựa, như có tiến hành một dự án hay không hoặc định giá các sản phẩm đầu ra như thế nào.

New Issues Market / Thị Trường Các Chứng Khoán Mới Phát Hành

Là thị trường sơ cấp, không xác định được rõ ràng lắm, trong đó người ta bán các loại CHỨNG KHOÁN mới được tạo ra, hoặc là các chứng khoán trước đó chưa được niêm yết chính thức và do vậy chưa được trao đổi tại sở giao dịch chứng khoán: bằng cách chào công khai tới dân chúng, tới các cổ đông đã có cổ phần trong trường hợp "phát hành cổ phiếu đặc quyền", hoặc bán riêng cho một số cá nhân và tổ chức được lựa chọn có khả năng mua với số lượng lớn đối với các chứng khoán của các công ty tư nhân hoặc của các công ty nhà nước không được niêm yết chính thức.

Bearer/ Registered Security / Chứng Khoán Vô Danh / Đích Danh

Các loại chứng khoán (cổ phiếu, trái phiếu) có thể được thể hiện dưới dạng một chứng từ cụ thể hoặc bằng một bản ghi điện tử. Dưới dạng chứng từ, chứng khoán được chia thành hai loại: chứng khoán vô danh và chứng khoán đích danh. Các loại chứng khoán (cổ phiếu, trái phiếu) có thể được thể hiện dưới dạng một chứng từ cụ thể hoặc bằng một bản ghi điện tử. Dưới dạng chứng từ, chứng khoán được chia thành hai loại: chứng khoán vô danh và chứng khoán đích danh. Chứng khoán vô danh (bearer security) là loại chứng khoán không được đăng ký trên sổ sách của người phát hành, thay vào đó mọi quyền lợi của chứng khoán vô danh sẽ được thanh toán cho người cầm giữ, sở hữu nó. Bất cứ ai nắm giữ chứng khoán cũng có thể trở thành chủ sở hữu của nó, chính vì vậy loại chứng khoán này được coi là chứng khoán vô danh. Chứng khoán vô danh có thể được giao dịch dưới hình thức mua bán trao tay mà không cần ký hậu, đăng ký quyền sở hữu với người phát hành, do đó việc sở hữu về mặt vật lý có thể coi là chứng cứ duy nhất của quyền sở hữu chứng khoán. Kiểu chứng khoán này có ưu điểm là mua bán dễ dàng, nhanh gọn. Tuy nhiên cũng do đặc trưng về sở hữu vật lý nên người cầm giữ chứng khoán loại này sẽ luôn phải chịu rủi ro đánh mất, đánh rơi tờ chứng khoán. Một ví dụ của chứng khoán vô danh là trái phiếu thanh toán trái tức bằng cuống phiếu.Mỗi khi đến hạn thanh toán trái tức người cầm chứng khoán lại xé tờ cuống phiếu để đổi lấy trái tức, người phát hành không có nghĩa vụ nhắc nhở người nắm giữ trái phiếu  loại này về việc thanh toán trái tức. Ngược lại với chứng khoán vô danh là chứng khoán đích danh (registered security), đây là loại chứng khoán mà tên người chủ sở hữu của nó được đăng ký trong sổ sách của người phát hành. Do đặc trưng này nên chứng khoán đích danh an toàn hơn đối với người cầm giữ, dù có mất tờ chứng khoán cũng không sợ mất quyền sở hữu. Ngày nay, hầu hết các loại chứng khoán phát hành trên thị trường là chứng khoán đích danh. Với sự hỗ trợ của công nghệ  thông tin, việc quản lý, trao đổi chuyển nhượng cũng được thực hiện khá dễ dàng.

Sách Combo 4 Cuốn : Tư Duy Ngược + Tư Duy Mở + Biến Mọi Thứ Thành Tiền Chuột không dây Ugreen M751 với con lăn vô cực Máy chơi game retro Powkiddy X55