Thuật Ngữ Kinh Tế

A B C D E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Z Tất cả

Development Strategy / Chiến Lược Phát Triển

Cách tiếp cận vấn đề chậm phát triển, phụ thuộc vào mô hình tăng trưởng nào được sử dụng.

Labour Standard / Tiêu Chuẩn Lao Động

Một cụm thuật ngữ do J.H.HICKS phát triển để thể hiện cách giải thích đặc biệt của ông về cách thức mà tiền lương (và do vậy, giá cả) được ấn định.

Development Area / Vùng Cần Phát Triển

Các vùng ở Anh có nhiều hình thức hỗ trợ của chính phủ đối với công nghiệp.

Labour Productivity / Năng Suất Lao Động

Năng suất lao động được định nghĩa bởi OECD (Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế- Organization for Economic Cooperation and Development) là "tỷ số giữa sản lượng đầu ra với số lượng đầu vào được sử dụng." Thước đo sản lượng đầu ra thường là GDP(Gross Domestic Product) hoặc GVA (Gross Value Added) tính theo giá cố định, điều chỉnh theo lạm phát. Ba thước đo thường sử dụng nhất của lượng đầu vào là: thời gian làm việc, sức lao động và số người tham gia lao động.  Năng suất lao động được tính toán sẽ thay đổi như một hàm của các yếu tố đầu vào khác và hiệu quả sử dụng của các yếu tố sản xuất đó (Năng suất nhân tố tổng hợp TFP). Như thế hai công ty hay hai quốc gia có thể có năng suất nhân tố tổng hợp là như nhau (kỹ thuật sản xuất) nhưng bởi vì một bên sử dụng nhiều vốn hơn, năng suất lao động của bên đó sẽ cao hơn. Sản lượng đầu ra trên mỗi lao động tương ứng với "sản lượng trung bình của nhân công" và có thể đối lập với sản lượng cận biên của lao động, tức là nếu đầu vào tăng thì sản lượng đầu ra cũng tăng. Cách tính:Sản lượng lao động có thể được tính theo sản lượng sản xuất ra hoặc theo giá trị sản phẩm.Trong khu vực tư nhân, sản lượng đầu ra thường là có thể tính được, còn trong khu vực nhà nước và các tổ chức phi chính phủ. Còn khó hơn để tính toán lượng đầu vào mà không thành kiến ngay khi vừa rời bỏ khái niệm lao động đồng nhất-homogeneous labour ("trên một lao động" hay "trên một giờ lao động"). Nỗ lực lao động và chất lượng của sự nỗ lực đó nói chung. Hoạt động sáng tạo trong kỹ thuật sản xuất. Năng suất tương đối đặt được từ những hệ thống quản lý, tổ chức, điều phối và kĩ thuật triển khai khác nhau. Hiệu quả sản xuất của một số dạng lao động trên một số dạng lao động khác. Các khía cạnh đó của năng suất liên quan đến định tính hơn là định định lượng- các khía  cạnh đầu vào lao động. Một công ty hay một quốc gia có lượng đầu ra tăng khi tăng số lượng lao động, ta không thể nói là công ty hay quốc gia đó có năng suất lao động tăng, bởi vì trên thực tế, sản lượng trên mỗi lao động vẫn không thay đổi. Hiểu rõ được điều này là hết sức quan trọng nếu một phần lớn những gì được sản xuất ra bao gồm dịch vụ. Ban quản lý có thể rất lo lắng đến năng suất lao động của người lao động, nhưng năng suất lao động của chính ban quản lý đó lại rất khó để xác định. Các tài liệu về quản lý hiện đại nhấn mạnh hiệu quả quan trọng của văn hóa lao động toàn diện hay văn hóa tổ chức mà công ty có. Nhưng một lần nữa, những tác động của bất kỳ một văn hóa nào lên năng suất lao động là không chứng minh được. Trong kinh tế học vi mô, việc kiểm soát thời lượng lao động (như khi tính toán năng suất lao động dựa trên số giờ lao động) có thể giúp cho các thống kê năng suất trở nên có thể so sánh được, nhưng nó lại thường không thực hiện được bởi vì độ tin cậy của những dữ liệu về thời gian làm việc thường rất thấp. Ví dụ, Mỹ và Anh có thời gian lao động dài hơn rất nhiều so với châu Âu- điều này có thể thổi phồng những con số về năng suất lao động ở 2 quốc gia này nếu nó không được tính đến. Khi so sánh thống kê năng suất lao động giữa các quốc gia, tỷ lệ chuyển đổi cần phải được xem xét bởi vì sự khác biệt giữa cách tính toán sản lượng đầu ra ở các quốc gia khác nhau sẽ làm thay đổi thống kê năng suất lao động, chưa kể đến những vấn đề hiển nhiên xung quanh việc chuyển đổi những đơn vị tiền tệ khác nhau sang một đơn vị tiêu chuẩn.

Năng Suất Lao Động (Labour Productivity) là một thuật ngữ trong tài chính. Nó mô tả khái niệm, cơ chế hoặc quy trình cụ thể, được sử dụng trong phân tích, định giá, giao dịch và quản trị rủi ro. Ví dụ: Năng Suất Lao Động (Labour Productivity) có thể dùng trong phân tích báo cáo tài chính hoặc định giá doanh nghiệp, tùy ngữ cảnh. Ứng dụng: hỗ trợ lập báo cáo, phân tích, thẩm định và ra quyết định tài chính. Khi áp dụng, cần lưu ý đến bối cảnh pháp lý và thị trường để hiểu đúng.

Developing Country / Nước Đang Phát Triển

Nước đang phát triển là nước có mức sống tương đối thấp, trình độ phát triển công nghiệp còn kém, và chỉ số HDI và thu nhập/đầu người từ thấp đến trung bình, nhưng đang trong giai đoạn phát triển kinh tế. Những quốc gia có nền kinh tế phát triển hơn các quốc gia đang phát triển khác, nhưng chưa cho thấy các dấu hiệu hoàn toàn của một nước phát triển, được nhóm vào những nước mới công nghiệp hoá (NIC). Những quốc gia đang phát triển khác đã giữ vững được tốc độ tăng trưởng kinh tế trong nhiều năm và cho thấy tiềm năng phát triển tốt được gọi là những thị trường đang nổi (emerging markets). Thuật ngữ nước đang phát triển nếu được sử dụng cho bất cứ quốc gia nào không phải là nước phát triển sẽ không đúng, bởi vì một số nước trải qua thời kì suy thoái kinh tế kéo dài. Những nước này được xếp vào loại những nước kém phát triển nhất (Least developed countries/LCDs). Trình độ phát triển của một nước được đo bằng các chỉ số như thu nhập/đầu người, tuổi thọ, tỉ lệ biết chữ... Liên hợp quốc đưa ra chỉ số HDI kết hợp các tiêu chí trên để đo trình độ phát triển con người của một nước.

Developing Countries / Các Nước Đang Phát Triển

Để miêu tả tình trạng kinh tế của các nước nghèo hơn của thế giới, được bắt đầu sử dụng trong những năm 1960 để thay thế các cụm thuật ngữ ít hoàn chỉnh hơn như "kém phát triển" hoặc "lạc hậu". Xem Advanced Countries.

Black Market / Chợ Đen

Chợ đen, nghĩa gốc, là chỉ thị trường hàng lậu và dịch vụ bất hợp pháp. Chợ đen nổi lên khi thị trường tiêu thụ phát triển mạnh mẽ vượt quá sản xuất, và những sản phẩm buôn bán là hàng cấm hoặc hàng hiếm. Người mua trên thị trường chợ đen phải chấp nhận một mức giá rất cao ,do đó lợi nhuận mà người bán thu được là rất lớn. Còn xét về khía cạnh chứng khoán thì "chợ đen" thực ra là một cụm từ dùng chỉ thị trường chứng khoán chưa niêm yết, ngoài sàn giao dịch, mà chúng ta hay sử dụng thuật ngữ thị trường OTC hay "Phi tập trung" để gọi thay thế. Khi cổ phiếu chưa được niêm yết chính thức lên sàn thì việc chuyển nhượng cổ phiếu là hết sức khó khăn, vì không phải dễ dàng mà một cổ đông muốn bán cổ phiếu gặp ngay được đối tác muốn mua cổ phiếu. Chính vì vậy, trong giai đoạn đầu phát triển thị trường chứng khoán, thị trường chợ đen nổi lên như là một cầu nối cung - cầu, là nơi chuyển nhượng cổ phiếu thuận tiện và nhanh chóng nhất. Trên thị trường chợ đen xuất hiện một nhân tố quan trọng, đó là người môi giới, họ có chức năng tìm kiếm tạo điều kiện cho người mua và người bán gặp nhau, thỏa thuận giá cả và cách thức chuyển giao chứng khoán. Khi đầu tư cổ phiếu trên thị trường chợ đen, cần lưu ý: cổ phiếu đó có thực sự được chuyển nhượng không, mức giá mua đã phù hợp chưa, và đặc biệt thủ tục chuyển nhượng.      Việc chuyển nhượng cổ phần sẽ được tiến hành theo cách các cổ đông cũ làm giấy chuyển nhượng cho người môi giới nhưng phần "người mua" để trống. Sau khi ký được hợp đồng với người bán, nhiệm vụ của người môi giới là làm việc với Công ty phát hành để Công ty xác nhận vào hợp đồng chuyển nhượng cổ phiếu, chấp nhận người mua là cổ đông mới của Công ty (mặc dù chưa biết đích danh). Cổ phần tự do được chào bán theo giá tự đặt, nếu có người mua tương ứng, họ chỉ cần sang chuyển số cổ phiếu đó cho người mua kèm hợp đồng chuyển nhượng ghi tên nhà đầu tư vào chỗ để trống. Như vậy về mặt pháp lý, nhà đầu tư có thể yên tâm khi sở hữu lượng cổ phiếu mua "ngoài luồng" này. Hiện nay có hai hình thức chuyển nhượng cổ phiếu trên thị trường chợ đen: một là, chuyển tiền cho người môi giới trước và chấp nhận một giấy viết tay cam đoan nội dung thực hiện; hai là, chuyển quyền sở hữu sang tên người mua rồi mới chuyển tiền. Tất nhiên cách thứ nhất thì rủi ro thuộc về người mua, còn cách thứ hai không an toàn cho người bán, nhưng điều quan trọng là giấy tờ sở hữu cổ phiếu phải được người có trách nhiệm trong công ty phát hành chứng nhận hợp pháp việc chuyển nhượng thì người mua mới trở thành cổ đông mới hợp pháp của công ty.

Là nơi các hoạt động kinh tế diễn ra bên ngoài các kênh do chính phủ phê chuẩn. Các giao dịch trên thị trường chợ đen thường " ngầm" diễn ra với mục đích giúp những người tham gia tránh bị  kiểm soát giá cả hoặc thuế của chính phủ. Thị trường chợ đen cũng là nơi mà các chất hoặc sản phẩm bất hợp pháp - như thuốc bất hợp pháp, súng hoặc hàng ăn cắp - được mua và bán. Mặc dù thị trường chợ đen thường liên quan đến các hoạt động tội phạm, liên quan đến ma túy hoặc vũ khí, nhưng nó cũng có một thành phần tài chính: thị trường trao đổi tiền đen hầu như luôn xuất hiện khi chính phủ kiểm soát tỷ giá hối đoái ngăn chặn việc sử dụng tỷ giá hối đoái tự nhiên trên thị trường toàn cầu.

Labour Power / Sức Lao Động

Một cụm thuật ngữ được C.Mác dùng để miêu tả hàng hoá mà người công nhân bán cho các nhà tư bản.

Devaluation / Phá Giá

Giảm tỷ giá hối đoái cố định giữa một đồng tiền và các đồng tiền khác.

Phá Giá (Devaluation) là một thuật ngữ quan trọng trong tài chính – kinh tế, mô tả cơ chế, quy trình hoặc khái niệm liên quan đến đầu tư, quản trị và phân tích dữ liệu tài chính. Ví dụ: Phá Giá (Devaluation) thường được dùng trong phân tích báo cáo tài chính, lập kế hoạch đầu tư hoặc đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh. Ứng dụng: hỗ trợ lập kế hoạch tài chính, quản lý rủi ro và ra quyết định chiến lược. Khi sử dụng, cần lưu ý ngữ cảnh và mục tiêu để đảm bảo hiểu đúng và áp dụng chính xác.

Devaluation / Phá Giá Tiền Tệ

Là sự đánh tụt sức mua của tiền tệ nước mình so với ngoại tệ, làm cho tiền có sức mua thấp hơn so với sức mua thực tế của nó. Một nước sẽ phá giá tiền tệ để phục vụ cho mục đích kinh tế-chính trị của mình: Khuyến khích xuất khẩu hàng hoá vì hàng hoá xuất khẩu ra nước ngoài của nước có đồng tiền bị phá giá sẽ rẻ hơn giá hàng của các nước khác; Hạn chế nhập khẩu vì giá sản phẩm nhập khẩu đắt hơn giá sản phẩm sản xuất trong nước; Khuyến khích du lịch vào trong nước vì ngoại tệ của khách du lịch khi đổi ra nội tệ của nước phá giá sẽ được nhiều hơn; Hạn chế du lịch ra nước ngoài vì cần nhiều nội tệ hơn để đổi lấy một đơn vị ngoại tệ; Khuyến khích nhập khẩu vốn, kiều hối và hạn chế xuất khẩu vốn ra bên ngoài cũng như chuyển tiền ra ngoài nước, do đó có tác dụng làm tăng khả năng cung ngoại hối, giảm nhu cầu về ngoại hối, nhờ đó tỷ giá hối đoái sẽ giảm xuống.

Labour Market / Thị Trường Lao Động

Một thị trường lao động bao gồm các hoạt động thuê và cung ứng lao động nhất định để thực hiện những công việc nhất định, và là quá trình xác định sẽ trả bao nhiêu cho người làm việc.

Detrending / Khử Khuynh Hướng; Giảm Khuynh Hướng

Quá trình mà một khuynh hướng về thời gian được loại bỏ khỏi số liệu, thường bằng việc trước tiên ước tính một khuynh hướng theo thời gian và tính toán các số dư. Xem filter.

Labour Hoarding / Tích Trữ Lao Động

Khi các doanh nghiệp đã đầu tư mạnh vào việc thuê và đào tạo một công nhân, họ sẽ không muốn sa thải người đó trong thời kỳ kinh tế suy thoái.Nhằm tự bảo vệ quyền lợi của mình, các công ty thường sẽ cố gắng duy trì hay giữ những công nhân mà họ đã đầu tư nhiều. Do vậy, ngay đầu thời kỳ suy thoái, đầu vào về lao động không bị cắt giảm đồng thời với đầu ra, và tỷ lệ sử dụng lao động do đó sẽ giảm theo. Trong thời kỳ kinh tế khôi phục, việc tăng sản lượng có thể đạt được một cách tương tự mà không đồng thời với việc tăng đầu vào lao động, được đo lường bằng số nhân công sử dụng, bởi cung dịch vụ lao động được tăng lên chỉ bằng việc tăng hiệu suất sử dụng những lao động hiện có. Trong cả hai trường hợp, điều chỉnh về sử dụng lao động xảy ra sau sự thay đổi về sản lượng. Như vậy, ta có thể thấy tỷ lệ thất nghiệp đo được chỉ là chỉ số trễ của tình trạng dư cung trên thị trường lao động.

Labour Force Participation Rate / Tỷ Lệ Tham Gia Lực Lượng Lao Động

Đối với toàn bộ dân số hay đối với một bộ phận của dân số tính theo tuổi tác, giới tính hay chủng tộc, tỷ lệ tham gia lao động được định nghĩa là tỷ lệ giữa số dân (có việc hay thất nghiệp) có khả năng hoạt động kinh tế so với tổng số dân cùng loại.

Labour Force / Lực Lượng Lao Động

Lực lượng lao động bao gồm những người đang làm việc và đang tìm việc, nó bao gồm những người có việc làm và cả những người thất nghiệp.

Deseasonalization / Xoá Tính Chất Thời Vụ

Quá trình loại bỏ những ảnh hưởng của mùa vụ, những hiện tượng xảy ra thường xuyên theo mùa làm méo mó xu thế nổi bật khỏi các số liệu. Xem filter.

Black Knight / Hiệp Sĩ Đen

Dường như ngược lại với Hiệp sĩ trắng (White knight), Hiệp sĩ đen để chỉ người có ý định tiếm quyền* là một nhà đầu tư sắp tới sẽ tham gia vào một vụ thâu tóm, tiếp quản  (takeover) một công ty, tổ chức nào đó bằng thủ đoạn* Tiếm quyền có hữu ý xấu hay đặt giá mua không ai mong để cố mua các cổ phần có quyền kiểm soát trong công ty.

Một công ty thực hiện mua lại một công ty với một thái độ thù địch.Trong sáp nhập và mua lại , một hiệp sĩ đen cố gắng thâu tóm các công ty bị mua lại dù các công ty đó không mong muốn. Khi một công ty đang đối mặt với sự tiếp quản thù địch của một hiệp sĩ đen, một hiệp sĩ trắng có thể xuất hiện để đưa ra một cách nhằm tránh sự tiếp quản thù địch bằng một sự tiếp quản thân thiện. Hiệp sĩ đen cố gắng tiếp quản thù địch các công ty bị mua lại. Một hiệp sĩ trắng có thể giúp công ty đó bằng cách đưa ra các điều khoản cho việc tiếp quản thân thiện.  Một hiệp sĩ màu xám là một công ty cung cấp với giá thầu không mong muốn, trong khi một công ty khác đang đàm phán tiếp quản với công ty bị mua lại . Một hiệp sĩ màu vàng là một công ty khởi xướng một sự tiếp quản thù địch, nhưng thay đổi chiến thuật trong quá trình để đàm phán về các điều khoản dễ chịu hơn.

Descending Triangle / Mô Hình Tam Giác Dốc Xuống

Đây là mô hình được sử dụng trong phân tích kĩ thuật, thể hiện xu thế đi xuống của thị trường, được tạo ra bằng cách vẽ một đường xu thế nối một loạt các điểm cực đại của đồ thị. Vẽ tiếp một đường xu thế nữa mà đường xu thế này có vai trò tương tự như mộtđường hỗ trợ trong quá khứ. Các nhà đầu tư hoặc người chơi chứng khoán sẽ quan sát các chuyển động dưới mức hỗ trợ vì đây là dấu hiệu cho thấy một xung lực theo chiều hướng đi xuống đang được hình thành. Một khi mức giá vượt qua khỏi đường hỗ trợ, các tay buôn chứng khoán sẽ lập tức thực hiện mua bán khống, do đó khiến cho mức giá của các chứng khoán càng giảm nhanh hơn nữa. Đồ thị sau đây là một ví dụ điển hình về tam giác theo chiều dốc xuống. Đây là một trong các công cụ được các nhà đầu tư chứng khoán sử dụng phổ biến vì nó cho thấy một cách rõ ràng là mức cầu đối với một loại chứng khoán (hay tài sản) nào đó đang bị suy giảm, và một khi mức giá vượt ra khỏi đường hỗ trợ thấp hơn, đây là một dấu hiệu rõ ràng rằng xung lực theo chiều hướng đi xuống chắc chắn sẽ còn tiếp diễn hoặc càng mạnh hơn. Tam giác dốc xuống sẽ đem đến cho các nhà đầu tư cơ hội để thu được món hời lớn trong một khoảng thời gian ngắn. Mức giá mục tiêu chung nhất thường được ấn định bằng với mức giá ban đầu trừ đi khoảng cách giữa hai đường xu thế.

Labour Economics / Kinh Tế Học Lao Động

Sự nghiên cứu bản chất và các yếu tố quyết định tiền lương và việc làm.

Sự nghiên cứu bản chất và các yếu tố quyết định tiền lương và việc làm.

Kinh Tế Học Lao Động (Labour Economics) là một thuật ngữ trong tài chính. Nó mô tả khái niệm, cơ chế hoặc quy trình cụ thể, được sử dụng trong phân tích, định giá, giao dịch và quản trị rủi ro. Ví dụ: Kinh Tế Học Lao Động (Labour Economics) có thể dùng trong phân tích báo cáo tài chính hoặc định giá doanh nghiệp, tùy ngữ cảnh. Ứng dụng: hỗ trợ lập báo cáo, phân tích, thẩm định và ra quyết định tài chính. Khi áp dụng, cần lưu ý đến bối cảnh pháp lý và thị trường để hiểu đúng.

Incremental Capital-Output Ratio / Tỷ Số Vốn / Sản Lượng Tăng Thêm (ICOR)

Số đơn vị VỐN tăng thêm cần thiết để sản xuất ra một đơn vị sản lượng tăng thêm.

Sách Combo 4 Cuốn : Tư Duy Ngược + Tư Duy Mở + Biến Mọi Thứ Thành Tiền Chuột không dây Ugreen M751 với con lăn vô cực Máy chơi game retro Powkiddy X55