Thuật Ngữ Kinh Tế

A B C D E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Z Tất cả

Income Statement / Báo Cáo Kết Quả Kinh Doanh

Báo cáo kết quả kinh doanh thể hiện các kết quả của hoạt động kinh doanh trong một khoảng thời gian nhất định. Ở đây cụm từ “khoảng thời gian nhất định” có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Không giống như bảng cân đối kế toán, vốn là bảng tóm tắt vị trí của doanh nghiệp tại một thời điểm, báo cáo kết quả kinh doanh phản ánh kết quả tích lũy của hoạt động kinh doanh trong một khung thời gian xác định. Nó cho biết liệu hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp có đem lại lợi nhuận hay không - nghĩa là liệu thu nhập thuần (lợi nhuận thực tế) dương hay âm. Đó là lý do tại sao báo cáo kết quả kinh doanh thường được xem là báo cáo lỗ lãi. Ngoài ra, nó còn phản ánh lợi nhuận của công ty ở cuối một khoảng thời gian cụ thể - thường là cuối tháng, quý hoặc năm tài chính của công ty đó. Đồng thời, nó còn cho biết công ty đó chi tiêu bao nhiêu tiền để sinh lợi - từ đó bạn có thể xác định được tỷ lệ lợi nhuận trên doanh thu của công ty đó. Báo cáo kết quả kinh doanh được thể hiện bằng một biểu thức đơn giản như sau: Doanh thu - Chi phí = Thu nhập thuần (hoặc Lỗ thuần) Một báo cáo thu nhập bắt đầu bằng doanh thu: số tiền thu được từ việc bán hàng hóa và dịch vụ cho khách hàng. Một công ty cũng có thể có các khoản doanh thu khác. Trong nhiều trường hợp, những khoản này đến từ các khoản đầu tư hoặc thu nhập lãi suất từ số dư tiền mặt. Sau đó, lấy doanh thu này trừ đi những chi phí khác - từ chi phí sản xuất và lưu kho hàng hóa, đến việc khấu hao nhà xưởng và trang thiết bị, chi phí lãi suất và thuế. Số tiền còn lại là thu nhập thuần, hay còn gọi là lợi nhuận thuần, trong khoảng thời gian lập báo cáo. Hãy xem xét ý nghĩa của các mục khác nhau trên báo cáo kết quả kinh doanh của một công ty. Giá vốn hàng bán là những khoản mà công ty dùng cho việc sản xuất sản phẩm. Con số này bao gồm chi phí nguyên vật liệu thô cũng như toàn bộ chi phí chế biến thành phẩm, gồm cả chi phí lao động trực tiếp. Lấy doanh thu bán hàng trừ giá vốn hàng bán, ta được lợi nhuận gộp - ước tính sơ bộ về khả năng lợi nhuận của công ty. Loại chi phí quan trọng kế tiếp là chi phí hoạt động. Chi phí hoạt động bao gồm lương nhân viên, tiền thuê, chi phí bán hàng và tiếp thị, và những chi phí kinh doanh khác không trực tiếp quy vào chi phí sản xuất sản phẩm. Nguyên liệu để sản xuất giá treo không được tính vào đây, mà chỉ bao gồm chi phí quảng cáo và lương nhân viên. Khấu hao được tính trong báo cáo kết quả kinh doanh như một khoản chi phí, dù nó không liên quan đến các khoản thanh toán tiền mặt. Khấu hao là cách ước tính “mức tiêu thụ” của một tài sản, hoặc việc giảm giá trị trang thiết bị theo thời gian. Ví dụ, một chiếc máy vi tính mất khoảng 1/3 giá trị trong năm đầu sau khi mua. Vì vậy, công ty không thể tiêu tốn toàn bộ giá trị của chiếc máy tính trong năm đầu mà trên thực tế nó được sử dụng trong ba năm. Ý tưởng đằng sau khấu hao này là nhằm nhận ra giá trị bị sụt giảm của một tài sản nào đó. Lấy lợi nhuận gộp trừ chi phí hoạt động và khấu hao, ta được lợi nhuận hoạt động. Những khoản lợi nhuận này thường được gọi là lợi nhuận trước thuế và lãi vay (EBIT). Chúng ta tiếp tục xem những khoản giảm trừ cuối cùng đối với doanh thu. Chi phí lãi suất là lãi suất phải trả từ các khoản vay mà một công ty sử dụng. Thuế thu nhập - thuế thu bởi chính phủ trên thu nhập của công ty, là khoản cuối cùng phải nộp. Phần doanh thu còn lại được gọi là thu nhập thuần, hoặc lợi nhuận thực tế. Nếu thu nhập thuần có giá trị dương thì công ty làm ăn có lãi. Ngược lãi nếu thu nhập thuần có giá trị âm thì có nghĩa là công ty bị thua lỗ. Ý nghĩa của báo cáo kết quả kinh doanh Cũng như với bảng cân đối kế toán, phân tích về báo cáo kết quả kinh doanh của một công ty được hỗ trợ rất nhiều khi thể hiện bằng định dạng đa kỳ. Điều này cho phép chúng ta phát hiện các xu hướng và sự chuyển biến. Hầu hết các báo cáo thường niên cung cấp các dữ liệu đa kỳ, trong vòng 2 năm hoặc hơn (các báo cáo của các công ty nước ngoài thường là 5 năm). Ví dụ, trong mẫu định dạng nhiều năm của công ty XYZ, chúng ta thấy doanh số bán lẻ hàng năm của công ty dần dần tăng, trong khi doanh số bán hàng của công ty vẫn giữ nguyên và thậm chí có xu hướng giảm nhẹ, tuy nhiên, chi phí hoạt động luôn giữ nguyên ngay cả khi tổng doanh số tăng lên. Khi đó chúng ta có thể kết luận đây là dấu hiệu tốt đối với quản lý vì nó giúp duy trì chi phí để hoạt động kinh doanh. Nếu chi phí lãi suất của công ty cũng giảm đi, thì chúng ta có thể suy đoán khả năng công ty đã thanh toán một trong các khoản vay của mình. Cuối cùng nếu là thu nhập thuần tăng đều qua các năm, thì có nghĩa là công ty đang tăng trưởng tốt.

Deposit Money / Tiền Gửi Ngân Hàng

Để chỉ một bộp phận của dung lượng tiền dưới dạng tiền gửi ngân hàng.

Income Shares / Cổ Phần Lợi Tức

Cổ phần lợi tức là một trong hai loại hay hạng loại của chứng khoán vốn do quỹ mục đích kép (dual purpose fund) phát hành hay do công ty đầu tư phân đôi, loại kia là cổ phần vốn (catpital shares). Người giữ cổ phần lợi tức nhận cổ tức của cả hai hạng loại cổ phần, xuất phát từ lợi tức (cổ tức và lãi suất) do danh mục đầu tư mang lại, trong khi đó người giữ cổ tức tư bản (vốn) nhận lợi nhuận tư bản chi trả cho cả hai hạng loại. Cổ phần lợi tức thông thường có một bảo đảm lợi tức ít nhất, nó có tính tích luỹ.

Deposit Account / Tài Khoản Tiền Gửi

Trong nghiệp vụ ngân hàng ở Anh, một kiểu tài khoản được thiết kế để thu hút các số dư ít hoạt động của khách hàng, và hoạt động như là một phương tiện tiết kiện.

Income Property / Tài Sản Mang Lại Lợi Tức

Tài sản được mua hoặc phát triển lên nhằm mục đích mang lại thu nhập thông qua việc cho thuê hay nâng giá. Tài sản này có thể được đặt dưới sở hữu của công ty trách nhiệm hữu hạn nhằm kiếm lợi tức (Income Limited Partnership), cũng có thể được sở hữu bởi cá nhân hoặc công ty. Tài sản mang lại lợi tức có thể phục vụ mục đích cư trú (residential) hoặc thương mại (commercial). Tài sản mang lại lợi tức thuộc nhà ở thường được nhắc đến như tài sản "không xác định người sở hữu" (non-owner occupied). Một tài sản "không xác định quyền sở hữu" khi thế chấp sẽ phải chịu lãi suất cao hơn tài sản "xác định quyền sở hữu" (owner occupied) bởi vì với các nhà cho vay, loại tài sản này có mức rủi ro cao hơn. Một hoạt động thường gặp trong suốt thời kỳ nâng giá nhà đối với các nhà đầu tư vàđầu cơ mua tài sản mang lại lợi tức thuộc nhà ở là họ sẽ cho thuê nhà ở đó để bù vào chi phí hàng tháng cho đến thi bán lại được tài sản đó với thặng dư vốn lớn.  Trong những thời kì mà thị trường tăng giá nhanh với bong bóng thị trường, những ai xâm nhập thị trường đầu tiên và rút ra khỏi thị trường đầu tiên có thể kiếm được lời lớn. Những người chậm chân kết quả thu về sẽ không cao như thế.

Birth Rate / Tỷ Suất Sinh

Được định nghĩa là số người sinh sống sót trung bình trên 1000 dân mỗi năm.

Deposit / Tiền Gửi

Khoản tiền cho các định chế tài chính nào đó vay, ví dụ như các ngân hàng, ngân hàng phát triển gia cư và công ty tài chính, với điều kiện rút có báo trước hoặc không, hay hoàn trả sau một thời gian nhất định.

Khoản tiền gửi tại một tổ chức, như ngân hàng, để lưu giữ hay để hưởng lãi hoặc với một nhà môi giới, nhà tự doanh… Để bảo đảm cho mọi khoản lỗ có thể phát sinh

Income Property / Tài Sản Có Lợi Tức

Income property: Tài sản có lợi tức.Tài sản có lợi tức là bất động sản được mua vì nó có phát sinh ra lợi tức. Tài sản có thể trong phần góp vốn trách nhiệm hữu hạn có lợi tức, hay do cá nhân hoặc do công ty sở hữu. Người mua cũng hy vọng kiếm được lợi nhuận tư bản khi bán tài sản.

Noise Trader / Nhà Đầu Tư Ít Thông Tin

Noise Trader là một người mua bán cổ phiếu nhưng họ không có thông tin cụ thể về cổ phiếu đó. Nếu thị trường hoạt động hiệu quả thì Noise Trader sẽ giúp làm tăng tính thanh khoản cho thị trường và không bóp méo giá trị của các chứng khoán. Trên thực tế, một thị trường mà không có Noise trader sẽ có xu hướng đổ vỡ, bởi vì giá cả trên thị trường đó sẽ bị tiết lộ hoàn toàn. Những nhà đầu tư có đầy đủ thông tin sẽ không tham gia thị trường nếu trong thị trường đó không có các nhà đầu tư không có đủ thông tin, bởi vì việc tạo ra lợi nhuận nhờ buôn bán trong một thị trường hoàn toàn hiệu quả là không thể. Các nhà đầu tư có đủ thông tin cần sự tồn tại của Noise trader để "giấu" các vụ làm ăn của họ, và bằng việc buôn bán thông tin chỉ họ biết, các nhà đầu tư khôn ngoan này sẽ tạo ra lợi nhuận. Thông qua việc mua bán thông tin, các nhà đầu tư có đủ thông tin dần dần tung ra các thông tin liên quan về giá cả các loại hàng hóa và cùng với noise trader, họ đem lại trạng thái cân bằng cho thị trường.

Income Maintenance / Duy Trì Thu Nhập

Các chính sách được đề ra nhằm nâng mức thu nhập của một số nhóm người hay cá nhân nào đó.

Biological Interest Rate / Lãi Suất Sinh Học

Một giá trị cho lãi suất trong thuyết tăng trưởng, trong đó giữa tất cả đường TĂNG TRƯỞNG CÂN ĐỐI, thì TIÊU DÙNG theo đầu người cáo nhất đạt được và duy trì được bằng một đường trên đó năng suất vốn biên (bằng TỶ LỆ LỢI NHUẬN trong CẠNH TRANH HOÀN HẢO) bằng tỷ lệ tăng trưởng không đổi của lực lượng lao động được xác định bằng cách ngoại sinh. Xem GOLDEN RULE OF ACCUMULATION.

Binary Variable / Biến Nhị Phân

Một biến số chỉ có thể có 2 giá trị (ví dụ 0 và 1), thường sử dụng để xác định những ảnh hưởng mang tính định tính hay định lượng trong phân tích HỒI QUY. Xem DUMMY VARIABLE.

Deposit / Lưu Ký Chứng Khoán

Lưu ký chứng khoán là một trong những điều kiện cần thiết để thực hiện giao dịch trên thị trường chứng khoán. Lưu ký là việc gửi chứng chỉ chứng khoán như tờ cổ phiếu, trái phiếu, hoặc các loại giấy tờ hợp pháp chứng minh quyền sở hữu chứng khoán vào hệ thống lưu ký. Hệ thống lưu ký chứng khoán bao gồm Trung tâm lưu ký và các thành viên lưu ký. Chứng chỉ chứng khoán của nhà đầu tư sẽ được cất giữ an toàn tại Trung tâm lưu ký. Chứng khoán đã được lưu ký sẽ được ghi nhận vào tài khoản lưu ký chứng khoán đứng tên nhà đầu tư. Khi chứng khoán được giao dịch, tài khoản của nhà đầu tư sẽ được ghi tăng hoặc giảm mà không cần phải trao tay tờ chứng chỉ chứng khoán. Lưu ký chứng khoán là bắt buộc trước khi muốn chứng khoán được giao dịch qua sàn giao dịch của Trung tâm giao dịch chứng khoán. Trung tâm giao dịch chứng khoán hiện nay đóng vai trò là Trung tâm lưu ký. Việc lưu ký chứng khoán chỉ được thực hiện tại các thành viên lưu ký của Trung tâm giao dịch chứng khoán. Các thành viên lưu ký bao gồm các công ty chứng khoán và các ngân hàng thương mại đã được Uỷ Ban Chứng Khoán Nhà Nước cấp phép hoạt động lưu ký và đã đăng ký làm thành viên lưu ký của Trung tâm giao dịch chứng khoán. Tính đến đầu năm 2007 Trung tâm giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh có 14 thành viên lưu ký, trong đó 11 thành viên lưu ký là các công ty chứng khoán và 3 thành viên lưu ký là các ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam. Trước đây nhà đầu tư trong nước chỉ được lưu ký chứng khoán tại thành viên lưu ký trong nước - là các công ty chứng khoán hoặc các ngân hàng thương mại trong nước, nhà đầu tư nước ngoài chỉ được lưu ký tại thành viên lưu ký nước ngoài - là các công ty chứng khoán liên doanh với nước ngoài hoặc các ngân hàng thương mại liên doanh với nước ngoài hoặc các chi nhánh ngân hàng nước ngoài đang hoạt động hợp pháp tại Việt Nam. Tuy nhiên, quy định này đã được thay đổi, theo Quyết định số 51/2003/QĐ-BTC ngày 15/04/2003 của Bộ Tài Chính về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy chế lưu ký, thanh toán bù trừ và đăng ký chứng khoán, nhà đầu tư trong và ngoài có thể mở tài khoản lưu ký chứng khoán ở bất kỳ thành viên lưu ký nào. Các chứng khoán sau khi được lưu ký tại thành viên lưu ký sẽ được thành viên lưu ký tái lưu ký tại Trung tâm giao dịch chứng khoán. Sau khi thành viên hoàn tất việc tái lưu ký tại Trung tâm giao dịch chứng khoán thì chứng khoán đó mới được phép giao dịch. Theo quy định hiện hành, mỗi nhà đầu tư chỉ được mở một tài khoản lưu ký tại một thành viên lưu ký. Do vậy nhà đầu tư cần tìm hiểu trước để lựa chọn một thành viên lưu ký thích hợp cho mình. Trong trường hợp muốn đổi sang một thành viên lưu ký khác, nhà đầu tư sẽ mở tài khoản lưu ký mới tại thành viên lưu ký mới, đồng thời phải làm các thủ tục đóng tài khoản lưu ký tại thành viên lưu ký cũ  và yêu cầu thành viên lưu ký này chuyển số dư chứng khoán sang tài khoản lưu ký tại thành viên lưu ký mới. Khi mở tài khoản lưu ký, nhà đầu tư nên cung cấp địa chỉ liên lạc rõ ràng, chính xác và đầy đủ cho thành viên lưu ký. Điều này rất quan trọng vì nhà đầu tư có thể gặp phải những bất tiện và thậm chí thiệt hại sau này. Chẳng hạn, khi địa chỉ trên các loại giấy tờ tùy thân như chứng minh nhân dân được sử dụng để làm các thủ tục mở tài khoản lưu ký, trong khi địa chỉ cư trú hiện tại khác với địa chỉ trên chứng minh nhân dân. Các thư từ liên lạc của tổ chức phát hành, Trung tâm giao dịch chứng khoán và thành viên lưu ký trong thời gian thực hiện quyền sẽ không đến đúng nơi nhà đầu tư ở. Việc này có thể đưa đến vô số bất tiện trong quá trình xử lý quyền từ thành viên lưu ký, Trung tâm giao dịch chứng khoán cho đến tổ chức phát hành như chậm trễ, chỉnh sửa hồ sơ thực hiện quyền, hoặc thậm chí đôi khi nhà đầu tư bị từ chối phân bổ quyền. Người đứng tên lưu ký chứng khoán phải chính là chủ sở hữu chứng khoán, kể cả cổ phiếu vô danh. Số seri của tờ chứng chỉ chứng khoán cũng phải đúng là số seri của chủ sở hữu đã đăng ký quyền sở hữu tại tổ chức phát hành. Cổ phiếu của cổ đông sáng lập vẫn còn trong thời gian nắm giữ theo quy định của pháp luật, của cổ đông mua chịu chưa thanh toán hết tiền mua cổ phiếu vẫn được lưu ký nhưng không được phép giao dịch. Các cổ phiếu này chỉ được phép giao dịch khi các điều kiện hạn chế đã được bãi bỏ và phải có xác nhận từ tổ chức phát hành. Các chủ sở hữu cổ phiếu theo hình thức ghi sổ muốn lưu ký vẫn tiến hành các thủ tục lưu ký bình thường tại thành viên lưu ký. Dĩ nhiên trong trường hợp này không có việc chuyển giao chứng chỉ vật chất. Thành viên lưu ký sẽ gửi tên chủ sở hữu đến tổ chức phát hành. Sau khi kiểm tra, tổ chức phát hành sẽ gửi tên chủ sở hữu đến Trung tâm giao dịch chứng khoán để thực hiện việc lưu ký. Lưu ký theo hình thức ghi sổ là xu hướng chủ yếu hiện nay vì những ưu điểm hơn hẳn lưu ký chứng chỉ vật chất, là không phải qua kiểm đếm, kiểm tra tính thật giả, và tốn kém cho công tác bảo quản. Trung tâm giao dịch chứng khoán là người được ủy quyền thay mặt người đồng sở hữu chứng khoán lưu ký nhận các quyền được hưởng từ tổ chức phát hành như cổ tức, lãi trái phiếu, cổ phiếu thưởng.

Income Limits / Giới Hạn Thu Nhập

Những khoản tiền tối đa mà các gia đình có thu nhập thấp hoặc trung bình có thể đủ điều kiện hưởng những khoản tiền thuê nhà có trợ cấp hoặc thế chấp lãi suất thấp. Những giới hạn này căn cứ trên quy mô gia đình và vị trí địa lý.

Những khoản tiền tối đa mà các gia đình có thu nhập thấp hoặc trung bình có thể đủ điều kiện hưởng khoản tiền thuê nhà có trợ cấp hoặc thế chấp lãi suất thấp. Những giới hạn này căn cứ trên quy mô gia đình và vị trí địa lý.

Bills Only / Chỉ Có Nghiệp Vụ Hối Phiếu

Chủ thuyết thịnh hành ở Mỹ những năm 1950, cho rằng khi tham gia vào CÁC NGHIỆP VỤ THỊ TRƯỜNG MỞ, HỆ THỐNG DỰ TRỮ LIÊN BANG chỉ tiến hành các nghiệp vụ mua bán hối phiếu. Điều này dựa trên quan điểm rằng bằng các tập trung vào thị trường vốn ngắn hạn, những nghiệp vụ này sẽ đạt được ảnh hưởng dự tính trước đối với khả năng chuyển hoán của ngân hàng với ít xáo trộn nhất đối với thị trường tài chính nói chung. Đồng thời những thay đổi diễn ra với lãi suất ngắn hạn sẽ ảnh hưởng đến các thị trường khác thông qua phương tiện "thông thường" của các điều chỉnh danh mục đầu tư của ngươi nước ngoài nắm giữ.

Income Limited Partnership / Tổ Chức Góp Vốn Hữu Hạn

Income limited partnership có nghĩa là: Tổ chức góp vốn trách nhiệm hữu hạn, nhằm kiếm lợi tức. Các doanh nghiệp góp vốn trách nhiệm hữu hạn về bất động sản, dầu hoả, gas, trang thiết bị thuê mướn, mục đích là kiếm lợi tức cao, hầu hết có thể bị đánh thuế. Việc góp vốn như thế được lập ra là để cho các tài khoản có điều kiện để tránh thuế giống như tài khoản hưu trí cá nhân, tài khoản kế hoạch Keogh hay kế hoạch hưu trí.

Income Investment Company / Công Ty Đầu Tư Kiếm Lợi Tức

Income investment company: Công ty đầu tư kiếm lợi tức.Công ty đầu tư kiếm lợi tức là công ty quản trị, điều hành quỹ hỗ tương đầu tư nghiêng về kiếm lợi nhuận cho các nhà đầu tư, những người đánh giá lợi tức sẽ phát triển thêm lên. Các quỹ này có thể đầu tư trái phiếu hay chứng khoán có cổ tức cho hay có thể viết (bán) Call Option có bảo kê bằng chứng khoán.

Bill Of Lading / Ocean Bill Of Lading / Vận Đơn Đường Biển

Vận đơn đường biển là chứng từ chuyên chở hàng hóa do người chuyên chở hay đại diện của người chuyên chở cấp phát cho người gửi hàng sau khi hàng hoá được xếp lên tàu hay sau khi nhận hàng để chở. Người cấp vận đơn là người chuyên chở, chủ tàu, người thuê lại tàu để kinh doanh và khai thác tàu, thuyền trưởng hay đại lý của người chuyên chở. Thời điểm cấp vận đơn là sau khi hàng hoá được xếp lên tàu (Shipping on board) hay sau khi nhận hàng để xếp lên tàu (Received for Shipment). Chữ ký trên vận đơn: Khi cấp vận đơn, người chuyên chở, chủ tàu hay người đại diện của họ phải kí vào vận đơn và ghi rõ tư cách pháp lý. Vận đơn đường biển có 3 chức năng quan trọng sau: Là bằng chứng xác nhận hợp đồng chuyên chở hàng hoá bằng đường biển đã được kí kết. Là biên lai nhận hàng để chở của người chuyên chở. Là chứng từ xác nhận quyền sở hữu hàng hoá ghi trên vận đơn

Income Funds / Nhóm Quỹ Với Mục Tiêu Thu Nhập

Bảng sau đấy sẽ chia nhỏ hơn những loại quỹ nhằm mục tiêu thu nhập. Loại quỹ Mục tiêu đầu tư Rủi ro tiềm tàng Một quỹ thường mua gì? Trái phiếu CQNN Thu nhập và các khoản lãi vốn đều đặn Giá trị và các khoản lợi tức phụ thuộc vào lãi suất Các chứng khoán do các cơ quan CP Mỹ bảo trợ và các cơ quan có liên quan phát hành Trái phiếu doanh nghiệp Thu nhập ổn định Thay đổi lãi suất và lạm phát Trái phiếu doanh nghiệp có lãi suất cao với thời hạn khác nhau Trái phiếu lợi suất cao Thu nhập hiện tại cao nhất Trái phiếu rủi ro cao có nguy cơ không trả được nợ Trái phiếu doanh nghiệp lãi suất thấp và không lãi, TP chính phủ Thị trường tiền tệ quốc tế Thu nhập và các khoản lợi nhuận tiền tệ khác Thay đổi của giá trị đồng tiền và lãi suất Các chứng khoán ngắn hạn và CDs (chứng chỉ tiền gửi) Trái phiếu đô thị Thu nhập không chịu thuế Thay đổi lãi suất và lạm phát Trái phiếu đô thị có thời hạn khác nhau Các khoản nợ ngắn/       trung hạn Thu nhập Rủi ro thua lỗ ít. Ít chịu ảnh hưởng của các thay đổi trong lãi suất Các loại nợ khác nhau, có thời hạn khác nhau, phụ thuộc vào loại quỹ Trái phiếu kho bạc Mỹ Thu nhập ổn định Thay đổi lãi suất và lạm phát Trái phiếu chính phủ lãi suất cao

Bill Of Exchange / Hối Phiếu Đối Ngoại

Hối phiếu được rút để cấp tiền cho giao dịch ngoại thương.

Sách Combo 4 Cuốn : Tư Duy Ngược + Tư Duy Mở + Biến Mọi Thứ Thành Tiền Chuột không dây Ugreen M751 với con lăn vô cực Máy chơi game retro Powkiddy X55