Thuật Ngữ Kinh Tế

A B C D E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Z Tất cả

Labour Augmenting Technical Progress / Tiến Bộ Kỹ Thuật Làm Tăng Sức Lao Động

Tiến bộ kỹ thuật làm tăng sản lượng giống như kiểu tăng sản lượng nhờ tăng LỰC LƯỢNG LAO ĐỘNG mà không có sự thay đổi thực sự nào về số lượng người trong lực lượng lao động tham gia thực hiện.

Derived Demand / Cầu Phái Sinh, Cầu Dẫn Xuất, Cầu Thứ Phát

Cầu đối với một yếu tố sản xuất. Diều này có ý nghĩa là cầu đó phát sinh từ nhu cầu đối với hàng hoá cuối cùng mà yếu tố đó góp phần để sản xuất ra.

Income-Sales Ratio / Tỷ Số Thu Nhập / Doanh Thu Tỷ Số Giữa Giá Trị Gia Tăng Và Tổng Doanh Thu Của Một Doanh Nghiệp Hay Một Ngành

Tỷ số giữa giá trị gia tăng và tổng doanh thu của một doanh nghiệp hay một ngành.

Labour - Saving Techniques / Các Kỹ Thuật Tiết Kiệm Lao Động

Các quy trình công nghệ hay phương pháp sản xuất thiên về hướng có giới hoá và sử dụng ít lao động hơn.

Derivatives / Chứng Khoán Phái Sinh

Nhắc đến chứng khoán, mọi người thường chỉ nghĩ đến cổ phiếu, trái phiếu như những công cụ đầu tư hiệu quả, trong khi thị trường chứng khoán còn rất bao la, mà cổ phiếu, trái phiếu chỉ là một vài trong số đó. Còn vô số những khái niệm và công cụ đầu tư khác phải kể đến, mà chứng khoán phái sinh chính là yếu tố quan trọng đầu tiên không thể bỏ qua.     Chứng khoán phái sinh (derivatives) là những công cụ được phát hành trên cơ sở những công cụ đã có như cổ phiếu, trái phiếu, nhằm nhiều mục tiêu khác nhau như phân tán rủi ro, bảo vệ lợi nhuận hoặc tạo lợi nhuận. Các chứng khoán phái sinh sẽ là đòn bẩy, làm tăng nhiều lần giá trị các các đối tượng đầu tư như cổ phiếu, trái phiếu, hoặc để đảm bảo rằng nếu giá của cổ phiếu, trái phiếu có thay đổi bao nhiêu thì giá của các công cụ phái sinh vẫn sẽ được duy trì ở mức ban đầu. Thị trường các chứng khoán phái sinh là thị trường phát hành và mua đi bán lại các chứng từ tài chính, như quyền mua cổ phiếu, chứng quyền, hợp đồng quyền chọn. Các công cụ phái sinh rất phong phú và đa dạng, nhưng có bốn công cụ chính là Hợp đồng kỳ hạn (forwards), Hợp đồng tương lai (futures), Quyền chọn mua hoặc bán (options) và Hợp đồng hoán đổi (swaps). Ngày nay khi thị trường chứng khoán biến động từng giây từng phút thì việc nắm trong tay những công cụ phái sinh là một biện pháp khôn ngoan để đối phó với rủi ro. Các phái sinh chứng khoán Futures và Options thường phức tạp và có tính chất dao động mạnh, nhưng đồng thời cũng là các phương án đầu tư có ích.  Futures là nghĩa vụ mua hoặc bán một hàng hoá cụ thể nào đó, ví dụ như: ngũ cốc, vàng hay trái phiếu Kho bạc trong một ngày nào đó theo một giá đã được xác lập trước. Options là quyền bán hoặc mua một hạng mục hàng hoá cụ thể nào đó như: cổ phiếu, kim loại quý hoặc trái phiếu Kho bạc theo một giá đã xác lập trước trong một khoản thời gian nào đó.  Các khoản đầu tư phái sinh Một lí do khiến các chứng khoán phái sinh futures và options trở nên phức tạp là vì chúng là các khoản đầu tư phái sinh.Thay vì đại diện cho cổ phần của người sở hữu như cổ phiếu, hay cam kết trả nợ như trái phiếu - mỗi hợp đồng futures hoặc option thường được cách ly khỏi một tài sản cơ bản (underlying asset) nào đó một vài cấp. Ví dụ, một hợp đồngfutures gia súc là sự đánh cược về hướng giá gia súc sẽ biến động như thế nào trong tương lai. Những biến động về giá gia súc xảy ra tự thân nó đã có lợi cho những người chăn nuôi gia súc và người chế biến thịt, nhưng không hoàn toàn có lợi cho tất cả các nhà đầu tư đã mua (nắm giữ) hợp đồng futures. Mỗi lần giá biến động, việc chọn thực hiện hợp đồngfutures gia súc sẽ chỉ có lợi cho nhà đầu tư nào muốn đánh cược trên giá gia súc, chứ không mang lại lợi ích trực tiếp tới những người mua hoặc bán gia súc. Giảm thiểu rủi ro Đối với một số người, các chứng khoán phái sinh futures và options có thể là công cụ phân tán bớt (giảm) rủi ro. Những người nông dân cam kết bán lúa ở một mức giá tốt sẽ được bảo vệ nếu giá giảm. Nhà đầu tư sở hữu options quyền bán (put option) trên những cổ phiếu họ sở hữu thì có thể bù đắp một phần thua lỗ của mình nếu thị trường bị suy giảm. Phần lớn các nhà đầu tư đều giao dịch futures và options để giảm bớt rủi ro vì khả năng bị lỗ nhiều có thể sẽ được bù đắp bằng cơ hội đạt được khoản lợi lớn. Nhưng các nhà đầu tư đơn lẻ thường là những người chơi nhỏ trong thị trường futures và options do rủi ro cao và lợi nhuận lại không đoán trước được. Đòn bẩy làm tăng rủi ro Phương pháp đòn bẩy (leverage), theo thuật ngữ tài chính, có nghĩa là việc sử dụng một số tiền nhỏ để thực hiện một khoản đầu tư có giá trị lớn hơn rất nhiều. Bạn có thể mua một hợp đồng tương lai (futurescontract) trị giá hàng nghìn đô la với khoản đầu tư ban đầu chỉ bằng 10% tổng trị giá hợp đồng. Ví dụ, nếu bạn mua một hợp đồng vàng trị giá 35.000$ (khi 1 ounce vàng bằng 350$) bạn có thể chỉ cần bỏ ra 3.500$. Đó chính là một sự đảm bảo tốt cho bạn và sẽ tạo cho bạn một lực bẩy hơn 100 ounce (oz.) vàng. Với một hàng hoá có giá dao động bất ổn như vàng, dao động giá khoảng 100$ trong suốt thời hạn của hợp đồng là hoàn toàn có thể xảy ra. Vì vậy, nếu giá tăng 100$, tức là lên đến 450$ một ounce, giá trị đầu tư của bạn có thể lên đến 10.000$ - gần như đạt mức lãi 300% so với đầu tư gốc 3.500$ của bạn. Mỗi lần giá một ounce vàng tăng lên 10 cent thì giá trị hợp đồng sẽ tăng lên 10$. Tuy vậy, đương nhiên là điều ngược lại cũng có thể xảy ra. Nếu giá giảm và giá trị đầu tư của bạn cũng sụt xuống 300%, việc này có thể lấy mất hơn 10.000$ của bạn -- đôi khi còn nhiều hơn -- để thực hiện đúng cam kết của hợp đồng khi bạn bị lỗ. Vì vậy, mặc dù đòn bẩy khiến cho việc cam kết lúc ban đầu có vẻ thuận lợi nhưng những diễn biến có thể xảy ra trong quá trình đầu tư phái sinh này có thể gây ra cho bạn những khoản thua lỗ lớn. Hiệu lực trong thời hạn Mặc dù futures và options là các giao dịch cho tương lai, nhưng đó là một tương lai không hề xa. Các hợp đồng futures lúa và các nguồn thực phẩm khác nói chung hết hiệu lực trong vòng một năm nhưng chúng ta cũng có thể thấy các hợp đồng giao dịch futures tài chính nào đó - ví dụ giao dịch Eurodollars- có thời hạn tới tận 5 năm. Hợp đồng options thường có hiệu lực trong vòng một năm hoặc ít hơn. Tuy nhiên, các chứng khoán thuộc nhóm LEAPS (Long-term Equity Anticipation Securities), có liên hệ mật thiết với các cổ phiếu và chỉ số cổ phiếu, có thể giao dịch lên đến 36 tháng. Các hợp đồng futures và options hết hạn tại một thời điểm đã được định sẵn (các kỳ hạn của chúng xảy ra thường xuyên và nối tiếp nhau) và sẽ không còn hiệu lực giao dịch sau ngày đáo hạn. Trên thị trường tài chính Mỹ, bạn có thể bù đắp hợp đồng hoặc thực hiệnoptions vào bất kỳ một ngày giao dịch nào trước ngày hợp đồng đó hết hạn.

Labour / Lao Động

Toàn bộ nguồn nhân lực sẵn có trong xã hội để dùng vào quá trình sản xuất.

Incomes Policy / Chính Sách Thu Nhập

Ý định của chính phủ muốn kiểm soát tiền công bằng một hình thức can thiệp nào đó vào quá trình thương thuyết về tiền công.

Labor Agreement / Labor Contract / Hợp Đồng Lao Động

Còn được gọi là labor contract, là một thỏa thuận giữa một tổ chức và doanh nghiệp về lương, các lợi ích khác, v.v... mà người lao động sẽ nhận. Xem thêm collective agreement.

Nominal Yield / Lợi Tức Danh Nghĩa

Trong trường hợp một cổ phiếu thường, cổ tức được công bố và được tính theo tỷ lệ phần trăm của MỆNH GIÁ của nó.

Deregulation / Dỡ Bỏ Điều Tiết; Xoá Điều Tiết; Phi Điều Tiết

Việc dỡ bỏ các luật và dưới luật của chính phủ trung ương hay địa phương hạn chế sự tham gia vào các hoạt động nhất định. Xem privatization.

L/C / Thư Tín Dụng

Trình tự thực hiện thư tín dụng: 1. Người nhập khẩu làm đơn xin mở thư tín dụng cho người xuất khẩu hưởng 2. Căn cứ vào đơn xin mở NH mở sẽ mở 1 L/C thông qua ngân hàng thông báo ở nước xuất khẩu để báo cho người XK biết 3. Khi nhận được bản gốc thư tín dụng ngân hàng thông báo sẽ chuyển ngay cho người xuất khẩu 4. Người XK nếu chấp nhận thư tín dụng thì tiến hành giao hàng 5. Sau khi giao hàng người XK lập bộ chứng từ theo yêu cầu của L/C xuất trình đến NH thông báo để gửi đến NH mở đòi tiền 6. NH mở kiểm tra L/C thấy phù hợp thì trả tiền 7. NH mở L/C đòi tiền người NK và chuyển chứng từ cho người nhập khẩu sau khi nhận được tiền 8. Người NK kiểm tra L/C nếu thấy phù hợp thì trả tiền và nhận chứng từ để đi nhận hàng.

Income Velocity Of Circulation / Tốc Độ Lưu Thông Của Thu Nhập

Số đo tốc độ lưu thông của tiền có nguồn gốc từ sự phân tích của trường phái Cambridge (xem QUANTITY, THEORY OF MONEY ), trong đó số lượng tiền mặt trung bình có quan hệ với mức thu nhập trong một thời kỳ nhất định.

Depreciation / Khấu Hao; Sự Sụt Giảm Giá Trị

Thuật ngữ Sự suy thoái dùng để chỉ một giai đoạn trong một chu kỳ kinh doanh có dấu hiệu đình trệ, suy sụp trầm trọng của nền kinh tế quốc gia. Khi đó, sản lượng thực và đầu tư ở mức rất thấp và tỉ lệ thất nghiệp cao. Sự suy thoái xẩy ra chủ yếu là do sự hạ thấp tổng cầu, và có thể khắc phục nếu chính phủ đưa ra được một chính sách tiền tệ và tài chính mở rộng.

Nominal Value / Giá Trị Danh Nghĩa

Là giá trị được ghi trên một tờ chứng khoán hoặc mệnh giá của nó, trái với giá trị danh nghĩa là giá thị trường.

Giá Trị Danh Nghĩa (Nominal Value) là một thuật ngữ trong tài chính. Nó mô tả khái niệm, cơ chế hoặc quy trình cụ thể, được sử dụng trong phân tích, định giá, giao dịch và quản trị rủi ro. Ví dụ: Giá Trị Danh Nghĩa (Nominal Value) có thể dùng trong phân tích báo cáo tài chính hoặc định giá doanh nghiệp, tùy ngữ cảnh. Ứng dụng: hỗ trợ lập báo cáo, phân tích, thẩm định và ra quyết định tài chính. Khi áp dụng, cần lưu ý đến bối cảnh pháp lý và thị trường để hiểu đúng.

Black Friday / Ngày Thứ 6 Đen Tối

Đây là thuật ngữ dùng để chỉ ngày xảy ra biến cố trên thị trường chứng khoán. Ngày 24 tháng 9 năm 1969 đã đi vào lịch sử như là một trong những ngày đen tối nhất. Cơn khủng hoảng bắt nguồn từ những nhà đầu tư vàng, trong đó có Jay Gould và James Fist, hai nhà đầu tư đã cố gắng làm lũng đoạn thị trường vàng. Tuy nhiên những cố gắng của họ đã thất bại và thị trường vàng bị sụp đổ, kéo theo sư sụp đổ của thị trường chứng khoán. "Black friday" còn được đề cập tới là ngày sau ngày lễ tạ ơn ở Mỹ. Các nhà bán lẻ thường nhận thấy doanh số tăng nhanh vào ngày này và coi đây là khởi đầu cho một mùa mua sắm mới. Vì thế các cửa hàng bán lẻ thường trang hoàng cửa hiệu cho kì lễ giáng sinh và đưa ra những chương trình khuyến mại đặc biệt nhằm sớm lôi  kéo khách hàng.                                                          Thuật ngữ "black" đã được sử dụng để mô tả những ngày kinh hoàng trong lịch sử thị trường tài chính, ngày mà thị trường tài chính biến động mạnh dẫn tới bị "sập". Ví dụ: vào ngày thứ 3 đen tối, ngày 29 tháng 10 năm 1929, thị trường chứng khoán đột nhiên sụt giảm, báo hiệu cho cuộc đại suy thoái 29-33. Thêm vào đó, ngày mà thị trường chứng khoán trượt dốc khủng khiếp nhất là ngày thứ 6, ngày 19 tháng 10 năm 1987, khi mà chỉ số Dow Jones xuống dưới mức 22 điểm.

1. Là một ngày thảm họa thị trường chứng khoán. Ban đầu, ngày 24 tháng 9 năm 1869, được coi là ngày thứ Sáu đen tối. Sự sụp đổ bởi các nhà đầu cơ vàng, bao gồm Jay Gould và James Fist, những người đã cố gắng lũng đoạn thị trường vàng. Nỗ lực thất bại và thị trường vàng sụp đổ, khiến thị trường chứng khoán lao dốc. 2. Một ngày sau Lễ Tạ ơn ở Hoa Kỳ. Các nhà bán lẻ thường thấy một sự gia tăng trong doanh số bán hàng và coi đây là sự khởi đầu của mùa mua sắm. Việc các nhà bán lẻ đưa ra các chương trình khuyến mãi đặc biệt và mở cửa sớm để thu hút khách hàng là điều phổ biến. 1. Thuật ngữ "đen" đã được sử dụng để mô tả những ngày thảm họa khác trên thị trường tài chính. Ví dụ, vào Thứ Ba Đen, ngày 29 tháng 10 năm 1929, thị trường suy giảm nhanh chóng, báo hiệu sự bắt đầu của cuộc Đại suy thoái. Sự sụt giảm lớn nhất trong lịch sử thị trường chứng khoán xảy ra vào Thứ Hai Đen, ngày 19 tháng 10 năm 1987, khi Chỉ số bình quân công nghiệp Dow Jones giảm mạnh hơn 22%. 2. Ý tưởng đằng sau thuật ngữ "Thứ Sáu Đen" đó là ngày mà các cửa hàng bán lẻ có đủ doanh số để đưa họ "vào màu đen" - một ám hiệu kế toán ám chỉ việc thực hiện ghi lại các khoản lỗ màu đỏ và lợi nhuận bằng màu đen .

Income Tax / Thuế Thu Nhập

Thuế thu nhập là loại thuế trực thu đánh vào các khoản thu nhập (tiền lương, địa tô, và cổ tức) của hộ gia đình nhằm tạo ra nguồn thu và công cụ cho chính sách tài chính. Thuế thu nhập thường có tính chấp lũy tiến, tức là khi thu nhập tăng, người nộp thuế được xếp vào nhóm thu nhập cao hơn và phải nộp mức thuế (tức là mức thuế suất) cao hơn. Những thay đổi trong mức thuế thu nhập có thể được sử dụng làm công cụ của chính sách tài chính để điều tiết tổng mức cầu trong nền kinh tế. Khi thuế thu nhập tăng, thu nhập cá nhân có thể sử dụng vào mục đích chi tiêu cho tiêu dùng bị giảm. Ngược lại, khi thuế thu nhập giảm, thu nhập cá nhân sử dụng tăng, qua đó làm tăng mức chi tiêu cho tiêu dùng. Thuế thu nhập còn được sử dụng để tái phân phối thu nhập theo chính sách xã hội của chính phủ. Hai loại thuế thu nhập cơ bản là Thuế thu nhập cá nhân và Thuế thu nhập doanh nghiệp.

Đây là một loại thuế quan trọng nhất ở Anh và đóng một vai trò quan trọng trong các chế độ tài chính của tất cả các nước phương Tây.

Blach-Scholes Opitions Pricing Model / Công Thức Toán Học Được Dùng Rộng Rãi Để Định Giá Các Hợp Đồng Option

Đây là mô hình do Fisher Black và Myron Scholes triển khai để phán đoán hợp đồng options có được định giá công bằng hợp lý không. Mô hình liên kết các yếu tố như bất ổn định (tăng giảm bất thường) của lợi nhuận công ty, mức lãi suất thị trường, mối tương quan của giá chứng khoán cơ sở với giá điểm (strike price - giá thực thi) của hợp đồng option đáo hạn. Các định giá hiện nay sử dụng mô hình này được Options Monitor Service.

Depreciation / Khấu Hao

Khấu hao là một thuật ngữ sử dụng trong kế toán mô tả phương pháp phân bổ chi phí của tài sản cố định trong suốt thời gian sử dụng của nó, tương đương với mức hao mòn thông thường. Khấu hao thường xử dụng với các loại tài sản có thời gian sử dụng cố định, mất dần giá trị trong quá trình sử dụng. Còn theo định nghĩa của chuẩn mực kế toán Việt Nam, khấu hao là sự phân bổ một cách có hệ thống giá trị phải khấu hao của tài sản cố định trong suốt thời gian sử dụng hữu ích tài sản đó. Trong hệ thống tài khoản, tài khoản khấu hao được xếp vào loại tài khoản điều chỉnh giảm trừ. Việc khấu hao tài sản có tác động trực tiếp lên báo cáo tài chính, cụ thể là tới thu nhập chịu thuế của doanh nghiệp và cá nhân. Tuy nhiên mức khấu hao vì mục đích kế toán nội bộ doanh nghiệp và khấu hao vì mục đích giảm thuế đôi khi lại rất khác nhau. Khấu hao không phải là một khoản chi thực tế bằng tiền mà chỉ được trích trên sổ sách cho nên nó không ảnh hưởng nhiều đến dòng tiền thực tế của doanh nghiệp ngoài việc nó tác động chút ít đến khoản thuế phải nộp. Có nhiều phương pháp tính khấu hao khác nhau, nhưng tựu chung có thể qui về một số phương pháp phổ biến sau: Khấu hao đường thẳng (straight line depreciation): mức khấu hao bằng nhau qua các năm Khấu hao nhanh (accelerated depreciation): mức khấu hao những năm đầu cao, giảm dần về sau Khấu hao theo công suất (activity depreciation): khấu hao dựa trên số sản phẩm sản xuất ra...

Khấu Hao (Depreciation) là một thuật ngữ trong tài chính. Nó mô tả khái niệm, cơ chế hoặc quy trình cụ thể, được sử dụng trong phân tích, định giá, giao dịch và quản trị rủi ro. Ví dụ: Khấu Hao (Depreciation) có thể dùng trong phân tích báo cáo tài chính hoặc định giá doanh nghiệp, tùy ngữ cảnh. Ứng dụng: hỗ trợ lập báo cáo, phân tích, thẩm định và ra quyết định tài chính. Khi áp dụng, cần lưu ý đến bối cảnh pháp lý và thị trường để hiểu đúng.

Income Statement / Earnings Statement / Báo Cáo Thu Nhập

Là báo cáo tài chính chỉ ra doanh thu và chi phí và thông báo mức độ lợi nhuận của một tổ chức kinh doanh trong một thời kì xác định. Báo cáo thu nhập đôi khi còn được gọi là báo cáo Lãi Lỗ (Profit and Loss Statement). Ví dụ: Dưới đây là báo cáo thu nhập của công ty A, kinh doanh trường đua ngựa. Doanh thu   Phí đặt cược 3000 USD Phí học đua ngựa 2800 USD Tổng doanh thu 5800 USD     Chi phí   Phí thuê trại 1200 USD Phí mua thức ăn 800 USD Lương nhân viên 70 USD Chi phí khác 600 USD Tổng chi phí 3300 USD Thu nhập 2500 USD

Biweekly Mortgage / Khoản Vay Cầm Cố Trả Mỗi Hai Tuần

Khoản vay càm cố có lãi suất cố định với việc thanh toán tiền vay hai tuần một lần, khác với tiền vay trả theo tháng có cầm cố dân cư. Thanh toán một nửa của tiền vay cầm cố 30 năm, nhưng việc thanh toán tăng tốc cho phép người vay trả hết tiền vay cầm cố nhanh hơn tiền vay cầm cố khấu trừ hàng tháng. Người vay chi trả 26 lần nửa khoản chi trả trên một năm hay trả thêm một tháng. Kết quả việc tăng tốc hình thành vốn sở hữu và giảm chi phí lãi trên kỳ hạn khoản vay. Tiền vay cầm cố 30 năm trả hai tuần một, nếu giữ đến ngày đáo hạn, nó sẽ rút lại còn xấp xỉ 20 năm, tiết kiệm hơn 142,000$ tiền lãi cho mỗi 100,000$ vay.  Xem ALTERNATIVE MORTGAGE INSTRUMENTS.

Sách Combo 4 Cuốn : Tư Duy Ngược + Tư Duy Mở + Biến Mọi Thứ Thành Tiền Chuột không dây Ugreen M751 với con lăn vô cực Máy chơi game retro Powkiddy X55