Director's Law / Quy Luật Director
Một giả thuyết do Aaron Director đưa ra, cho rằng trong một hệ thống dân chủ, chính phủ có xu hướng theo đuổi những chính sách phân phối lại thu nhập từ những người khá giàu và người nghèo sang những nhóm thu nhập trung bình.
Director - Executive - Manager - Leader - Supervisor / Cấp Bậc Quản Lý
Quản lý cấp caoDirectors: Giám đốcExecutives: Người quản trị Senior managers: Quản lý cấp cao Quản lý cấp trungJunior/middle managers: Quản lý trung gianLine managers: Quản lý dây chuyềnTeam leaders: Trưởng nhómSupervisors: Giám sát Direct report: Cấp dưới trực tiếp mà bạn phải chịu trách nhiệm quản lý.Immediate boss/supervisor: Cấp trên trực tiếp mà bạn chịu trách nhiệm báo cáo công việc.
Blue Book / Sách Xanh
Một cái tên quen thuộc cho ấn phẩm của Cục thống kê trung ương bao gồm đăng tải những tài khoản chi tiêu và thu nhập quốc dân hàng năm của Anh.
Một cuốn sách hướng dẫn biên soạn và báo giá các loại ô tô mới hoặc đã qua sử dụng, cũng như các loại phương tiện khác với mọi kiểu dáng, mẫu mã và chủng loại. Tên chính thức của cuốn sách là sách xanh Kelley, ban đầu nó chỉ dành cho ngành công nghiệp ô tô, nhưng sau đó cả phiên bản dành cho người tiêu dùng và phiên bản trực tuyến đều đã được cung cấp tới công chúng vào những năm 1990. Sách xanh đã trở thành hướng dẫn thẩm định hàng đầu cho việc định giá xe ở Bắc Mỹ. Các công ty bảo hiểm ô tô thường sử dụng sách xanh làm tiêu chuẩn so sánh để đánh giá giá trị thị trường của một chiếc xe vừa trải qua một vụ va chạm nhằm xác định xem có đáng để sửa chiếc xe này không, hay nên loại bỏ nó và ghi lại một khoản lỗ.
Direct Tax / Thuế Trực Thu
Theo cách hiểu thông thường, thuế trực thu là loại thuế đánh trực tiếp vào thu nhập và tài sản của các cá nhân hay doanh nghiệp, như thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế chuyển quyền sử dụng đất. Đối với loại thuế này, đối tượng nộp thuế theo pháp luật quy định đồng nhất với người phải chịu thuế tức là thuế thu trực tiếp vào thu nhập của người nộp thuế. Về nguyên tắc loại thuế này có tính đến khả năng của người nộp thuế, người có thu nhập cao hơn phải nộp thuế nhiều hơn.Thuế trực thu có một số đặc điểm sau: Thuế này có tính công bằng hơn thuế gián thu, vì phần đóng góp về thuế thường phù hợp đối với khả năng của từng đối tượng, có tính phân loại đối tượng nộp. Thuế trực thu có nhược điểm là hạn chế phần nào sự cố gắng tăng thu nhập của các đối tượng, vì thu nhập và lợi nhuận càng cao thì phải nộp thuế càng nhiều. Thuế trực thu do người có thu nhập phải trả một cách trực tiếp và có ý thức cho nhà nước, nên họ cảm nhận ngay được gánh nặng về thuế và có thể dẫn tới những phản ứng từ chối hoặc trốn thuế. Việc quản lí thu thuế này phức tạp và chi phí thường cao so với thuế gián thu.
Blowout / Chứng Khoán Bán Chạy
Việc buôn bán hàng hóa: Hàng bán lẻ được bán nhanh chóng với giá rẻ. Chứng khoán: Việc bán hết nhanh chóng một chứng khoán trong một đợt chào bán mới. Các doanh nghiệp đều muốn bán được chứng khoán trong môi trường như thế này, bởi vì họ sẽ bán được với giá cao. Các nhà đầu tư thường sẽ có một thời gian khó khăn để có đủ số lượng cổ phiếu họ muốn trong suốt thời kỳ chứng khoán bán chạy này.
Industrial Development Certificate / Chứng Chỉ Phát Triển Công Nghiệp.
Một sự kiểm soát trước đây về xây dựng công nghiệp được hình thành theo Đạo luật Kế hoạch hoá quận và thị xã năm 1947, đòi hỏi phải có một chứng chỉ (IDC) trước khi xây dựng hay mở rộng một khu công nghiệp quá một quy mô nhất định. Sau khi thông qua Luật Công nghiệp năm 1972, IDCS không còn cần cho sự phát triển trong CÁC KHU VỰC CẦN PHÁT TRIỂN hay các KHU VỰC ĐẶC BIỆT CẦN PHÁT TRIỂN và IDCS thực tế đã bị bỏ từ năm 1982.
Blocked Currency, Nonconvertible Currency / Tiền Không Chuyển Đổi Được
Đồng tiền được sử dụng chủ yếu cho các giao dịch nội địa, không được tự do giao dịch trên thị trường ngoại hối (thường do những giới hạn chính phủ đặt ra). Còn được gọi là "convertable currency". Việc chuyển từ một đồng tiền không chuyển đổi được sang tiền được giao dịch tự do như đồng đô la Mỹ là rất khó khăn, nếu không muốn nói là không thể.
Direct Mail / Tiếp Thị Bằng Thư Trực Tiếp
Phương pháp tiếp thị bằng thư trực tiếp là phương thức quảng cáo mà những thông điệp được gửi đến khách hàng mục tiêu qua thư. Một số người thường nhầm lẫn khái niệm của các thuật ngữ: direct mail (phương pháp tiếp thị bằng thư trực tiếp), direct marketing(tiếp thị trực tiếp) và mail order (đặt hàng qua bưu điện). Có lẽ cách tốt nhất giúp phân biệt những thuật ngữ này là hiểu rõ phương pháp tiếp thị bằng thư trực tiếp đơn giản là một các quảng cáo, tương tự như các loại hình truyền thông khác. Thông điệp truyền thông từ các phương tiện in ấn xuất hiện thông qua các dạng xuất bản trên giấy như báo in, tạp chí. Trong khi đó, truyền thông bằng phương tiện đài phát thì được chuyển tải qua sóng phát thanh hay truyền hình. Đối với các thông điệp quảng cáo hay tiếp thi bằng thư trực tiếp, phương tiện chuyển tải chính là thư.Mail order (đặt hàng qua bưu điện) là một phương thức kinh doanh, tương tự như hoạt động bán lẻ. Trong đó, người bán có thể sử dụng hay không sử dụng tiếp thị bằng thư trực tiếp để chuyển thông điệp quảng cáo. Direct marketing (tiếp thị trực tiếp) – thuật ngữ này có nội dung khá rộng để chỉ những loại hình tiếp thị tận dụng nhiều hình thức truyền thông khác nhau nhằm thu hút sự chú ý của người tiêu dùng. Hình thức này khác những kiểu tiếp thị cố đạt được những sự hưởng ứng tức thời. Direct mail là cách truyền đạt đầy đủ thông tin về sản phẩm, dịch vụ đến các nhóm khách hàng mục tiêu với chi phí khá dễ chịu. Vì thế, đây thường là lựa chọn của những doanh nghiệp nhỏ. Thông qua đó, họ có thể thu thập được những thông tin có giá trị tiềm năng từ khách hàng về những đề nghị và theo sau đó là những cuộc họi hoặc gặp gỡ trực tiếp từ nhân viên bán hàng. Vì thế, cách tiếp thị này là phương pháp hiểu quả, cung cấp cho khách hàng sự hiểu biết và sự thích thú đối với một sản phẩm mới. Một ưu điểm nữa khi sử dụng hình thức tiếp thị này là việc dễ kiểm tra. Nhờ vậy mà các chủ doanh nghiệp thực hiện nhiều thông điệp khác nhau đối với những đối tượng nhằm tìm được thị trường có thể mang lợi nhuận cao nhất đối với một sản phẩm hay dịch vụ mới.
Industrial Democracy / Dân Chủ Công Nghiệp
Một sự mở rộng quá trình ra quyết định trong phạm vi một xí nghiệp từ một nhóm nhỏ theo hướng cho toàn thể lực lượng làm việc.
Block Grant / Trợ Cấp Cả Gói
Nói chung là một khoản trợ cấp không đặt cọc của chính phủ cấp cho chính quyền địa phương.
Direct Debit / Ghi Nợ Trực Tiếp
Một hệ thống phát triển mới đây về thanh toán qua hệ thóng ngân hàng. Theo đó ngân hàng của một người giao dịch sắp nhận một khoản thanh toán sẽ đưa ra khiếu nợ cầu trực tiếp đối với ngân hàng của bên phải trả nợ để thanh toán, đến lượt mình ngân hàng của bên nợ sẽ ghi nợ vào tài khoản người trả.
Ghi Nợ Trực Tiếp (Direct Debit) là thuật ngữ tài chính mô tả cơ chế, quy trình hoặc chỉ báo dùng trong thực tiễn thị trường và quản trị doanh nghiệp. Ví dụ cụ thể phụ thuộc ngữ cảnh (đầu tư, kế toán, quản trị rủi ro…). Ứng dụng: chuẩn hóa giao tiếp chuyên môn, hỗ trợ lập báo cáo, thẩm định và ra quyết định. Khi áp dụng cần xem bối cảnh pháp lý, điều kiện thị trường và đặc thù ngành để diễn giải chính xác.
Industrial Complex Analysis / Phân Tích Tổ Hợp Công Nghiệp
Một kỹ thuật được sử dụng trong kế hoạch hoá vùng lãnh thổ, nó tập trung vào phân tích mối quan hệ tương tác giữa các hoạt động công nghiệp được thực hiện trên cùng một vùng địa lý.
Industrial Cluster / Cụm Công Nghiệp
Cụm công nghiệp (khu công nghiệp) là sự tập trung địa lí của những công ty có mối liên hệ với nhau về mặt cung cấp như: người cung cấp nguyên vật liệu hay người cung cấp dịch vụ, và những ngành công nghiệp hoặc tổ chức liên quan. Các cụm công nghiệp mọc lên bởi sự gia tăng của sự tập trung kinh tế, cơ cấu hạ tầng địa phương thuận lợi, hệ thống trao đổi có sẵn, sự đầu tư có tổ chức của chính phủ, chi phí giao dịch và thông tin giảm. Đây là những lợi thế của cụm công nghiệp tập trung. Ngày nay các quốc gia đang khuyến khích sự tập trung mạnh mẽ hơn nữa, bởi vì việc tập trung như vậy đem lại lợi thế cạnh tranh lớn trên thị trường quốc tế. Một ví dụ điển hình về khu công nghiệp tập trung đó là thung lũng phần mềm và công nghệ thông tin Silicon Valley của Carlifornia.
Direct Costing / Chi Phí Trực Tiếp
Direct costing: là chi phí trực tiếp được tính vào giá thành sản phẩm , gồm những khoản mục: 1. Chi phí nguyên liệu trực tiếp 2. Chi phí nhân công trực tiếp 3. Chi phí sản xuất chung phần khả biến (V) Cả 3 mục này được xem là chi phí sản phẩm (Product costs) Ngoài ra các chi phí bán hàng, quản lý chung và chi phí sãn xuất chung phần bất biến (F) được xem là chi phí thời kỳ (Period costs)
Industrial Bank / Ngân Hàng Công Nghiệp
Công ty tài chính được tiểu bang cấp phép thực hiện các khoản cho vay tiêu dùng và cho vay thương mại, đồng thời chấp nhận các khoản ký gởi kỳ hạn và các tài khoản lệnh rút tiền khả nhượng có thanh toán lãi. Những ngân hàng công nghiệp, trước đây có trong 16 tiểu bang, ngày nay được cấp phép tại 5 tiểu bang, hầu hết thuộc miền Tây nước Mỹ. Thuật ngữ này bắt nguồn từ các công ty tài chính đầu thế kỷ 20, bắt đầu có các khoản cho vay dành cho các công nhân công nghiệp; từ đó, hầu hết các ngân hàng thương mại đều không cung cấp các khoản cho vay tiêu dùng. Cũng được gọi là ngân hàng cho vay công nghiệp hoặc công ty cho vay công nghiệp.
Bllet / Chi Trả Một Lần Một - Ấn Định Một Lần Một
Bllet tức: Chi trả một lần một - ấn định một lần một. Thuật ngữ này có nghĩa:1. Trong thị trường tài chính: Chi trả lại số cân đối tiền vay trong một kỳ (trong một lần). 2. Trong thị trường chứng khoán: Trái phiếu hay giấy nợ được cung cấp theo một lãi suất đã ấn định trước với thời điểm đáo hạn cố định.
Bliss Point / Điểm Cực Mãn; Điểm Hoàn Toàn Thoả Mãn
Thường để chỉ CÂN BẰNG TIÊU DÙNG trong đó người tiêu dùng hoàn toàn thoả mãn đối với hàng hoá được tiêu dùng và điểm này nằm trong GIỚI HẠN NGÂN SÁCH của anh ta.
Industrial Action / Trừng Phạt Lao Động
Hình phạt do một số cá nhân hay các nhóm người mưu toan giải quyết BẤT ĐỒNG VỀ LAO ĐỘNG trong doanh nghiệp của họ.
Diminishing Marginal Utility / Độ Thoả Dụng Biên Giảm Dần
Hiện tượng theo đó giả định rằng thoả dụng gia tăng đối với một đơn vị hàng hoá giảm khi càng nhiều hàng hoá được mua hơn.
Blind Trust / Ủy Thác Ẩn Danh
Ủy thác được tạo ra nhằm tránh xuất hiện mâu thuẫn về quyền lợi cho người có liên quan đến một vụ tranh chấp trong đầu tư. Tiền ủy thác được trả cho người nhận ủy thác, người không tiết lộ danh mục đầu tư cho người ủy thác, vì việc biết được quyền sở hữu sẽ xâm phạm tính độc lập và công minh của nghề nghiệp. Bên được gọi là bên nhận ủy thác có thể là một phòng ủy thác của ngân hàng hay bất cứ bên thứ ba nào, khác với nhân viên có liên hệ hay đối tác kinh doanh, là người độc lập với bên ủy thác về danh nghĩa và trong thực tế.
Ủy thác được tạo ra nhằm tránh xuất hiện mâu thuẫn về quyền lợi cho người có liên quan đến một vụ tranh chấp trong đầu tư. Tiền ủy thác được trả cho người nhận ủy thác, người không tiết lộ danh mục đầu tư cho người ủy thác, vì việc biết được quyền sở hữu sẽ xâm phạm tính độc lập và công minh của nghề nghiệp. Bên được gọi là bên nhận ủy thác có thể là một phòng ủy thác của ngân hàng hay bất cứ bên thứ ba nào, khác với nhân viên có liên hệ hay đối tác kinh doanh, là người độc lập với bên ủy thác về danh nghĩa trong thực tế.
Là một ủy thác trong đó người thực thi có toàn quyền quyết định đối với tài sản và người thụ hưởng ủy thác không có kiến thức về việc nắm giữ ủy thác. Ủy thác ẩn danh thường được sử dụng khi người ủy thác muốn giữ cho người thụ hưởng không biết về các tài sản cụ thể trong ủy thác, như để tránh xung đột lợi ích giữa người thụ hưởng và các khoản đầu tư.






