Distressed Sale / Bán Gấp
Bán gấp - tự thân thuật ngữ này đã cho thấy nội dung của nó. Được dùng trong những trường hợp phải bán tài sản do điều kiện khẩn cấp hoặc bắt buộc phải làm như vậy nếu muốn cứu vãn tình hình của doanh nghiệp - ví dụ trong trường hợp có lệnh gọi kí quỹ. Chính do phải bán gấp trong các điều kiện không có lợi nên giá bán tài sản thường thấp hơn giá bán trong điều kiện thông thường, khi mà doanh nghiệp chủ động trước tình thế.
Limited Information (Li) / Thông Tin Hạn Chế
Một cụm thuật ngữ miêu tả một nhóm kỹ thuật ước tính kinh tế lượng sử dụng trong việc ước tính các biến số của các hàm đồng thời.
Intergovernmental Grants / Các Trợ Cấp Liên Chính Quyền
Số tiền do một cấp chính phủ ở một nước (ví dụ chính phủ trung ương) cấp cho một chính phủ nước khác.
Intergenerational Equity / Công Bằng Giữa Các Thế Hệ
Tính công bằng trong việc sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên giữa các thế hệ khác nhau.
Công Bằng Giữa Các Thế Hệ (Intergenerational Equity) là một thuật ngữ quan trọng trong tài chính – kinh tế, mô tả cơ chế, quy trình hoặc khái niệm liên quan đến đầu tư, quản trị và phân tích dữ liệu tài chính. Ví dụ: Công Bằng Giữa Các Thế Hệ (Intergenerational Equity) thường được dùng trong phân tích báo cáo tài chính, lập kế hoạch đầu tư hoặc đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh. Ứng dụng: hỗ trợ lập kế hoạch tài chính, quản lý rủi ro và ra quyết định chiến lược. Khi sử dụng, cần lưu ý ngữ cảnh và mục tiêu để đảm bảo hiểu đúng và áp dụng chính xác.
Công Bằng Giữa Các Thế Hệ (Intergenerational Equity) là một thuật ngữ quan trọng trong tài chính – kinh tế, mô tả cơ chế, quy trình hoặc khái niệm liên quan đến đầu tư, quản trị và phân tích dữ liệu tài chính. Ví dụ: Công Bằng Giữa Các Thế Hệ (Intergenerational Equity) thường được dùng trong phân tích báo cáo tài chính, lập kế hoạch đầu tư hoặc đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh. Ứng dụng: hỗ trợ lập kế hoạch tài chính, quản lý rủi ro và ra quyết định chiến lược. Khi sử dụng, cần lưu ý ngữ cảnh và mục tiêu để đảm bảo hiểu đúng và áp dụng chính xác.
Book Value / Giá Trị Ghi Trên Sổ Sách (Giá Bút Toán)
1. Giá trị tài sản hiện hành thể hiện trên bảng cân đối kế toán. Nó có thể bằng giá thị trường, hoặc có thể có sự chênh lệch giữa giá mua và giá thị trường, trừ khấu hao lũy kế. 2. Giá trị ròng của một công ty, đôi khi được diễn tả bằng giá trị bằng tiền trên mỗi cổ phần của cổ phiếu thường, sau khi trừ đi số cổ phiếu ưu đãi đang lưu hành. 3. Giá mua gốc của một tài sản.
1. Giá trị tài sản hiện hành thể hiện trên bảng cân đối kế toán. Nó có thể bằng giá trị thị trường, hoặc có thể có sự chênh lệch giữa giá mua và giá thị trường, trừ khấu hao lũy kế. 2. Giá trị ròng của một công ty, đôi khi được diễn tả bằng giá tị bằng tiền trên mỗi cổ phần của cổ phiếu thường, sau khi trừ đi số cổ phiếu ưu đãi đang lưu hành. 3. Giá mua gốc của một tài sản.
Limited Dependent Variables / Các Biến Số Phụ Thuộc Hạn Chế
Xảy ra trong mô hình hồi quy theo đó biến phụ thuộc bị hạn chế ở một số khoảng giá trị nào đó.
Interest Rate Swap / Hợp Đồng Hoán Đổi Lãi Suất
Một hợp động giữa hai chủ thể ( được biết như là hai bên đối tác), có dòng thanh toán tiền lãi trong tương lai được giao dịch cho một dòng thanh toán tiền lãi khác dựa tren một khoản tiền danh nghĩa xác định. Các loại hoán đổi lãi suất thường giao dịch là hoán đổi một thanh toán lãi suất cố định cho một thanh toán lãi suất thả nổi( thường là lãi suất LIBOR). Một công ty sẽ thường sử dụng hoán đổi lãi suất để giới hạn hoặc quản lý khả năng chịu đựng của nó đối với các biến động trong lãi suất hoặc để nhằm đạt được một mức lãi suất thấp hơn mức mà nó phải chịu nếu không tham gia vào các hợp đồng hoán đổiCác hợp đồng hoán đổi lãi suất thường đơn giản là hoán đổi một dòng tiền ( dựa trên sự xác định lãi suất) cho một dòng tiền khác. Bởi vì họ giao dịch trên thị trường OTC, nên họ có thể thực hiện các hợp đồng giữa các bên đối tác theo đúng như yêu cầu của họ.Nói chung, các hợp đồng hoán đổi thường được các công ty mong muốn có một loại cấu trúc lãi suất mà một công ty khác có thể cung cấp nhưng rẻ hơn. Ví dụ, một công ty A đang tìm kiếm một nguồn vay với lãi suất cố định, nhưng công ty B có thể phát hành nợ cho nhà đầu tư với lãi suất thả nổi ( lãi suất thấp) và sau đó giao dịch các nghĩa vụ phải trả dòng tiền với lãi suất cố định cho công ty A để đổi lấy nghĩa vụ phải trả lãi suất thả nổi của mình.Mặc dù công ty B có thể có mức lãi suất thả nổi cao hơn công ty A, bằng việc thực hiện các hợp đồng hoán đổi cấu trúc lãi suất, họ có thể đã sở hữu lãi suất rẻ hơn, chi phí kết hợp sẽ giảm xuống- lợi ích có thể được san sẻ cho các hai bên.
Limited Company / Công Ty Trách Nhiệm Hữu Hạn
Có hai loại công ty trách nhiệm hữu hạn ở Anh: Công ty trách nhiệm hữu hạn công cộng và công ty trách nhiệm hữu hạn tư nhân.
Công Ty Trách Nhiệm Hữu Hạn (Limited Company) là một thuật ngữ trong tài chính. Nó mô tả khái niệm, cơ chế hoặc quy trình cụ thể, được sử dụng trong phân tích, định giá, giao dịch và quản trị rủi ro. Ví dụ: Công Ty Trách Nhiệm Hữu Hạn (Limited Company) có thể dùng trong phân tích báo cáo tài chính hoặc định giá doanh nghiệp, tùy ngữ cảnh. Ứng dụng: hỗ trợ lập báo cáo, phân tích, thẩm định và ra quyết định tài chính. Khi áp dụng, cần lưu ý đến bối cảnh pháp lý và thị trường để hiểu đúng.
Interest Rate Swap / Swap Lãi Suất
Hợp đồng swap lãi suất là một dạng khá phổ biến trong các công cụ tài chính phái sinh. Trong hợp đồng này, một bên sẽ hoán đổi một dòng lãi suất của mình lấy dòng lãi suất của đối phương. Dòng lãi suất là gì? Đó là tập hợp các khoản lãi suất trong tương lai của một khoản đầu tư. Đối với dòng lãi suất cố định thì thu nhập từ khoản đầu tư là đều nhau trong những khoảng thời gian tương đương, còn dòng lãi suất biến đổi thì không. Swap lãi suất thường là kiểu hoán đổi giữa (lãi suất) "cố định - biến đổi", nhưng cũng có khi là "biến động - biến động". Về mặt lý thuyết thì loại thứ ba "cố định - cố định" cũng có thể thực hiện được, nhưng do toàn bộ dòng lãi suất có thể xác định được ngay thời điểm kí hợp đồng swap nên chẳng có lý do gì mà hai bên lại tiến hành hoán đổi cho nhau nếu các khoản đầu tư có chung đơn vị tiền tệ. Ví dụ: A có một khoản gửi ngân hàng bằng USD, lãi suất 5%/năm, B sở hữu một sốtrái phiếu có giá trị tương đương, trái tức 7%. Vậy nếu tiến hành swap thì đơn giản là A sẽ phải bù cho B 2%, và chẳng bên nào được lợi lộc gì. Swap lãi suất "cố định - biến động" thường được sử dụng khi các công ty muốn thay thế rủi ro trước biến động lãi suất của mình bằng một lãi suất ổn định, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động quản trị chiến lược, vì khi đó công ty sẽ dễ dàng xác định các nhân tố ảnh hưởng hơn. Ở chiều swap ngược lại, bên tham gia muốn đổi lãi suất ổn định của mình lấy lãi suất biến động, mà theo kì vọng của anh ta là có lợi hơn. Hãy theo dõi ví dụ dưới đây để hiểu rõ hơn: Một hợp đồng SWAP kiểu "cố định - biến động" theo đó, bên A trả cho bên B một tỉ lệ lãi suất bằng với lãi suất LIBOR + 50 điểm(0.5%), để đổi lại bên B cho bên A hưởng một tỉ lệ lãi suất cố định là 3%/năm. Lưu ý rằng, trên thực tế không diễn ra việc chuyển giao số tiền gốc, và tiền lãi được tính toán trên một số tiền qui ước (tưởng tượng). Đến kì thanh toán, giả sử 1 năm sau, lãi suất LIBOR lúc đó là 0.7%, vậy lãi suất A thanh toán cho B là 1.2%, do đó, sau khi bù trừ A sẽ được nhận số tiền lãi với lãi suất là 3 - 1.2 = 1.8%. Lãi suất cố định (ở ví dụ này là 3%) được gọi là lãi suất swap. Như vậy trong trường hợp này, hợp đồng SWAP tương tự như một vụ cá cược về lãi suất LIBOR, nếu lãi suất LIBOR mà lớn hơn 2.5% thì B có lợi, còn thấp hơn 2.5% thì A có lợi. Ngoài ra swap lãi suất còn giúp các bên giảm chi phí sử dụng vốn. Nếu A và B hoạt động trong điều kiện giống nhau thì có vẻ như SWAP chỉ là một trò chơi có tổng bằng 0 (zero sum game) khi mà lợi ích bên này lại là thiệt hại của bên kia. Tuy nhiên, khi A và B hoạt động trong những môi trường khác nhau, tiếp cận với những nguồn lực khác nhau, thì vẫn có một khoảng nào đó khiến cả hai cùng có lợi. Ví dụ: A có khả năng vay tiền với lãi suất 12% hoặc LIBOR+2%, trong khi B có khả năng vay với lãi suất 10% hoặc LIBOR+1%. Coi như đây là chi phí sử dụng vốn của 2 công ty, thì bằng lý thuyết lợi thế so sánh có thể thấy A có lợi thế so sánh về lãi suất động còn B có lợi thế so sánh về lãi suất cố định. Vậy A nên vay vốn theo lãi suất biến động LIBOR+2% còn B nên vay vốn theo lãi suất cố định 10%, sau đó A và B có thể sử dụng hợp đồng SWAP để hoán đổi lãi suất theo một tỉ lệ nhất định để cả hai cùng có lợi.
Distant Contract / Hợp Đồng Còn Lâu Mới Đáo Hạn
Đây là một thuật ngữ dùng khi nói về hai hay nhiều hợp đồng futures có thời gian tính đến ngày đáo hạn lâu nhất. Đầu tư độc nhất để có quyền sở hữu hơn 10% chứng khoán có quyền bầu hiện hành trong một công ty.
Limit Pricing / Định Giá Giới Hạn
Các cách thức mà các hãng đã thiết lập cho một nghành công nghiệp có thể định giá với mục đích ngăn cẳn những đối thủ cạnh tranh mới muốn thâm nhập vào thị trường.
Interest Rate Risk / Rủi Ro Lãi Suất
Rủi ro lãi suất là một trong những rủi ro hệ thống, hay còn gọi là rủi ro không phân tán được khi đầu tư vào thị trường chứng khoán. Rủi ro lãi suất nói đến sự không ổn định trong giá trị thị trường và số tiền thu nhập trong tương lai, nguyên nhân là dao động trong mức lãi suất chung. Nguyên nhân cốt lõi của rủi ro lãi suất là sự lên xuống của lãi suất Trái phiếu Chính phủ, khi đó sẽ có sự thay đổi trong mức sinh lời kỳ vọng của các loại chứng khoán khác, như các loại cổ phiếu và trái phiếu công ty. Nói cách khác, chi phí vay vốn đối với các loại chứng khoán không rủi ro thay đổi sẽ dẫn đến sự thay đổi về chi phí vay vốn của các loại chứng khoán có rủi ro. Các nhà đầu tư thường coi trái phiếu Chính phủ là không rủi ro. Lãi suất của trái phiếu Chính phủ được coi là lãi suất chuẩn, là mức phí vay vốn không rủi ro. Những thay đổi trong lãi suất trái phiếu Chính phủ sẽ làm ảnh hưởng tới toàn bộ hệ thống chứng khoán, từ trái phiếu cho đến các loại cổ phiếu rủi ro nhất. Lãi suất trái phiếu Chính phủ cũng thay đổi theo cung cầu trên thị trường. Ví dụ, khi ngân sách thâm hụt thì Chính phủ sẽ phát hành thêm chứng khoán đế bù đắp, như vậy sẽ làm tăng mức cung chứng khoán trên thị trường. Các nhà đầu tư tiềm năng sẽ chỉ mua các trái phiếu này nếu lãi suất cao hơn lãi suất các loại chứng khoán khác đang được lưu hành. Nếu giả sử, lãi suất trái phiếu chính phủ tăng từ 12 lên 12,5% thì những người đang nắm giữ trái phiếu có lãi suất 12% sẽ bị thiệt hại do giá chứng khoán giảm xuống. Vì lãi suất đã cố định là 12% ngay từ lúc phát hành nên những người nắm giữ chứng khoán chỉ có thể bán được nếu họ chịu giảm giá xuống tới mức đảm bảo cho lãi suất đáo hạn của những trái phiếu này đạt được mức 12,5%. Do lãi suất trái phiếu Chính phủ tăng, nó sẽ trở nên hấp dẫn hơn và các loại chứng khoán khác sẽ bị kém hấp dẫn đi. Hệ quả là, những nhà đầu tư sẽ mua trái phiếu Chính phủ thay vì trái phiếu công ty, và do vậy lãi suất trái phiếu công ty cũng phải tăng lên. Lãi suất trái phiếu công ty tăng sẽ dẫn đến giá của các loại cổ phiếu thường và cổ phiếu ưu đãi giảm xuống như một phản ứng dây chuyền. Như vậy, ta thấy có một cơ cấu hợp lý về lãi suất do các loại công cụ có liên hệ với nhau. Sự tăng lên của lãi suất chuẩn sẽ làm ảnh hưởng đến toàn bộ hệ thống. Hệ quả trực tiếp của việc tăng lãi suất chuẩn là giá cả của các loại chứng khoán khác giảm xuống; tương tự, lãi suất chuẩn giảm lại làm cho giá của các loại chứng khoán tăng lên. Ngoài hệ quả trực tiếp đối với giá chứng khoán, lãi suất chuẩn còn có ảnh hưởng gián tiếp đến giá cổ phiếu thường. Thứ nhất, lãi suất chuẩn tăng hay giảm sẽ làm cho các giao dịch ký quỹ kém hấp dẫn đi hay hấp dẫn hơn. Thứ hai, rất nhiều công ty kinh doanh chủ yếu bằng vốn đi vay. Nhiều công ty khác, ví dụ các tổ chức tài chính, tham gia vào các hoạt động cho vay khi lãi suất tăng, các công ty vay nợ nhiều sẽ phải trích từ thu nhập của mình nhiều hơn để trả lãi, dẫn đến sự sút giảm thu nhập, cổ tức và giá cổ phiếu. Việc tăng lãi suất lại mang đến thu nhập cao hơn cho những người cho vay do nguồn thu chính của họ là lãi thu được từ các khoản cho vay. Đối với những công ty này thu nhập tăng lại làm cho cổ tức và giá cổ phiếu của nó tăng.
Rủi Ro Lãi Suất (Interest Rate Risk) là một thuật ngữ trong tài chính. Nó mô tả khái niệm, cơ chế hoặc quy trình cụ thể, được sử dụng trong phân tích, định giá, giao dịch và quản trị rủi ro. Ví dụ: Rủi Ro Lãi Suất (Interest Rate Risk) có thể dùng trong phân tích báo cáo tài chính hoặc định giá doanh nghiệp, tùy ngữ cảnh. Ứng dụng: hỗ trợ lập báo cáo, phân tích, thẩm định và ra quyết định tài chính. Khi áp dụng, cần lưu ý đến bối cảnh pháp lý và thị trường để hiểu đúng.
Limit Order / Lệnh Giới Hạn
Lệnh giới hạn là việc bạn chỉ thị cho người mội giới của mình mua một chứng khoán ở mức giá thấp hơn một mức giá cụ thể, còn gọi là mức giá giới hạn (limit price), hoặc là bán loại chứng khoán này ở mức giá cao hơn hoặc bằng với mức giá giới hạn. Để tránh phải mua hoăc bán một loại cổ phiếu ở mức giá cao hơn hoặc thấp hơn mức giá mà bạn mong muốn, bạn nên đưa ra “lệnh giới hạn” hơn là “lệnh thị trường”(market order) vì khi bạn đặt lệnh thị trường thì bạn không thể kiểm soát được mức giá mà tại đó lệnh của bạn được thực hiện. Ví dụ: nếu bạn muốn mua một loại cổ phiếu IPO thuộc dạng đang “hot” trên thị trường. Cổ phiếu này được chào bán ở thị trường sơ cấp với mức giá $9. Nếu bạn không muốn mua cổ phiếu này với mức giá cao hơn $20/ cổ phiếu, khi đó bạn nên chỉ thị cho người môi giới của mình bằng một lệnh giới hạn. Nếu đưa ra một lệnh thị trường, có thể mức giá lúc bạn đặt lệnh và lúc lệnh của bạn được khớp đã chênh lệch nhau rất nhiều, ví dụ bạn đặt lệnh lúc giá mới $18/ cổ phiếu và khi lệnh của bạn được khớp thì giá có thể đã bị đẩy lên tới $90/ cổ phiếu. Và như vậy bạn sẽ phải hứng chịu một khoản lỗ lớn nếu ngày sau hoặc tuần sau đó giá cổ phiếu sụt xuống. Nếu bạn đua ra lệnh giới hạn thì người môi giới của bạn sẽ chỉ thực hiện lệnh nếu mức giá thị trường còn ở dưới hoặc bằng với mức giá giới hạn là $20/ cổ phiếu. Tuy nhiên cũng cần nhớ rằng lệnh giới hạn của bạn có thể sẽ chẳng bao giờ thực hiện được bởi vì mức giá thị trường có thể nhanh chóng vượt mức giá giới hạn mà bạn đưa ra trước khi lệnh của bạn được thực hiện. Nhưng đưa ra lệnh giới hạn cũng có nghĩa là bạn có thể tự bảo vệ mình khỏi việc phải mua một loại cổ phiếu ở mức giá quá cao. Một vài công ty môi giới có thể thu phí thực hiện lệnh giới hạn cao hơn lệnh thị trường.
Book Value / Giá Trị Trên Sổ Sách (Giá Bút Toán)
1. Giá trị tài sản hiện hành thể hiện trên bảng cân đối kế toán. Nó có thể bằng giá trị thị trường, hoặc có thể có sự chênh lệch giữa giá mua và giá thị trường, trừ khấu hao lũy kế. 2. Giá trị ròng của một công ty, đôi khi được diễn tả bằng giá trị tiền trên mỗi cổ phần của cổ phiếu thị trường, sau khi trừ đi số cổ phiếu ưu đãi đang lưu hành. 3. Giá mua gốc của một tài sản.
Likehood Function / Hàm Hợp Lý
Trong kinh tế lượng, một trung bình mà theo đó mô hình có khả năng thực nhất có thể được suy ra từ một tập hợp hữu hạn các quan sát đối với các sự kiện được cho là do mô hình tạo ra.
Dissecting / Phân Tích Thời Gian Mua Bán Chứng Khoán Trong Ngày
Thuật ngữ này có nghĩa là trong một ngày mua bán ở thị trường chứng khoán New York, từ 9.30 sáng tới 4.00 chiều, tính tỷ lệ số lượng mua bán cổ phần chứng khoán từng giờ một, tỷ dụ từ 9.
Interest Rate Parity / Ngang Giá Lãi Suất
Lý thuyết ngang giá lãi suất (IRP) phát biểu rằng sự khác biệt lãi suất giữa 2 quốc gia thì cân bằng với sự khác biệt giữa tỷ giá giao ngay với tỷ giá kỳ hạn. Lý thuyết ngang giá lãi suất đóng một vai trò quan trọng trong các thị trường ngoại hối, cho thấy mối quan hệ giữa lãi suất, tỷ giá giao ngay và tỷ giá kỳ hạn. Để cho dễ hình dung chúng ta theo dõi 2 cách thức mà một nhà đầu tư Mỹ có thể sử dụng để chuyển đổi đồng ngoại tệ sang đô-la Mỹ * Lựa chọn A, dùng ngoại tệ đầu tư vào chính nước đó với lãi suất phi rủi ro trong một khoảng thời gian xác định. Ngay lập tức sau đó, nhà đầu tư thực hiện hợp đồng kỳ hạn để chuyển số tiền sẽ nhận được sang đồng Đô la Mỹ theo tỷ giá kỳ hạn sẽ thực hiện vào cuối thời gian đầu tư. * Lựa chọn B là sẽ chuyển đồng ngoại tệ sang Đô la Mỹ với tỷ giá giao ngay rồi đầu tư số Đô la đó vào một ngân hàng Mỹ với lãi suất phi rủi ro trong cùng khoảng thời gian như lựa chọn A. Theo IRP, khi không tồn tại cơ hội để kinh doanh chênh lệch (arbitrage) nữa thì dòng tiền mặt thu được từ hai lựa chọn trên phải bằng nhau.
Book To Market Ratio / Hệ Số Giá Ghi Sổ Trên Giá Thị Trường
Hệ số giá ghi sổ trên giá thị truờng là chỉ tiêu để xác định giá trị thực sự của một công ty bằng cách so sánh giá trị kế toán (giá trị ghi sổ) với giá trị thị truờng của công ty đó. Giá trị kế toán được tính dựa trên những con số đã ghi nhận trên sổ kế toán, như giá trị tài sản cố định, tài sản lưu động hay tính toán qua nguồn vốn gồm có nguồn vốn chủ sở hữu vànợ phải trả. Đây là những tài sản đã được ghi nhận trong quá khứ, tức là từ khi công ty sở hữu tài sản này và theo nguyên tắc giá phí lịch sử thì nó được giữ nguyên đến khi tài sản đó mất đi. Do vậy có thể nói giá kế toán là tổng giá trị tài sản của công ty tính trong một thời kỳ nhất định, thường trong một niên độ kế toán, và nó chỉ thay đổi khi có sự thay đổi qui mô hay cơ cấu tài sản. Giá trị thị trường của công ty được quyết định trên thị trườngchứng khoán qua việc vốn hóa thị trường, tức là cổ phiếu do công ty đó phát hành có "giá trị" như thế nào đối với các nhà đầu tư. Công ty phát hành cổ phiếu với một mệnh giá nhất định trên thị trường sơ cấp, nhưng khi nó được mua bán trên thị trường thứ cấp thì giá cả có thể khác xa so với mệnh giá. Nếu công ty làm ăn có hiệu quả và tiềm năng thu đuợc lợi nhuận cao thì giá trị của cổ phiếu sẽ tăng, tức là giá thị truờng của công ty cũng theo đó tăng; ngược lại nếu làm ăn kém hiệu quả thì giá cổ phiếu giảm và tất nhiên giá trị công ty theo đó giảm đi. Như vậy thực chất giá thị truờng của công ty cao hay thấp không có mối quan hệ nhân quả với giá kế toán. Giá kế toán là "giá lịch sử" thì giá thị trường là "giá hiện tại" được tính theo từng thời điểm, và luôn biến động trên thị truờng chứng khoán. Công thức: Hệ số giá ghi sổ trên giá thị trường = Giá trị ghi sổ / Giá trị thị trường Hệ số này xác định giá cổ phiếu của công ty đang ở tình trạng trên giá trị hay dưới giá trị bằng cách so giá trị thị trường với giá trị ghi sổ. Nếu hệ số này lớn hơn 1 tức là giá trị ghi sổ lớn hơn giá thị trường vậy các nhà đầu tư đánh giá giá trị công ty dưới "giá trị lịch sử", tức là cổ phiếu giảm giá. Ngược lại nếu hệ số này nhỏ hơn 1 thì giá thị trường cao hơn giá kế toán, tức là giá cổ phiếu tăng. Các nhà đầu tư sử dụng hệ số này như một trong yếu tố để quyết định có đầu tư vào loại cổ phiếu đó hay không. Đôi khi hệ số này được đảo ngược lại là "hệ số giá thị trường trên giá ghi sổ - Market to Book Ratio".
Life-Cycle Hypothesis / Giả Thiết Thu Nhập Theo Vòng Đời
Giả thiết cho rằng cá nhân tiêu dùng một tỷ lệ cố định giá trị hiện tại của thu nhập của cả đời họ trong mỗi thời kỳ. Tỷ lệ này chính xác sẽ phụ thuộc vào thị hiếu của mỗi người tiêu dùng nhưng với điều kiện việc phân phối dân cư theo tuổi và thu nhập tương đối cố định, các hàm tiêu dùng cá nhân có thể tổng hợp để tạo ra một hàm tiêu dùng tổng cộng ổn định. Lý thuyết này gắn liền với Ando – Modigliani và Brumberg cố gắng giải thích bằng chứng rõ rệt về các chỉ tiêu của hàm tiêu dùng bằng mô hình thu nhập cả đời của cá nhân trung bình. Họ lý luận rằng mô hình thu nhập cả đời tổng quát là một hình thái ngẫu nhiên các gia đình xếp theo mức thu nhập sẽ cho ta thấy một số lớn người trung niên ở đầu cao hơn của bảng xếp hạng thu nhập và một số lớn thanh niên hay người già đứng cuối bảng thu nhập. Các hộ trẻ và các hộ già có xu hướng tiêu dùng trung bình cao và thực tế họ thường giảm tiết kiệm. Thông thường họ có thể vay mượn lấy thu nhập trong tương lai làm thế chấp như trong trường hợp của thanh niên, hoặc tiêu dùng hết cả tiết kiệm của mình trong trường hợp của người già. Ngược lại, các gia đình trung niên hoặc là trả nợ vay trước đây hay tiết kiệm cho tuổi già và do vậy có xu hướng tiêu dùng trung bình thấp hơn. Do vậy, các gia đình thu nhập thấp cho thấy có xu hướng tiêu dùng cao hơn và ngược lại; những thực tế này giải thích mô hình của hàm tiêu dùng bằng sự phân tích số liệu chéo. Về lâu dài, giả định này cho rằng các gia đình tiêu dùng một tỷ lệ không đổi của giá trị hiện tại của thu nhập cả đời mình và hàm tiêu dùng dài hạn được đưa ra để phản ánh điều này. Cuối cùng, vì thu nhập từ lao động thực tế sẽ tăng lên và giảm xuống xung quanh gái trị trung bình dài hạn nên xu thế tiêu dùng trung bình sẽ biến động trái ngược với thu nhập trong suốt chiều dài của chu kỳ kinh doanh như đưa ra trong hàm tiêu dùng ngắn hạn.
Interest Rate Ceiling / Lãi Suất Trần
Mức lãi suất trần là mức lãi suất cao nhất một tổ chức tài chính áp dụng để thu hút tiền gửi vào tổ chức của mình - mức lãi suất trần huy động, hoặc mức cao nhất mà tổ chức áp dụng đối với các khoản vay nợ của người đi vay - lãi suất trần cho vay. Ở Việt Nam, chính phủ quy định mức lãi suất trần huy động. Còn lãi suất cho trần cho vay, theo Bộ luật Dân sự 2005 (tại khoản 1, điều 476) quy định: “Lãi suất vay do các bên thỏa thuận nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do NHNN công bố đối với loại cho vay tương ứng” (tương đương lãi suất 13%/năm, nhưng hiện các ngân hàng đã cho vay vượt quá mức lãi suất này). Ngày 23/04/2007, liên quan đến đề nghị của Chính phủ nâng mức trần lãi suất cho vay lên 200% lãi suất cơ bản, UBTVQH quyết định sẽ trình Quốc hội xem xét lựa chọn hai mức: 150% như hiện hành, hoặc 200% lãi suất cơ bản. Cho đến 28/04/2007, chưa có thêm thông tin về vấn đề này.






