Non-linear / Phi Tuyến
Là thuật ngữ thường được gắn với một hàm số mà đồ thị của nó không phải là một đường thẳng.
Displacement Effect / Hiệu Ứng Chuyển Dời; Hiệu Ứng Thay Đổi Trạng Thái
Xu hướng quan sát được về tăng chi tiêu công cộng trong suốt một cuộc chiến tranh hay cuộc khủng hoảng quốc gia khác nhưng không trở về mức ban đầu sau khủng hoảng.
Intercontinentalexchange (ICE) / Sàn Giao Dịch Liên Lục Địa
Sàn giao dịch liên lục địa, mã chứng khoán trên sàn NYSE là ICE, hoạt động với tư cách là sàn giao dịch điện tử hàng đầu thế giới đối với các hợp đồng futures và OTC về năng lượng. ICE tạo ra hàng loạt các hợp đồng dựa trên dầu thô, các sản phẩm tinh chế, khí gas tự nhiên, và năng lượng. ICE điều hành thị trường futures thông qua công ty con được giám sát bởi FSA (Financial services authority) đặt tại London tên là ICE Futures. ICE Futures là sàn giao dịch năng lượng hàng đầu Châu Âu. ICE là nơi duy nhất cung cấp các thị trường điện tử hợp nhất cho việc giao dịch "khách hàng - với - khách hàng" các sản phẩm năng lượng ở cả thị trường futures và OTC, kết nối người mua và người bán trên toàn thế giới đối với các sản phẩm phái sinh và các hợp đồng hàng hóa năng lượng thực tế. Thị trường ảo qua Internet của ICE giúp làm tăng khả năng tham gia và tính minh bạch của các thị trường hàng hóa năng lượng, tăng cường tốc độ cũng như chất lượng của các giao dịch. Có trụ sở tại Atlanta, ICE có văn phòng ở Calgary, Chicago, Houston, London, New York và Singapore với các trung tâm của từng khu vực là Chicago, New York, London và Singapore.
Bond Yields / Thu Lợi Từ Trái Phiếu
Các nhà đầu tư thận trọng thường sử dụng trái phiếu để có được nguồn thu nhập ổn định. Họ mua trái phiếu khi trái phiếu đó được phát hành và nắm giữ chúng, chờ đợi các khoản thu nhập đều đặn, có lãi cố định cho tới khi trái phiếu đáo hạn. Sau đó, họ nhận lại khoản đầu tư gốc để lại tái đầu tư. Các trái phiếu được phát hành khi lãi suất phổ biến của thị trường ở mức cao sẽ lên giá khi lãi suất giảm xuống. Đó là vì các nhà đầu tư sẵn sàng trả cao hơn mệnh giá để mua một trái phiếu có trái suất là 8% khi lãi suất hiện hành là 5%. Điều đó có nghĩa là sự tăng lên trong giá một trái phiếu, hay tăng giá vốn, có thể mang lại nhiều lợi nhuận cho người nào bán trái phiếu đi hơn là giữ trái phiếu lại chờ đến ngày đáo hạn. Một số nhà đầu tư năng động hơn có thể giao dịch, hay mua và bán các trái phiếu (tương tự như họ có thể làm đối với cổ phiếu) với hy vọng kiếm được tiền từ việc bán trái phiếu ở một mức giá cao hơn mức giá mà họ đã trả để mua được trái phiếu đó. Nhưng luôn luôn tồn tại những rủi ro trong các giao dịch trái phiếu. Nếu lãi suất tăng, bạn có thể mất tiền nếu bạn muốn bán một trái phiếu mua trước đó có mức lãi suất thấp hơn. Điều này là vì những người mua tiềm tàng rõ ràng phải trả ít tiền cho một trái phiếu hơn là số tiền mà bạn đã phải trả để mua trái phiếu đó. Một rủi ro khác mà những người nắm giữ trái phiếu thường gặp phải là lạm phát xuất hiện. Do số tiền mà bạn kiếm được từ một khoản đầu tư vào trái phiếu không đổi, nên giá trị của khoản tiền đó sẽ bị giảm đi do lạm phát. Chẳng hạn nếu bạn có một trái phiếu thời hạn 30 năm với lãi hàng năm là 5.000$, thu nhập này sẽ mua được ít hàng hoá hơn vào thời điểm cuối thời hạn của trái phiếu so với thời điểm đầu thời hạn.
Liabilities / Nợ
Mọi trái quyền, thực tại hay tương lai, đối với một cá nhân hay tổ chức.
Non-labor Income / Thu Nhập Phi Lao Động
Là khoản thu nhập phát sinh ngoài thị trường lao động, có thể là từ các khoản đầu tư hay quan trọng hơn là từ các khoản THANH TOÁN CHUYỂN NHƯỢNG.
Intercept / Hệ Số Chặn
Trong HÀM TUYẾN TÍNH hệ số chặn là một hằng số, nghĩa là số hạng không chứa BIẾN ĐỘC LẬP.
Lexicographic Preferences / Thị Hiếu Thiên Lệch
Sở thích của một cá nhân đối với một nhóm hàng hoá này so với một hàng hoá khác, nếu nó chứa nhiều hơn một hàng hoá cụ thể nào đó và bất kể số lượng của các hàng hoá khác trong nhóm đó như thế nào.
Inter-Bank Market / Thị Trường Liên Ngân Hàng
Một trong các nhóm THỊ TRƯỜNG TIỀN TỆ có quan hệ lẫn nhau ở London. Thị trường này phát triển vào những năm 1960 và là một thị trường trong đó CÁC NGÂN HÀNG KHÔNG THANH TOÁN BÙ TRỪ cho vay lẫn nhau, nhưng rồi nó đã trở thành một thị trường tiền lớn được rất nhiều thể chế tài chính sử dụng trong việc cho vay và đi vay.
Non-fixed Assets / Tài Sản Không Cố Định
Là các thiết bị và đồ nội thất với một giá trị mua ban đầu ít hơn so với một số giá trị được xác định trước (ví dụ như, <1.000 $ trong tài sản chi phí mua lại được coi là tài sản không cố định). Các mục này sẽ không được giao thẻ kiểm kê tài sản. Ví dụ điển hình của hạng mục tài sản không cố định là máy tính, máy chữ, ghế, bàn, tủ hồ sơ, đơn vị, giá đỡ và các công cụ nhỏ.
Lewis, Sir W.Arthur / (1919-1991)
Nhà kinh tế học Tây Ấn và là người cùng được tặng giải thưởng Nobel với Theodore Schultz về kinh tế năm 1979. Huân tước W.Athur được đào tạo tại trường kinh tế London và là trưởng khoa kinh tế tại trường đại học Manchester và Princeton. Mối quan tâm chính của ông là chính sách công cộng và kinh tế của các nước kém phát triển và mô hình phát triển của Lewis, trong đó giả định một nền kinh tế hai khu vực hiện đại đang phát triển, trong đó lợi nhuận được tái đầu tư, và hấp thụ số lao động không hạn chế từ khu vực nông nghiệp truyền thống, được chấp nhận rộng rãi. Tác phẩm chính của ông là Lý thuyết về tăng trưởng kinh tế (1955), trình bày những phân tích tổng hợp về phát triển kinh tế cho đến thời gian đó. Trong kế hoạch phát triển: sự cốt yếu của chính sách kinh tế (1966), ông đưa ra những hướng dẫn về cách thức tạo lập và đánh giá một kế hoạch kinh tế. Các ấn phẩm khác của ông là Khảo sát kinh tế, 1948 - 1935 (1949), phân tích và xem xét các sự kiện và chính sách của giai đoạn đó, Chi phí cố định (1949) và Các nguyên tắc kế hoạch hoá kinh tế (1949).
Disinvestment / Giảm Đầu Tư
Việc cố ý giảm một phần dung lượng vốn hay sự thất bại có dự định hoặc không dự đinh về đầu tư thay thế để trang trải khấu hao.
Intensive Margin / Giới Hạn Thâm Canh
Trường hợp giảm lơi tức vật chất đối với vốn và lao động khi đất đai là cố định.
Lewis - Fei - Ranis Model / Mô Hình Lewis - Fei - Ranis
Một mô hình kinh tế về thất nghiệp ở các nước đang phát triển được A.Lewis giới thiệu năm 1954 và 1958 và sau đó được chính thức hoá bởi Fei và Ranis năm 1964.
Non-excludability / Không Thể Loại Trừ
Một loại hàng hóa được coi là không thể loại trừ được nếu việc cung cấp hàng hóa đó cho bất kỳ người nào sẽ tự động khiến cho những người khác cũng có hàng hóa đó. THuật ngữ này có thể xuất phát từ quan điểm của nhà sản xuất, theo đó các nhà cung cấp không thể ngăn cản các cá nhân tiêu dùng hoặc không thể tránh được việc tiêu dùng hàng hóa đó. Tính không thể loại trừ là một đặc điểm của hàng hóa công cộng.
Bond Mutual Fund / Quỹ Tương Hỗ Trái Phiếu
Quỹ tương hỗ đầu tư vào trái phiếu. Những quỹ như thế này có thể tập trung vào một số loại trái phiếu nhất định, như trái phiếu chính phủ, trái phiếu doanh nghiệp, trái phiếu chuyển đổi, trái phiếu lợi suất cao, trái phiếu đảm bảo bằng thế chấp, trái phiếu nước ngoài hoặc trái phiếu không được nhận trái tức. Những quỹ tương hỗ trái phiếu khác có thể mua một số hay tất cả các loại trái phiếu đó. Hầu hết các quỹ tương hỗ trái phiếu được thiết lập để đem lại thu nhập hiện tại cho người sở hữu trái phiếu. Những quỹ trái phiếu cũng đem lại cho khách hàng thặng dư vốn khi lãi suất giảm và thâm hụt vốn khi lãi suất tăng. Không giống như trái phiếu trong những quỹ này, bản thân quỹ không bao giờ đáo hạn. Có 2 loại quỹ tương hỗ trái phiếu: Quỹ mở và quỹ đóng. Quỹ mở liên tục phát hành chứng chỉ quỹ để điều chỉnh các khoản tiền mới khi được đầu tư vào quỹ và chúng luôn giao dịch tại chỉ số giá trị tài sản thuần (NAV). Quỹ đóng chỉ phát hành một lượng giới hạn chứng chỉ quỹ và được giao dịch trên sàn giao dịch chứng khoán. Quỹ đóng có thể giao dịch cả tại giá cao (phí giao dịch) hơn hoặc thấp hơn (chiết khấu) NAV, phụ thuộc vào yêu cầu của nhà đầu tư đối với quỹ.
Disintermediation / Quá Trình Xoá Bỏ Trung Gian; Phi Trung Gian
Quá trình theo đó vốn mà từ trước đã đi từ người cung cấp cuối cùng đến người sử dụng cuối cùng thông qua , đặc trung gian tài chính biệt là các ngân hàng vì các lý do liên quan đến lãi suất tương đối hay kiểm soát khả năng mở rộng các khoản tiền gửi của các ngân hàng, bây giờ đựoc tiến hành trực tiếp.
Non-Deliverable Forward / NDF / Hợp Đồng Kì Hạn Tiền Không Giao Dịch
Là hợp đồng kì hạn ngắn giao dịch các loại tiền không giao dịch, khi đó lợi nhuận hoặc thua lỗ vào thời điểm thực hiện hợp đồng được tính bằng chênh lệch giữa tỉ giá đã thống nhất và tỉ giá giao ngay vào thời điểm thực hiện hợp đồng. Tất cả các hợp đồng NDF đều có ngày ấn định và ngày thực hiện. Ngày ấn định là ngày tại đó chênh lệch giữa tỉ giá thị trường và tỉ giá thống nhất được tính toán. Ngày thực hiện là ngày đáo hạn của khoản chênh lệch phải trả cho bên được nhận. NDF thường có thời hạn từ 1 tháng đến 1 năm, và thường được báo giá bằng đôla Mỹ. Loại hợp đồng này đã trở thành công cụ phổ biến đối với các công ty tìm kiếm sự bảo đảm chống lại rủi ro của các loại tiền nước ngoài không được giao dịch trên thị trường quốc tế.
Intellectual Property (IP) / Sở Hữu Trí Tuệ
Sở hữu trí tuệ (hay tài sản trí tuệ) là một khái niệm đề cập đến sự sáng tạo của tư duy theo nghĩa rộng: các phát minh, công trình văn học nghệ thuật, và các biểu tượng, tên, hình ảnh và thiết kế được sử dụng trong thương mại… Sở hữu trí tuệ liên quan đến các dạng thức của thông tin và tri thức, có thể được thể hiện trong những vật thể hữu hình đồng thời được nhân bản thành vô số bản sao ở bất kỳ đâu trên thế giới. Tuy nhiên, khái niệm tài sản được đề cập đến ở đây không phải là những bản sao đó mà là lượng thông tin và tri thức chứa đựng trong chúng. Do vậy, sở hữu trí tuệ (tài sản trí tuệ) là một loại tài sản vô hình. Do được hiểu theo nghĩa rộng và mở nên ngay cả Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) cũng không đưa ra định nghĩa về SHTT mà chỉ đưa ra khái niệm về quyền sở hữu trí tuệ - quyền đối với các tài sản trí tuệ - đồng thời đưa ra các đối tượng được bảo hộ của quyền sở hữu trí tuệ, bao gồm:• Các công trình văn học, nghệ thuật và khoa học;• Các cuộc trình diễn của các nghệ sĩ biểu diễn, bản ghi âm, chương trình phát thanh truyền hình;• Các phát minh trong mọi lĩnh vực do nỗ lực của con người;• Các khám phá khoa học;• Các kiểu dáng công nghiệp;• Các nhãn hiệu thương mại của hàng hoá, dịch vụ, tên và thiết kế thương mại;• Sự bảo hộ chống cạnh tranh không lành mạnh;• Tất cả các quyền khác bắt nguồn từ hoạt động tư duy sáng tạo trong các lĩnh vực công nghiệp, khoa học, văn học, nghệ thuật.Các đối tượng được bảo hộ bởi quyền sở hữu trí tuệ được quy định cụ thể tuỳ theo pháp luật của mỗi quốc gia.Sở hữu trí tuệ và quyền sở hữu trí tuệ là hai khái niệm luôn song hành. Quyền sở hữu trí tuệ cũng là một quyền tài sản, song do tính đặc thù của tài sản trí tuệ nên quyền sở hữu trí tuệ cũng có một số nét khác biệt cơ bản với các quyền tài sản khác. Nếu như các quyền tài sản khác đều được luật pháp của hầu hết các quốc gia trên thế giới bảo hộ một cách tuyệt đối thì quyền sở hữu trí tuệ lại có một số giới hạn nhất định. Trong đó, quan trọng nhất phải kể đến là giới hạn về không gian và thời gian: Thứ nhất, về giới hạn không gian: Quyền sở hữu trí tuệ chỉ được bảo hộ trong phạm vi một quốc gia. Có nghĩa là nếu bạn có một tài sản trí tuệ và bạn đăng ký bảo hộ ở quốc gia A thì trong phạm vi quốc gia này, không ai được xâm phạm đến quyền sở hữu của bạn đối với tài sản đó. Tuy nhiên quyền này không hề có giá trị tại quốc gia B (hay C) khác, trừ khi các quốc gia này cùng tham gia một Điều ước quốc tế về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đó. Khi đó, phạm vi không gian mà quyền sở hữu đối với tài sản trí tuệ đó được bảo hộ sẽ được mở rộng ra tất cả các quốc gia thành viên. Thứ hai, về giới hạn thời gian: để cân bằng giữa quyền và lợi ích của chủ sở hữu tài sản trí tuệ và các lợi ích công, thông thường pháp luật của các quốc gia đưa ra một thời hạn bảo hộ đối với mỗi đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ. Trong thời hạn đó, quyền sở hữu trí tuệ là bất khả xâm phạm. Mọi hành vi nhằm sao chép, dịch thuật, phát thanh phát sóng và các hình thức phổ biến khác tài sản trí tuệ đó đều phải có sự cho phép của chủ sở hữu. Hết thời hạn bảo hộ này (bao gồm cả thời hạn gia hạn nếu có), tài sản đó trở thành tài sản chung của nhân loại, có thể được phổ biến một cách tự do mà không cần bất kỳ sự cho phép nào của chủ sở hữu. Ví dụ, Luật Sở hữu trí tuệ 2005 của Việt Nam quy định: Tác phẩm điện ảnh, nhiếp ảnh, sân khấu, mỹ thuật ứng dụng, tác phẩm khuyết danh có thời hạn bảo hộ là năm mươi năm, kể từ khi tác phẩm được công bố lần đầu tiên; Quyền của người biểu diễn được bảo hộ năm mươi năm tính từ năm tiếp theo năm cuộc biểu diễn được định hình .v.v. Tầm quan trọng của việc bảo hộ sở hữu trí tuệ được công nhận lần đầu tiên trong Công ước Paris về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp năm 1883 và Công ước Berne về bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật năm 1886. Cả hai Công ước này hiện nay đều do Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) thực thi. Thông thường các quốc gia đều có luật quy định về bảo hộ sở hữu trí tuệ vì hai lí do chính: Thứ nhất, tạo ra cơ sở pháp lý cho các quyền của người sáng tạo đối với sự sáng tạo của họ về cả khía cạnh kinh tế và đạo đức đồng thời cho quyền tiếp cận của công chúng đối với sự sáng tạo đó; Thứ hai, khuyến khích sự sáng tạo, phổ biến và áp dụng các sáng tạo đó đồng thời thúc đẩy thương mại lành mạnh để đóng góp cho sự phát triển kinh tế và xã hội. Sở hữu trí tuệ được chia thành hai mảng: sở hữu công nghiệp và quyền tác giả.
Leveraged Loan / Vay Đòn Bẩy Nợ
Vay đòn bẩy nợ là những khoản vay mở rộng với những doanh nghiệp hoặc cá nhân hiện đã có một khoản nợ khá lớn. Người cho vay sẽ xem xét những khoản nợ cũ này để tính toán mức độ rủi ro vỡ nợ, tương ứng chi phí vay nợ cũng sẽ cao hơn những khoản vay thông thường.Vay đòn bẩy nợ, trong kinh doanh, thường được sử dụng trong các thương vụ mua lại sử dụng nợ.






