Thuật Ngữ Kinh Tế

A B C D E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Z Tất cả

Leveraged Buyout, LBO / Mua Lại Dựa Trên Vay Nợ

Việc mua lại hay sáp nhập dựa trên vay  nợ xảy ra khi một công ty hay định chế tài chính giành phần lớn quyền kiểm soát công ty mục tiêu thông qua việc đi vay nợ. Hiểu một cách chung nhất đây là chiến lược trong đó công ty tiến hành sáp nhập sẽ đi vay một lượng tiền lớn để trả cho các chi phí sáp nhập. Thông thường, ngoài tài sản của chính mình thì công ty thực hiện sáp nhập cũng sử dụng luôn tài sản của công ty mục tiêu để đảm bảo cho khoản vay của mình. Mục tiêu của chiến lược này là cho phép công ty có thể tiến hành sáp nhậpmà không cần có lượng vốn lớn trong tay. Trong  một vụ sáp nhập thế này thì tỉ lệ vay nợ là 70%, vốn tự có là 30%, tuy nhiên cũng có nhiều trường hợp tỉ lệ nợ có thể lên tới 90% -95% tổng giá trị vốn hóa của công ty mục tiêu. Phần vốn tự có của doanh nghiệp dùng để chi trả chi phí sáp nhập thường do các hội hoặc các quỹ đầu tư tư nhân cung cấp. Chiến lược này được sử dụng lần đầu vào năm 1955, trong vụ sáp nhập giữa công ty McLean Industries và  Waterman Steamship Corporation. Trong vụ sáp nhập này,  McLean  đã vay tới 42 triệu $ và huy động thêm 76 triệu $ nữa thông qua việc phát hành cổ phiếu ưu đãi. Khi vụ sáp nhập kết thúc, lượng tiền và tài sản của Waterman trị giá 20 triệu $ đã được sử dụng để thanh toán các khoản nợ. Ban lãnh đạo mới của Waterman được bầu ngay sau đó đã quyết định trả cổ tức trị giá 25 triệu $ cho McLean Industries. Trong lịch sử có rất nhiều vụ sáp nhập trong đó việc sử dụng chiến lược LBO chủ yếu dựa trên việc cắt giảm các khoản chi tiêu lãng phí của ban lãnh đạo công ty, những người không có cùng lợi ích với cổ đông. Sau khi tái cơ cấu lại doanh nghiệp _thường là bán một phần công ty và sa thải bớt nhân sự, công ty sẽ có khả năng tạo ra thu nhập cao hơn. Phần lớn các doanh nghiệp tiến hành chiến lược LBO thường tìm kiếm tỉ suất hoàn vốn nội bộ từ 20% trở lên. Một trường hợp sáp nhập đáng chú ý nữa là "management buyout" (MBO) trong đó các nhà quản lý của một công ty tiến hành mua lại hoặc giành quyền kiểm soát phần lớn công ty mục tiêu. Nâng cao lợi ích và vai trò của công ty thực hiện chiến lược đối với công ty mục tiêu. Chiến lược MBO đóng một vai trò quan trọng trong hoạt động cơ cấu lại doanh nghiệp, bên cạnh hoạt động sáp nhập và thôn tính.

Capitalized Value / Giá Trị Được Vốn Hoá

Trị giá được định cho một tài sản theo mức lợi nhuận hiện tại và lãi suất thị trường hiện hành.

Non-current Liability / Nợ Dài Hạn

Là các khoản nợ có thời hạn thanh toán trên một năm hoặc trên 1 chu kỳ kinh doanh như : vay dài hạn, nợ dài hạn về thuê tài chính tài sản cố định, các khoản ký nhận ký quỹ dài hạn, nợ do mua tài sản trả góp dài hạn.

Bond Maturity Periods / Vòng Đời Trái Phiếu

Vòng đời, hay thời hạn của bất kỳ trái phiếu nào cũng đều được xác định cố định ngay tại thời điểm phát hành. Nó có thể là ngắn hạn (thường là ít hơn hoặc bằng 1 năm), trung hạn (2 đến 10 năm), đến dài hạn (bằng hoặc hơn 30 năm). Nói chung, thời hạn càng dài thì lãi suất đề ra càng tạo ra thêm nhiều rủi ro hơn khi đầu tư tiền của bạn trong thời gian quá dài như vậy. Mối quan hệ giữa trái suất trả cho trái phiếu ngắn hạn và dài hạn được gọi là đường cong lợi suất.

Leverage, Gearing / Lợi Dụng Vốn, Đòn Bẩy Vốn

Lợi dụng vốn (đòn bẩy vốn) là việc sử dụng những nguồn lực sẵn có theo cách mà nó làm cho kết quả kinh doanh (lãi, lỗ) được nhân lên nhiều lần, hay nói cách khác, lợi dụng vốnchính là kĩ thuật nhân vốn trong kinh doanh. Khi nói đến lợi dụng vốn người ta thường đề cập đến 2 kiểu áp dụng của nó, trong đầu tư tài chính và trong kinh doanh thuần tuý. Trong đầu tư tài chính, nhà đầu tư lợi dụng vốn thông qua việc vay tiền hoặc sử dụng các dạng vay mượn khác (các công cụ phái sinh) để tăng số vốn đầu tư khả dụng. Nhà đầu tư hi vọng số vốn vay được này, khi được tái đầu tư vào các công cụ tài chính, sẽ đem lại lợi nhuận cao hơn chi phí tài chính phải trả. Các công cụ tài chính mà nhà đầu tư hay dùng có thể kể đến hợp đồng quyền chọn, hợp đồng tương lai, đặt cọc kinh doanh chứng khoán và một số công cụ khác. Trong kinh doanh, lợi dụng vốn là việc công ty đó sử dụng vốn vay để tài trợ cho hoạt động kinh doanh của mình. Công ty nào có tỉ lệ nợ trên vốn cổ phần càng cao thì khả năng lợi dụng vốn của nó càng cao, tức là hiệu quả sử dụng vốn càng cao. Để đánh giá khả năng lợi dụng vốn của một công ty, người ta thường dùng tỉ lệ tài sản trên vốn cổ đông (AOE). Tỉ lệ này càng cao thì chứng tỏ phần tài sản của công ty được tài trợ từ nguồn vốn vay càng lớn, mức độ lợi dụng vốn càng cao. Ví dụ: 2 công ty cùng có tổng tài sản như nhau là 30 triệu USD. Vốn cổ đông của Công ty A là 5 triệu USD còn của công ty B là 10 triệu. Rõ ràng, để có nguồn lực tương đương nhau, công ty A chỉ cần số vốn bằng phân nửa công ty B, tức là khả năng lợi dụng vốn của A (AOE=6) tốt hơn B (AOE=3). Cùng một đồng vốn đầu tư vào công ty A có khả năng sinh lợi cao hơn công ty B, đồng nghĩa với việc cổ phiếu của A nhìn chung sẽ hấp dẫn các nhà đầu tư hơn B. Lợi dụng vốn giúp các nhà đầu tư tài chính và các công ty tăng khả năng tạo ra lợi nhuận cho mình, song đi liền với nó, rủi ro bao giờ cũng cao hơn. Nếu sử vốn đi vay để đầu tư mà thua lỗ thì hậu quả đối với nhà đầu tư sẽ trầm trọng hơn nhiều lần khi đầu tư bằng vốn của mình. Điều này có thể thấy rõ trong ví dụ về đặt cọc kinh doanh chứng khoán. Doanh nghiệp có thể lợi dụng vốn của đối tượng khác để tăng lợi nhuận cho cổ đông, nhưng nếu họ không làm được điều đó, lãi vay và rủi ro vi phạm nghĩa vụ trả nợ có thể gây thiệt hại lớn cho cổ đông.

Integerated Economy / Nền Kinh Tế Liên Kết

Cụm thuật ngữ chỉ tình huống khi mà các khu vực tư nhân khác nhau của một nền kinh tế, thường là các khu vực công nghiệp và nông nghiệp, hoạt động phối hợp với nhau một cách có hiệu quả và phụ thuộc lẫn nhau.

Leverage Buy-Out (LBO) / Mua Lại Cổ Phần Theo Kiểu Vay Nợ Đầu Cơ

Mua lại cổ phần theo kiểu vay nợ đầu cơ là hình thức mua một khối lượng chứng khoánnhỏ chủ yếu bằng vay nợ nhưng với mục đích "lớn", tức là mượn đòn bẩy chứng khoán để thâu tóm phần lớn cổ phần của công ty hoặc trở thành chủ sở hữu duy nhất của công ty. Có một ví dụ rất thú vị về kiểu LBO: A là một tay đầu tư tham vọng và mưu lược và B là công ty phát hành chứng khoán mà A đang nhắm tới. Khi thấy giá chứng khoán của B thấp, thì A tính toán xem B rơi vào trường hợp nào: nếu quản trị yếu kém, vậy họ mua B rồi thay hội đồng quản trị; nếu tích sản của B (tài sản còn lại sau khi trả hết nợ) cao hơn giá chung của chứng khoán trên thị trường hiện nay khi giải thể (ví dụ như giá chứng khoán của công ty dầu khí thấp nhưng họ có mỏ nên tích sản của họ thường cao), vậy A mua về rồi giải thể công ty sẽ có lời; nếu B có nhiều công ty con, vậy mua về rồi bán các công ty con đi sẽ có lời. Vậy vấn đề quan trọng nhất đặt ra đối với A là làm thế nào mua được B??? Và A đã thực hiện kế hoạch của mình bằng kiểu mua lại LBO. Đầu tiên, A mua một số nhỏ chứng khoán của B trên thị trường. Mua vào lúc này A rất có lợi vì giá chứng khoán của B đang đi xuống, A sẽ không phải trả giá cao; tuy nhiên A không mua được nhiều vì - nếu hơn 5% - phải báo cáo cho ủy ban chứng khoán và tất nhiên sẽ bị quản lý bởi cơ quan này. Nếu A là một tay đầu tư tham vọng nhưng ít vốn thì trong thời gian này A phải tìm nơi tài trợ khi mua chứng khoán của B. A có thể lập ra A’ bằng nhiều cách: phát hành trái phiếu không có bảo đảm nhưng trả lãi cao để trước tiên thu hút vốn của các nhà đầu tư; hay đi vay đến 70-80% giá mua chứng khoán rồi sau này bán tài sản của B hoặc lấy cổ tức nó làm ra để trả nợ. Tất cả các cách làm này đều được gọi là “leverage buy - out”(LBO)- mua lại cổ phần bằng vay nợ đầu cơ. Tức là vay tiền đi mua lại cổ phần, để trở thành chủ sở hữu công ty sau đó dùng lợi phát sinh ngay sau đó để trả cho khoản nợ đã đi vay.  Sau khi đã mua một số chứng khoán nhỏ, A sẽ thông báo chính thức là muốn mua một lượng cổ phần từ các cổ đông công ty B và họ đề nghị một giá mua cho các cổ đông của B. Giá đó sẽ cao hơn giá chứng khoán của B trên thị trường (thường là 35%) và nói là nếu được mua một số lớn đến 80% lượng cổ phiếu mà mỗi cổ đông nắm giữ thì mới mua. Khi được đề nghị một giá cao như thế, các cổ đông của B sẽ bị áp lực phải bán ngay bởi: thứ nhất bán đi như vậy có lời cao; thứ hai cổ đông nào cũng nghĩ nếu không bán bây giờ mà sau này A mua được từ các cổ đông khác rồi thì họ sẽ bị ép giá ngay. Và khi đã bán đến 80% cổ phần công ty cho A thì ngay lập tức hội đồng quản trị của B bị đứng ngoài! Như vậy A đã thâu tóm được công ty B. Tuy nhiên không phải lúc nào với cách làm LBO, A cũng chiến thắng. Ở giai đoạn này có thể có một vài công ty khởi động khác cũng muốn mua (vì giá chứng khoán của B thấp hơn giá trị thật) và họ có thể đề nghị các giá mua cao hơn của A (100% chẳng hạn). Thế là có đấu đá về giá giữa A và các công ty khác và cổ đông của B được lợi. Chính vì vậy muốn LBO thành công A thường rất kín tiếng trong khi thực hiện bước đi đầu tiên là mua 5% chứng khoán B và nhanh tay trong việc mua lại 80% cổ phần của các cổ đông B.

Bond Market / Thị Trường Trái Phiếu

Cụm thuật ngữ này miêu tả bất cứ nơi nào hoặc sự giao dịch nào, trong đó bất kì loại trái khoán nào được chuyển qua tay: ví dụ rõ nhất là SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN.

Capitalization Ratio / Tỷ Lệ Tư Bản Hoá

Tỷ lệ tư bản hoá là khái niệm dùng để phân tích cơ cấu vốn của công ty để biết nợ, chứng khoán ưu đãi, chứng khoán thường, vốn cổ đông - mỗi thứ chiếm bao nhiêu phần trăm trong tổng số vốn công ty. Tỷ lệ rất hữu ích để ước tính rủi ro tương đối và mức hỗ trợ tài chính mà người sở hữu chứng khoán ở các mức độ tương ứng có được.

Leverage / Phương Pháp Đòn Bẩy

Phương pháp đòn bẩy (leverage), theo thuật ngữ tài chính, có nghĩa là việc sử dụng một số tiền nhỏ để thực hiện một khoản đầu tư có giá trị lớn hơn rất nhiều. Bạn có thể mua một hợp đồng tương lai (futures contract) trị giá hàng nghìn đô la với khoản đầu tư ban đầu chỉ bằng 10% tổng trị giá hợp đồng. Ví dụ, nếu bạn mua một hợp đồng vàng trị giá 35.000$ (khi 1 ounce vàng bằng 350$) bạn có thể chỉ cần bỏ ra 3.500$. Đó chính là một sự đảm bảo tốt cho bạn và sẽ tạo cho bạn một lực bẩy hơn 100 ounce (oz.) vàng. Với một hàng hoá có giá dao động bất ổn như vàng, dao động giá khoảng 100$ trong suốt thời hạn của hợp đồng là hoàn toàn có thể xảy ra. Vì vậy, nếu giá tăng 100$, tức là lên đến 450$ một ounce, giá trị đầu tư của bạn có thể lên đến 10.000$ - gần như đạt mức lãi 300% so với đầu tư gốc 3.500$ của bạn. Mỗi lần giá một ounce vàng tăng lên 10 cent thì giá trị hợp đồng sẽ tăng lên 10$. Tuy vậy, đương nhiên là điều ngược lại cũng có thể xảy ra. Nếu giá giảm và giá trị đầu tưcủa bạn cũng sụt xuống 300%, việc này có thể lấy mất hơn 10.000$ của bạn -- đôi khi còn nhiều hơn -- để thực hiện đúng cam kết của hợp đồng khi bạn bị lỗ. Vì vậy, mặc dù đòn bẩy khiến cho việc cam kết lúc ban đầu có vẻ thuận lợi nhưng những diễn biến có thể xảy ra trong quá trình đầu tư phái sinh này có thể gây ra cho bạn những khoản thua lỗ lớn.

Leverage / Đầu Cơ Vay Nợ

Đầu cơ vay nợ là việc một công ty sử dụng tài sản đi vay để tăng lợi suất trên vốn cổ phần của các cổ đông, với hy vọng lãi suất phải chịu sẽ thấp hơn lợi nhuận trên số tiền đi vay. Từ Leverage có nghĩa gốc là "đòn bẩy", trong tài chính nó có nghĩa là đầu cơ vay nợ-phương thức bỏ ra một khoản chi phí nhỏ nhằm tạo ra khoản thu nhập lớn hơn. Khi các công ty cần vốn gấp đúng lúc thời cơ kinh doanh đã đến, họ sẽ sử dụng phương thức đầu cơ vay nợ, vay tiền từ ngân hàng hay các định chế tài chính khác. Nếu nắm bắt được cơ hội kinh doanh thì công ty có thể tạo ra tỷ suất lợi nhuận trên vốn cổ phần cao hơn sau khi đã trừ đi chi phí đi vay (sau khi đã trả lãi suất). Tuy nhiên muốn đầu cơ vay nợ thành công, công ty phải dự đoán tương đối chính xác mức lợi nhuận thu được trong tương lai, ít nhất phải đảm bảo lớn hơn lãi suất đi vay.  Ở Mỹ, thuật ngữ đầu cơ vay nợ dùng để chỉ hình thức mua cổ phiếu có trả trước tiền bảo chứng. Người Mỹ thường mua chịu nhiều thứ và cổ phiếu không phải là trường hợp ngoại lệ. Các nhà đầu tư có đủ khả năng mua “có trả trước tiền bảo chứng”, tức là mua cổ phiếu bằng cách thanh toán ngay 50% và nợ người môi giới phần còn lại. Nếu giá cổ phiếu mua theo hình thức này tăng, nhà đầu tư đó có thể bán cổ phiếu rồi thanh toán cho người môi giới khoản nợ này cộng với lãi suất và tiền hoa hồng, số còn lại là lợi nhuận. Tuy nhiên, nếu giá cổ phiếu giảm, người môi giới đưa ra thông báo “bổ sung tiền bảo chứng”, buộc nhà đầu tư phải trả thêm tiền vào tài khoản của họ sao cho số tiền cho vay của họ không vượt quá một nửa giá trị cổ phiếu (để tránh trường hợp nếu nhà đầu tư không trả được tiền vay nợ thì người môi giới còn nắm một nửa giá trị cổ phiếu lớn hơn tiền cho vay). Nếu chủ sở hữu cổ phiếu không có tiền mặt, người môi giới có thể bán đi một phần cổ phiếu đó - với thiệt hại gây ra cho nhà đầu tư - để bù đắp cho số nợ trên. Mua cổ phiếu có trả trước tiền bảo chứng mang bản chất là một hình thức mua bán đầu cơ vay nợ. Khi nhà đầu tư mua cổ phiếu không thanh toán hết tiền tức là họ vay nợ, và mong chờ vào đó một khoản thu nhập từ cổ phiếu cao hơn lãi suất và hoa hồng phải trả cho người môi giới. Nó tạo cho các nhà đầu cơ - là người mua bán sẵn sàng mạo hiểm đánh bạc với những tình huống rủi ro cao - cơ hội để mua nhiều cổ phần hơn hoặc thu nhập cao hơn. Nếu quyết định đầu tư của họ là đúng đắn thì các nhà đầu cơ thu được lợi nhuận rất lớn, nhưng nếu họ đánh giá sai thị trường thì họ có thể bị thua lỗ rất nặng.

Bond Futures / Giao Sau Trái Phiếu

Giao sau trái phiếu là một nghĩa vụ theo hợp đồng đối với người nắm giữ hợp đồng hoặc là bán một trái phiếu vào một ngày xác định tại một mức giá đã được quyết định trước. Giao sau trái phiếu có thể được mua trên thị trường giao sau và giá cả cũng như ngày giao dịch được quyết định tại thời điểm hợp đồng giao sau được mua.Các hợp đồng giao sau trái phiếu đã được tiêu chuẩn hóa, và được theo dõi bởi các đại diện điều chỉnh thị trường nhằm đảm bảo sự công bằng và nhất quán. Tuy nhiên, dạng phái sinh này có thể rất rủi ro bởi vì nó liên quan đến giao dịch tại một thời điểm trong tương lai chỉ với thông tin hiện tại. Rủi ro tiềm ẩn là rất lớn, cho cả người bán lẫn người mua trái phiếu giao sau bởi vì giá của tài sản cơ sở (trái phiếu) có thể thay đổi một cách nhanh chóng giữa ngày thực hiện và hợp đồng ban đầu.

Giao sau trái phiếu là một nghĩa vụ theo hợp đồng đối với người nắm giữ hợp đồng hoặc là bán một trái phiếu vào một ngày xác định tại một mức giá đã được quyết định trước. Giao sau trái phiếu có thể được mua trên thị trường giao sau và giá cả cũng như ngày giao dịch được quyết định tại thời điểm hợp đồng giao sau được mua. Các hợp đồng giao sau trái phiếu đã được tiêu chuẩn hóa, và được theo dõi bởi các đại diện điều chỉnh thị trường nhằm đảm bảo sự công bằng và nhất quán. Tuy nhiên, dạng phái sinh này có thể rất rủi ro bởi vì nó liên quan đến giao dịch tại một thời điểm trong tương lai chỉ với thông tin hiện tại. Rủi ro tiềm ẩn là rất lớn, cho cả người bán lẫn người mua trái phiếu giao sau bởi vì giá của tài sản cơ sở (trái phiếu) có thể thay đổi một cách nhanh chóng giữa ngày thực hiện và hợp đồng ban đầu.

Intangible Asset / Tài Sản Vô Hình

Tài sản vô hình là tài sản không có hình thái vật chất cụ thể. Ngày nay quyền sở hữu trí tuệ, thương hiệu, bản quyền, bí quyết kĩ thuật, thương hiệu, uy tín... là những tài sản vô hình phổ biến của doanh nghiệp. Có thể phân biệt được một cách rõ ràng một tài sản cố định vô hình của doanh nghiệp hay không thì phụ thuộc vào các đặc tính của tài sản đó. Uy tín của công ty có thể coi là một tài sản không xác định vì nó luôn gắn liền với sự tồn tại của công ty chừng nào công ty còn tồn tại. Tuy nhiên nếu công ty kí kết hợp đồng sử dụng bằng phát minh sáng chế của một công ty khác và không có ý định kéo dài hiệu lực của hợp đồng thì công ty chỉ được sử dụng bằng phát minh sáng chế này trong một thời hạn xác định. Khi đó bằng phát minh sáng chế trở thành một tài sản vô hình của công ty. Mặc dù tài sản vô hình không có hình thái vật chất cụ thể như các trang thiết bị máy móc nhà xưởng khác của công ty nhưng nó lại rất có giá trị đối với công ty và có thể trở thành nhân tố quan trọng trong sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp. Ví dụ một công ty như Coca-Cola khó có thể đạt được vị trí như hiện tại nếu không có sự hỗ trợ tích cực của các nhãn hiệu. Nhãn hiệu này dù không có hình thái vật chất cụ thể để có thể cầm nắm được song nó lại được thừa nhận, được nhiều người biết đến, và có tác động tích cực đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp, làm tăng doanh số bán hàng trên phạm vi toàn cầu. Chính vì thế việc sở hữu một nhãn hiệu mạnh là điều rất có ý nghĩa đối với các công ty lớn như Coca-Cola.

Insurance; Assurance / Bảo Hiểm

Có thể tham khảo các định nghĩa sau về bảo hiểm: Theo Dennis Kessler: Bảo hiểm là sự đóng góp của số đông vào sự bất hạnh của số ít. Theo Monique Gaullier: Bảo hiểm là một nghiệp vụ qua đó, một bên là người được bảo hiểm cam đoan trả một khoản tiền gọi là phí bảo hiểm thực hiện mong muốn để cho mình hoặc để cho người thứ ba trong trường hợp xảy ra rủi ro sẽ nhận được một khoản đền bù các tổn thất được trả bởi một bên khác: đó là người bảo hiểm. Người bảo hiểm nhận trách nhiệm đối với toàn bộ rủi ro và đền bù các thiệt hại theo các phương pháp của thống kê. Tập đoàn bảo hiểm AIG của Mỹ định nghĩa: Bảo hiểm là một cơ chế, theo cơ chế này, một người, một doanh nghiệp hay một tổ chức chuyển nhượng rủi ro cho công ty bảo hiểm, công ty đó sẽ bồi thường cho người được bảo hiểm các tổn thất thuộc phạm vi bảo hiểm và phân chia giá trị thiệt hại giữa tất cả những người được bảo hiểm. Luật Kinh doanh bảo hiểm của Việt Nam (2000): Kinh doanh bảo hiểm là hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm nhằm mục đích sinh lợi, theo đó doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận rủi ro của người được bảo hiểm, trên cơ sở bên mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm để doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm. Bản chất của bảo hiểm: Là việc phân chia tổn thất của một hoặc một số người cho tất cả những người tham gia bảo hiểm cùng chịu. Bảo hiểm hoạt động dựa trên Quy luật số đông (the law of large numbers). Các nguyên tắc cơ bản của bảo hiểm 1. Nguyên tắc chỉ bảo hiểm sự rủi ro, không bảo hiểm sự chắc chắn (Fortuity not certainty): Chỉ bảo hiểm một rủi ro xảy ra bất ngờ, ngẫu nhiên, ngoài ý muốn của con người chứ không bảo hiểm một cái chắc chắn xảy ra. 2. Nguyên tắc trung thực tuyệt đối (utmost good faith): Tất cả các giao dịch kinh doanh cần được thực hiện trên cơ sở tin cậy lẫn nhau, trung thực tuyệt đối. Cả người được bảo hiểm và người bảo hiểm đều phải trung thực trong tất cả các vấn đề. 3. Nguyên tắc quyền lợi có thể được bảo hiểm (insurable interest): Quyền lợi có thể được bảo hiểm là lợi ích hoặc quyền lợi liên quan đến, gắn liền với, hay phụ thuộc vào sự an toàn hay không an toàn của đối tượng bảo hiểm. Nguyên tắc này chỉ ra rằng người được bảo hiểm muốn mua bảo hiểm phải có lợi ích bảo hiểm. Quyền lợi có thể được bảo hiểm có thể là quyền lợi đã có hoặc sẽ có trong đối tượng bảo hiểm. 4. Nguyên tắc bồi thường (indemnity): Theo nguyên tắc bồi thường, khi có tổn thất xảy ra, người bảo hiểm phải bồi thường như thế nào đó để đảm bảo cho người được bảo hiểm có vị trí tái chính như trước khi có tổn thất xảy ra, không hơn không kém. Các bên không được lợi dụng bảo hiểm để trục lợi. 5. Nguyên tắc thế quyền (subrobgation): Theo nguyên tắc thế quyề, người bảo hiểm sau khi bồi thường cho người được bảo hiểm, có quyền thay mặt người được bảo hiểm để đòi người thứ ba trách nhiệm bồi thường cho mình.

Level-Premium Policy / Bảo Hiểm Có Mức Phí Cố Định

Đây là thuật ngữ có liên quan tới bảo hiểm nhân thọ có kì hạn trong đó tổng mức phí chi trả cho bảo hiểm không thay đổi trong suốt thời hạn của hợp đồng. Tiền phí bảo hiểm chi trả vào thời gian đầu của hợp đồng thường cao hơn phí trả vào thời điểm gần kết thúc hợp đồng. Thuật ngữ này có liên quan đến bảo hiểm nhân thọ có kì hạn có nghĩa là nó chỉ có hiệu lực bảo hiểm trong một khoảng thời gian nhất định và chỉ chi trả trong trường hợp người được bảo hiểm bị chết, ngoài ra không được bảo hiểm thêm khoản nào khác. Do đó khi lựa chọn bảo hiểm phân mức, bạn cần xem xét kĩ  khoảng thời gian vảo hiểm bao lâu là phù hợp với nhu cầu của bạn. Ví dụ nếu con cái của bạn còn nhỏ và nhu cầu chính của bạn là có khoản tiền bồi thường sau khi mất cho con cái của bạn thì khoảng thời gian 20 năm là hợp lý. Tuy nhiên nếu như con cái của bạn đã tương đối trưởng thành thì bạn chỉ cần mua loại có thời hạn 10 năm. Nếu bạn có ý định mua loại  bảo hiểm này thì có một điều rất quan trọng đó là bạn xem mức phí bảo hiểm có được đảm bảo hay không. Trong một vài trường hợp công ty bảo hiểm vẫn có thể sẽ tăng mức phí bảo hiểm và bạn sẽ phải trả mức phí cao hơn trong suốt thời gian bảo hiểm còn lại.

Diseretionary Account / Tài Khoản Tùy Nghi

Đây là loại tài khoản mà chủ tài khoản tức khách hàng cho phép công ty chứng khoán được mua và bán chứng khoán tùy ý lựa chọn với giá cả và thời điểm mà công ty cho là thích hợp. Công ty chứng khoán không bị bắt buộc hỏi ý kiến khách hàng mà phân tích dựa trên sự hiểu biết về khách hàng này, tình hình thị trường cũng như một số vấn đề khác để đi tới quyết định thực hiện giao dịch. Tuy nhiên trước khi trao cho công ty chứng khoán quyền tự quyết, khách hàng phải cân nhắc thật kỹ lưỡng. Việc việc ủy quyền cho công ty chứng khoán phải được ghi thành văn bản, có chữ ký xác nhận của chủ tài khoản và được lưu trữ tại công ty chứng khoán. Trong văn bản này phải ghi rõ quyền hạn của người được ủy quyền là vô hạn hoặc có giới hạn. Ngoài ra, bản thỏa thuận còn quy định rõ loại chứng khoán nào mà công ty chứng khoán được phép mua, bán... Tất cả những quy định trên nhằm bảo vệ quyền lợi của khách hàng và công ty chứng khoán, cũng như tránh những tranh chấp có thể xảy ra sau này.

Capitalization Rates / Tỷ Lệ Vốn Hoá

Một khái niệm liên quan đến tỷ trọng của mỗi loại cổ phiếu hay vốn nợ trong một công ty so với tổng VỐN CỔ PHẦN trên thị trường của nó.

Insurance Standby / Tín Dụng Dự Phòng

Là loại thư tín dụng dự phòng bảo đảm nghĩa vụ bảo hiểm, hoặc tái bảo hiểm của người xin phát hành thư tín dụng. Đây là cam kết của ngân hàng phát hành sẽ thanh toán khoản tiền phí bảo hiểm nếu như người yêu cầu mở thư tín dụng dự phòng không nộp phí bảo hiểm, hoặc tái bảo hiểm đúng hạn. Nhờ vào loại hình thư tín dụng dự phòng này, người yêu cầu mở thư tín dụng dự phòng có thể sử dụng nguồn vốn này vào kinh doanh. Điều đó sẽ có ý nghĩa lớn nếu khoản phí bảo hiểm lớn. (Trong các hợp đồng thương mại quốc tế, phí bảo hiểm chiếm tới 10 % giá trị.)

Level Of Significance / Mức Ý Nghĩa

Một khái niệm sử dụng trong kiểm định giả thuyết để xác định các giá trị tới hạn nhằm so sánh thống kê kiểm định với chúng.

Letter Of Guarantee (L/G) / Phương Thức Bảo Lãnh

Phương thức bảo lãnh là bất cứ một sự bảo lãnh, một sự cam kết hay bất cứ một sự cam kết thanh toán nào của trung gian tài chính hoặc của pháp nhân hay thể nhân bằng văn bản là sẽ bồi thường một số tiền nhất định, nếu đến hạn mà người được bảo lãnh không hoàn thành nghĩa vụ như quy định trên thư bảo lãnh.Các bên tham gia bảo lãnh gồm: Người bảo lãnh (Guarantor): là người phát hành thư bảo lãnh cam kết bồi thường cho người hưởng lợi nếu đến hạn mà người được bảo lãnh không hoàn thành nghĩa vụ quy định trên L/G. Người được bảo lãnh (Principal): là những người yêu cầu phát hành L/G như người xuất khẩu, người vay nợ yêu cầu người bảo lãnh phát hành thư bảo lãnh tín dụng, người dự thầu yêu cầu người bảo lãnh phát hành thư bảo lãnh dự thầu. Người thụ hưởng bảo lãnh: là người nhận bảo lãnh.

Sách Combo 4 Cuốn : Tư Duy Ngược + Tư Duy Mở + Biến Mọi Thứ Thành Tiền Chuột không dây Ugreen M751 với con lăn vô cực Máy chơi game retro Powkiddy X55