Office Of Fair Trading / Văn Phòng Thương Mại Công Bằng
Là một cơ quan chính phủ của Anh, đứng đầu là một tổng giám đốc về thương mại công bằng, chịu trách nhiệm thực thi một loạt chức năng khác nhau về chống độc quyền.
Earning / Thu Nhập
Cụm thuật ngữ được sử dụng theo hai cách: một để miêu tả phần lợi tức đối với nỗ lực của con người, thù lao cho đầu vào của yếu tố lao động sản xuất và nghĩa thứ hai để miêu tả thu nhập của một doanh nghiệp.
Closed Economy / Nền Kinh Tế Đóng
Khái niệm sử dụng chủ yếu trong các mô hình lý thuyết để chỉ một nền kinh tế không có quan hệ ngoại thương mà hoàn toàn tự túc và tách biệt với các tác nhân bên ngoài.
Early Bird / Đặt Sớm
Early bird là một khái niệm kinh doanh ngày nay đã phổ biến. Rất nhiều dịch vụ có khả năng cung cấp hạn chế thường đưa ra điều khoản gọi là "on a first-come first-served basis" nghĩa là ai tới trước phục vụ trước. Đây cũng là một nguyên tắc ưu tiên khớp lệnh của giao dịch chứng khoán. Tuy nhiên, các hãng kinh doanh cũng thường lựa chọn giảm giá cho các khách hàng tới trước tiên, và họ gọi đó là early bird. Phương thức này đặc biệt có giá trị với các ngành hàng có hệ thống đặt chỗ, đặt dịch vụ quy mô rất lớn, hay mua bán toàn cầu hàng hóa tiêu dùng giá trị nhỏ, ví dụ đặt vé máy bay toàn cầu, đặt chỗ khách sạn toàn hệ thống của một chuỗi lớn (Accor hay BestWestern). Nguyên nhân của giảm giá cho early bird là hãng kinh doanh sẽ giảm bớt được rất nhiều chi phí liên quan tới việc cung cấp chăm sóc, theo dõi... vốn là những công đoạn tốn kém sức người (dẫn tới chi phí cao), cho tới khi thu được tiền. Sau đây là một đoạn ví dụ của chính sách "early bird" mà tôi nhận được qua email: "Please note that we will limit the number participants to 25. Also, please note that a reduced early-bird fee applies to those who register and pay the first instalment until Tuesday, 30 September." Đây là việc bán vé cho hội nghị mà phía tổ chức mời mọc đăng ký sớm.
Clone / Clone
Ngày ngày duyệt web, chắc chắn ta bắt gặp rất nhiều cụm từ như Google clone, Facebook clone, Linkedin clone... Do khó tìm được từ tương đương trong tiếng Việt nên khi dịch tôi xin được giữ nguyên từ clone. Clone nghĩa tiếng Anh là dòng vô tính, hệ vô tính, nhưng khi được dùng cho một trang web, nó ám chỉ một trang bắt chước toàn bộ hay một số đặc tính quan trọng của trang web đó. Ví dụ, khi nói Facebook clone, ta nói đến một trang web mạng xã hội mang các đặc tính của Facebook.Trang được bắt chước phải là trang lớn nhất tính theo số người sử dụng hay lượt truy cập và thường là trang ra đời sớm nhất. Ở Việt Nam đa số các trang web 2.0 đều là clone của một mô hình đã thành công ở nước ngoài. Ví dụ, CyVee là clone của Linkedin, Zing search, Monava là clone của Google, clip.vn, blog.com.vn là clone của YouTube,...
Official Development Assistance / ODA / Hỗ Trợ Phát Triển Chính Thức
Official Development Assistance - ODA là các khoản viện trợ chính thức được giám sát với mục đích thúc đẩy sự phát triển của kinh tế và phúc lợi xã hội cho các nước đang phát triển, trong đó có các điều khoản hỗ trợ không hoàn lại ít nhất là 25% tổng giá trị cho vay. Theo hiệp ước, các khoản ODA bao gồm các quyên góp của cơ quan chính phủ ở tất cả các cấp dành cho các nước phát triển và cho các tổ chức. ODA chính là khoản vay hay viện trợ ròng với các điều khoản nhân nhượng của các cơ quan chính thức, thuộc các quốc gia thành viên của tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) Nói cách khác, ODA phải bao gồm các yếu tố sau: Được cho vay bởi các khu vực "chính thức" như nhà nước, chính phủ Với mục đích đẩy mạnh sự phát triển của kinh tế và phúc lợi xã hội là chính Có điều khoản nhượng bộ tức là tặng không ít nhất là 25% giá trị cho vay. Cho đến nay Mỹ là nước hộ trợ ODA nhiều nhất cho các nước khác, đứng thứ 2 là Nhật, thứ 3 là Pháp, thứ 4 là Anh, sau đó là Đức, Hà Lan, Thụy Điển. Ưu điểm của ODA Lãi suất thấp (dưới 3%, trung bình từ 1-2%/năm) Thời gian cho vay cũng như thời gian ân hạn dài (25-40 năm mới phải hoàn trả và thời gian ân hạn 8-10 năm) Trong nguồn vốn ODA luôn có một phần viện trợ không hoàn lại, thấp nhất là 25% của tổng số vốn ODA. Bất lợi khi nhận ODA Các nước giàu khi viện trợ ODA đều gắn với những lợi ích và chiến lược như mở rộng thị trường, mở rộng hợp tác có lợi cho họ, đảm bảo mục tiêu về an ninh - quốc phòng hoặc theo đuổi mục tiêu chính trị... Vì vậy, họ đều có chính sách riêng hướng vào một số lĩnh vực mà họ quan tâm hay họ có lợi thế (những mục tiêu ưu tiên này thay đổi cùng với tình hình phát triển kinh tế - chính trị - xã hội trong nước, khu vực và trên thế giới). Ví dụ: Về kinh tế, nước tiếp nhận ODA phải chấp nhận dỡ bỏ dần hàng rào thuế quan bảo hộ các ngành công nghiệp non trẻ và bảng thuế xuất nhập khẩu hàng hoá của nước tài trợ. Nước tiếp nhận ODA cũng được yêu cầu từng bước mở cửa thị trường bảo hộ cho những danh mục hàng hoá mới của nước tài trợ; yêu cầu có những ưu đãi đối với các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài như cho phép họ đầu tư vào những lĩnh vực hạn chế, có khả năng sinh lời cao Nguồn vốn ODA từ các nước giàu cung cấp cho các nước nghèo cũng thường gắn với việc mua các sản phẩm từ các nước này mà không hoàn toàn phù hợp, thậm chí là không cần thiết đối với các nước nghèo. Ví như các dự án ODA trong lĩnh vực đào tạo, lập dự án và tư vấn kỹ thuật, phần trả cho các chuyên gia nước ngoài thường chiếm đến hơn 90% (bên nước tài trợ ODA thường yêu cầu trả lương cho các chuyên gia, cố vấn dự án của họ quá cao so với chi phí thực tế cần thuê chuyên gia như vậy trên thị trường lao động thế giới). Nguồn vốn viện trợ ODA còn được gắn với các điều khoản mậu dịch đặc biệt nhập khẩu tối đa các sản phẩm của họ. Cụ thể là nước cấp ODA buộc nước tiếp nhận ODA phải chấp nhận một khoản ODA là hàng hoá, dịch vụ do họ sản xuất. Nước tiếp nhận ODA tuy có toàn quyền quản lý sử dụng ODA nhưng thông thường, các danh mục dự án ODA cũng phải có sự thoả thuận, đồng ý của nước viện trợ, dù không trực tiếp điều hành dự án nhưng họ có thể tham gia gián tiếp dưới hình thức nhà thầu hoặc hỗ trợ chuyên gia. Tác động của yếu tố tỷ giá hối đoái có thể làm cho giá trị vốn ODA phải hoàn lại tăng lên. Ngoài ra, tình trạng thất thoát, lãng phí; xây dựng chiến lược, quy hoạch thu hút và sử dụng vốn ODA vào các lĩnh vực chưa hợp lý; trình độ quản lý thấp, thiếu kinh nghiệm trong quá trình tiếp nhận cũng như xử lý, điều hành dự án… khiến cho hiệu quả và chất lượng các công trình đầu tư bằng nguồn vốn này còn thấp... có thể đẩy nước tiếp nhận ODA vào tình trạng nợ nần.
E Bond / Trái Phiếu E
Thuộc loại trái phiếu tiết kiệm. Trái phiếu E được chính phủ Mỹ phát hành và bán từ tháng 5 năm 1941 đến tháng 6 năm 1980.
Clearing House / Phòng Thanh Toán Bù Trừ
Một địa danh của London mà các ngân hàng thanh toán bù trừ London, Ngân hàng Anh và ở Edinburgh, ngân hàng cổ phần Scotland tiến hành thanh toán bù trừ séc và các khiếu nợ khác với nhau. “Thanh toán bù trừ” là một nghiệp vụ, theo đó, một nhóm các ngân hàng (hay bất cứ nhóm giao dịch nào về vấn đề này) giữ séc, hối phiếu hay các chứng từ đòi trả của nhau, khi đưa chúng vào thanh toán sẽ cùng tham gia vào một quá trình bù trừ những yêu cầu trả này của nhau. Việc này dẫn đến mỗi ngân hàng sẽ trở thành con nợ ròng hoặc chủ nợ ròng và sẽ thanh toán qua tổ chức thanh toán bù trừ bằng cách chuyển số dư tới Ngân hàng Trung ương. Năm 1975, ngân hàng ủy thác tiết kiện trung ương cùng với ngân hàng hợp tác xã và năm 1983, Ngân hàng Giro Quốc gia được công nhận là thành viên của Phòng thanh toán bù trừ London. Ở Scotland, cùng với sự củng cố hệ thống ngân hàng thành ba ngân hàng, việc thanh toán tập trung séc bị ngừng làm cho việc mỗi ngân hàng trình séc một cách riêng biệt tới ngân hàng khác trở nên thuận lợi. Năm 1969, ở London, Hệ thống thanh toán bù trừ tự động của các ngân hàng (BACS) được thành lập để giải quyết bằng điện tử việc thanh toán bù trừ các khoản thường lệ như chuyển nhượng tín dụng hay khấu nợ trực tiếp. Năm 1984, Hệ thống thanh toán tự động của Phòng thanh toán bù trừ (CHAPS) được đưa vào hoạt động nhằm cung cấp một hệ thống quốc gia về thanh toán bù trừ cùng ngày đối với các khoản giá trị lớn. Sau đó vào tháng 12 năm 1985, một tổ chức tầm quốc gia mới là hiệp hội các Hệ thống thanh toán bù trừ chi trả ra đời nhằm giám sát ba công ty tiến hành theo thứ tự việc thanh toán thương phiếu lượng lớn (séc), thanh toán cùng ngày và thanh toán điện tử các chi trả thường lệ. Cùng với sự tăng lên các hệ thống chi trả bằng điện tử, vai trò của phòng thanh toán bù trừ truyền thông ở Anh đã bị giảm sút về tầm quan trọng tương đối, mặc dù nó vẫn tiếp tục hoạt động như một điểm hẹn cho việc bù trừ thanh toán séc.
Clearing Broker / Môi Giới Thanh Toán Bù Trừ
Nhà môi giới thanh toán bù trừ là người chuyên nhận trách nhiệm làm trung gian cho các giao dịch giữa một nhà đầu tư và công ty thanh toán bù trừ. Như với bất kỳ người môi giới nào khác, một nhà môi giớit hanh toán bù trừ sẽ đảm giao dịch hoàn thành một cách công bằng cho cả hai bên. Nhà môi giới thanh toán bù trừ cũng sẵn sàng cung cấp cho nhà đầu tư, công ty thanh toán bù trừ bất kỳ thông tin nào mà họ có thể yêu cầu, liên quan đến giao dịch.
Clearing Banks / Các Ngân Hàng Thanh Toán Bù Trừ
Ở Anh, cụm thuật ngữ này dùng để chỉ các NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI theo truyền thống điều hành và có thể tiếp cận với một PHÒNG THANH TOÁN BÙ TRỪ hay các cơ quan tương đương với mục đích thanh toán bù trừ các tờ SÉC của nhau.
Clearing / Bù Trừ Chứng Khoán Và Tiền
Nếu đăng ký và lưu ký chứng khoán là khâu hỗ trợ trước giao dịch chứng khoán, thì bù trừ chứng khoán và tiền là khâu hỗ trợ sau giao dịch chứng khoán. Sau khi chứng khoán niêm yết đã được đưa vào đăng ký, lưu ký tập trung tại Trung tâm lưu ký chứng khoán, chúng sẽ được phép giao dịch trên Thị trường chứng khoán. Tuy nhiên, sau khi giao dịch được thực hiện (đã được xác nhận), thì các bên tham gia giao dịch cần phải nhận được tài sản của mình: bên bán nhận được tiền, bên mua nhận được chứng khoán. Bù trừ chứng khoán và tiền thực hiện việc xử lý thông tin về các giao dịch chứng khoán, tính toán lại nhằm xác định số tiền và chứng khoán ròng cuối cùng mà các đối tác tham gia giao dịch phải có nghĩa vụ thanh toán sau khi giao dịch được thực hiện. Hoạt động bù trừ trên thị trường chứng khoán về cơ bản cũng tương tự như hoạt động bù trừ của các ngân hàng thương mại. Kết quả bù trừ tiền luôn thể hiện nghĩa vụ thanh toán một chiều đối với một thành viên lưu ký: hoặc được nhận tiền, nếu tổng số tiền phải trả nhỏ hơn tổng số tiền được nhận; hoặc phải trả tiền nếu tổng số tiền phải trả lớn hơn tổng số tiền được nhận. Điểm khác nhau so với thanh toán bù trừ của các ngân hàng là bù trừ cho các giao dịch chứng khoán không chỉ liên quan đến mảng tiền mà còn liên quan đến mảng chứng khoán nữa. Việc bù trừ chứng khoán cũng mang đặc thù riêng là phải được thực hiện theo từng loại chứng khoán do không thể bù trừ các loại chứng khoán khác nhau với nhau. Do đó, đối với cùng một loại chứng khoán nhất định, kết quả bù trừ chứng khoán cũng sẽ chỉ ra nghĩa vụ thanh toán một chiều của từng thành viên lưu ký: hoặc phải giao loại chứng khoán đó nếu số lượng chứng khoán khách hàng đặt mua ít hơn số lượng khách hàng đặt bán, hoặc được nhận về loại chứng khoán đó nếu số lượng chứng khoán khách hàng đặt mua nhiều hơn số lượng khách hàng đặt bán. Trong hoạt động bù trừ, phương thức bù trừ cũng là một vấn đề cần quan tâm. Phương thức bù trừ cho các giao dịch chứng khoán được quyết định bởi phương thức giao dịch trên Thị trường chứng khoán. Nếu phương thức giao dịch là đa phương (nhiều bên mua với nhiều bên bán), điển hình có thể thấy là đối với các giao dịch khớp lệnh cổ phiếu, thì phương thức bù trừ chứng khoán và tiền sẽ là bù trừ đa phương. Nếu phương thức giao dịch là song phương (một bên mua với một bên bán), điển hình có thể thấy là đối với cácgiao dịch thỏa thuận, thì phương thức bù trừ cũng sẽ là bù trừ song phương. Tuy nhiên để có hệ thống bù trừ chứng khoán và tiền chính xác các Trung tâm giao dịch chứng khoán phải tin học hóa hoàn toàn các giao dịch chứng khoán, đó là một trong các biện pháp hiệu quả, khắc phục sự chậm trễ trong quá trình xử lý các giao dịch bằng giấy còn phổ biến hiện nay. Ví dụ như việc sử dụng cơ chế CSD (trung tâm ký thác chứng khoán) để vận hành hệ thống nhập sổ chứng khoán và tiền mặt. Biện pháp CSD được coi là công cụ lý tưởng để nhằm giảm thiểu quá trình vận chuyển các chứng khoán giấy là bởi việc nhập sổ đã đảm bảo được sự thu hồi và phi vật thể hoá của chứng khoán.
Offer For Sale / Chào Bán
Đây là phương thức tiến hành một đợt phát hành chứng khoán mới, theo đó chứng khoán được một nhà phát hành mua lại từ người phát hành, sau đó được chào bán ra công chúng. Theo Luật công ty của Anh và theo những yêu cầu của sở giao dịch (theo đó cần có sự niêm yết giá trên sở giao dịch chứng khoán), sự chào bán phải được thực hiện dưới hình thức một quảng cáo được in trên ít nhất hai tờ báo hàng ngày.
Clearing / Thanh Toán Bù Trừ
Thanh toán bù trừ là một phương thức thanh toán trong ngoại thương, trong đó tiền hàng không được thanh toán trực tiếp và ngay giữa người bán và người mua mà được ghi vào một tài khoản được gọi là tài khoản Clearing, đến cuối kỳ tiến hành bù trừ giữa tài khoản của hai bên. Cụ thể là, tài khoản Clearing được chia làm hai bên, bên Nợ và bên Có, thường là trong một năm xuất hiện nhiều thương vụ giữa bên A và bên B, khi bên A mua của bên B một lô hàng thì trị giá hàng sẽ được ghi vào bên Có của tài khoản bên A và Nợ vào tài khoản bên B, còn nếu bên B mua của bên A một lô hàng thì trị giá sẽ được ghi vào bên Có của tài khoản B và ghi vào bên Nợ của tài khoản A. Đến cuối năm sẽ tiến hành bù trừ giữa bên Có và Nợ của hai tài khoản, và theo nguyên tắc số liệu cuối cùng ở hai tài khoản phải trùng khớp nhau. Khi đó nếu tài khoản A có số dư bên Có, tức là tài khoản B sẽ có số dư bên Nợ, và số dư đó chính là số tiền mà bên B phải thanh toán cho bên A. Ngược lại, nếu tài khoản B có số dư bên Có, tức là tài khoản A có số dư bên Nợ, lúc đó số dư đó chính là khoản tiền mà bên A phải trả cho bên B. Tiền tệ được sử dụng trong thanh toán bù trừ là đồng tiền clearing tức là đồng tiền không được chuyển đổi ra bất kỳ đồng tiền nào khác, không được chuyển khoản sang các tài khoản khác, bên nào dư nợ sẽ phải trả bằng ngoại tệ tự do hoặc chuyển sang tài khoản vay nợ năm sau hoặc trả nợ bằng hàng hóa, dịch vụ theo yêu cầu của nước chủ nợ. Tùy theo sự thỏa thuận của hai bên, tiền tệ clearing có thể được lựa chọn là tiền tệ của một trong hai nước của hai bên hoặc tiền tệ của nước thứ ba. Với phương thức thanh toán này có thể qui định cả hai bên phải mở tài khoản hoặc chỉ cần một bên mở tài khoản. Thực chất phương thức thanh toán bù trừ được sử dụng nhiều trong Hiệp định mua bán hàng hóa dịch vụ giữa chính phủ hai quốc gia, hoặc giữa hai thương nhân có quan hệ buôn bán thân thiết và hàng năm trao đổi với nhau nhiều loại hàng hóa. Để đơn giản thủ tục thanh toán hai bên sử dụng phương thức thanh toán bù trừ, ví dụ như Hiệp định thương mại và thanh toán clearing Việt Nam và Campuchia những năm 1960 qui định mở tài khoản bằng đồng Bảng Anh, Hiệp định Việt Nam ký với Ấn Độ bằng đồng Rupi Ấn Độ, với Ai Cập bằng đồng Bảng Ai Cập...Với những loại hiệp định như thế này, nước nào mở tài khoản nước đó sẽ có lợi, bởi vì nước không mở tài khoản muốn nhập hàng trước thì phải có số dư Có trên tài khoản nếu không phải xuất hàng trước rồi sau đó mới được phép nhập hàng. Ngược lại, nước mở tài khoản không có số dư Có trên tài khoản vẫn được quyền nhập khẩu. Để giải quyết sự không công bằng này, hiệp định kí kết giữa hai nước phải quy định tín dụng thấu chi cho nước không mở tài khoản clearing. Hiện nay với sự phát triển của hệ thống ngân hàng, đặc biệt việc sử dụng phương thức thanh toán tín dụng chứng từ L/C đã trở thành tập quán, thì phương thức thanh toán bù trừ rất ít được sử dụng.
Offer Curve / Đường Chào Hàng
Là một kỹ thuật đồ thị do EDGEWORTH tạo ra nhằm minh hoạ cho những tác nhân của cầu tương hỗ.
Clearing / Nghiệp Vụ Clearing
Là quy trình nghiệp vụ mà một tổ chức hoạt động như là bên trung gian giữa hai bên giao dịch và ghi nhận vai trò của người mua và người bán trong các giao dịch, cuối cùng tổng kết lại các giao dịch trên cơ sở đã mua và bán. Nghiệp vụ clearing rất quan trọng đối với các giao dịch mua và bán trên thị trường. Nó tạo ra thị trường hiệu quả và thuận lợi cho Thương mại. Mỗi bên giao dịch đều thông qua công ty Clearing sau mỗi giao dịch mà không phải làm việc trực tiếp với nhau. Nghiệp vụ clearing rất phổ biến ở các ngân hàng. Các ngân hàng thành lập ra các Hiệp hội thanh toán với các Trung tâm xử lý thanh toán (clearing house) để giải quyết các khoản nghĩa vụ hoặc lợi nhuận hoặc chênh lệch mà các bên ngân hàng phải trả cho nhau. Người ta nói rằng các Clearing Houses tồn tại ở Florence trước năm 800 sau Công nguyên. Và phát triển ở mức hoàn hảo ở Lyons vào năm 1463. Sau đó phổ biến ở Châu âu vào thế kỷ 18. Hoạt động của các tổ chức như vậy bao gồm các buổi họp mặt thường xuyên với các đại diện của Ngân hàng địa phương để giải quyết các khoản chênh lệch giữa các ngân hàng thành viên. Ở Mỹ, Cán cân thanh toán (nợ hoặc có) của mỗi ngân hàng được xác định sau mỗi cuộc họp thì được thông báo trực tiếp tới Cục dự trữ Liên Bang, theo đó Cục dự trữ sẽ điều chỉnh các tài khoản riêng biệt này.Các cân đối chéo giữa các Bang được thực hiện dựa trên sổ sách kế toán của các ngân hàng thuộc hệ thống Dự trữ Liên Bang qua đường truyền điện tử. Nghiệp vụ clearing cũng được thực hiện đối với các giao dịch Trái phiếu và Cổ phiếu. Ví dụ Tập đoàn The Stock Clearing Corp., bắt đầu hoạt động từ năm 1920, chịu trách nhiệm cho các hoạt động thanh toán giao dịch được thực hiện ở Sàn Giao dịch Chứng khoán New York (NYSE); National Securities Clearing Corp. (1976) giải quyết các giao dịch thanh toán bằng ngoại hối ở NYSE, American Stock Exchange, International Securities Clearing Corp. (1985) và Nasdaq chịu trách nhiệm với các giao dịch ở ngoại quốc. Các nghiệp vụ này ngày nay đều được vi tính hoá. Các yêu cầu giao dịch, hưởng lãi hoặc chênh lệch và các khoản thanh toán quốc tế (gọi chung là claims) được giải quyết bởi các Hiệp hội clearing, các ngân hàng trực thuộc Ngân hàng Trung ương và các tổ chức tài chính lớn khác.
Clean Float / Thả Nổi Tự Do
Điều kiện thị trường trong đó giá trị tiền tệ của một nước trong tương quan tiền tệ với các nước khác, được xác định thuần túy bởi các lực thị trường tự do. Hầu như không có các đồng tiền phương Tây thả nổi tự do, nghĩa là các đồng tiền được hỗ trợ cách này hay cách khác thong qua sự can thiệp của các ngân hàng trung ương. Các đồng tiền được giao dịch với sự can thiệp tối thiểu của ngân hàng trung ương, hay các cơ quan tiền tệ trung ương là đồng franc Thụy Sỹ; đồng Mark Đức, và Dollar Canada. Xem DIRTY FLOAT.
Off-Balance-Sheet Financing / Tài Trợ Vốn Ngoài Bảng
Tài trợ vốn ngoài bảng là một cách thức tài trợ vốn mà theo đó các khoản chi lớn của công ty được để ở ngoài bảng cân đối kế toán thông qua một số phương pháp phân loại sắp xếp tài sản. Các công ty thường sử dụng biện pháp tài trợ vốn ngoài bảng để giữa cho tỉ lệ nợ/vốn cũng như mức độ nhân vốn thấp, đặc biệt trong trường hợp việc xuất hiện một khoản chi lớn trên sổ sách sẽ khiến công ty vi phạm một số điều khoản trong các hợp đồng vay mượn. Ngược với việc sử dụng các khoản vay nợ hay phát hành cổ phần, luôn luôn xuất hiện trên bảng cân đối kế toán thì các khoản tài trợ vốn ngoài bảng luôn được giữ ở ngoài bảng. Vì vậy, các nhà đầu tư, nhà phân tích... khi đọc bảng cân đối kế toán sẽ không thể nào nhận ra những khoản mục này. Các hình thức tài trợ vốn ngoài bảng khá đa dạng, có thể kể đến các hợp đồng liên kết kinh doanh, hợp tác R&D, thuê hoạt động hay biện pháp phát hành chứng khoán bảo đảm bằng thế chấp. Có thể hình dung ra cơ chế của hình thức tài trợ vốn này qua ví dụ về chứng khoán bảo đảm bằng thế chấp: Công ty X đang cần một số vốn để tiến hành dự án mới, họ có một số tài sản cố định giá trị lớn và đang cân nhắc sử dụng chúng để thế chấp. Nếu X thế chấp tài sản đó để vay vốn thì trên bảng cân đối kế toán của công ty chắc chắn số nợ sẽ tăng lên, ảnh hưởng đến các tỷ lệ kế toán của công ty, có thể ảnh hưởng không tốt đến nhà đầu tư. Thay cho cách đó, X có thể thành lập một "đơn vị đặc nhiệm" (có thể dưới hình thức 1 công ty), X kí hợp đồng bán tài sản đó cho đơn vị này. Sau đó, đơn vị này sử dụng khối tài sản đó làm thế chấp để phát hành trái phiếu ra công chúng, huy động vốn cho X. Như vậy, trên thực tế X vẫn có quyền sử dụng tài sản trên, còn khoản nợ trái phiếu lại xuất hiện trên sổ sách của "đơn vị đặc nhiệm" chứ không phải trên sổ sách của X và không ảnh hưởng đến các cân đối nợ/vốn của X. Tài trợ vốn ngoài bảng vừa giúp doanh nghiệp huy động được vốn, đồng thời vẫn duy trì được một bảng cân đối đẹp. Vì vậy, đây là một biện pháp được khá nhiều doanh nghiệp ưa thích.
Off-Balance Sheet Financing / Ngoài Bảng Cân Đối Kế Toán Tài Chính
NGOÀI BẢNG CÂN ĐỐI KẾ TOÁN TÀI CHÍNH là một phương pháp để có được tiền thông qua một hợp đồng thuê không huỷ dài hạn được tính là thuê hoạt động. Việc cho thuê không đáp ứng các tiêu chí của thuê tài chính. Đây là trường hợp, giá trị hiện tại của nghĩa vụ cho thuê không bao gồm trong bảng cân đối kế toán của bên thuê.
Odd-Lot Trading / Giao Dịch Lô Lẻ
Giao dịch lô lẻ là các giao dịch có khối lượng nhỏ hơn một đơn vị giao dịch. Lô lẻ thường phát sinh do việc trả cổ tức bằng cổ phiếu, phát hành cổ phiếu thưởng, tách cổ phiếu hoặc thực hiện quyền mua cổ phiếu v.v... Để đảm bảo tính hiệu quả của thị trường, các Sở giao dịch chứng khoán đều quy định đối với những giao dịch lô lẻ. Các giao dịch này diễn ra trên Sở giao dịch chứng khoán hoặc thị trường OTC thông qua cơ chế giao dịch thương lượng và thỏa thuận giữa nhà đầu tư với công ty chứng khoán.Giá thực hiện trong các giao dịch lô lẻ có thể được xác định trên cơ sở lấy giá giao dịch của loại chứng khoán đó trên Sở giao dịch chứng khoán chiết khấu theo một tỷ lệ thỏa thuận so với thị giá hoặc do Công ty chứng khoán thỏa thuận với khách hàng.Ở Việt Nam, trên HOSC và HASTC, theo quy định của UBCK, giao dịch lô lẻ được áp dụng đối với những giao dịch có số lượng từ 1 đến 9 cổ phiếu (trường hợp lô chẵn 10 cổ phiếu); 1 tới 99 cổ phiếu (trường hợp lô chẵn 100 cổ phiếu) và chỉ có các Công ty chứng khoán mới được thực hiện các giao dịch lô lẻ trực tiếp với khách hàng theo giá thỏa thuận.
Occupational Wages Structure / Cơ Cấu Lương Theo Nghề Nghiệp
Là việc phân hạng những mức lương trung bình trả cho các nhóm công nhân khác nhau được phân loại theo nghề nghiệp mà họ làm.






