Thuật Ngữ Kinh Tế

A B C D E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Z Tất cả

Gold Certificate / Chứng Chỉ Vàng

Là loại chứng chỉ do Bộ Tài chính Mỹ phát hành do các Ngân hàng Dự trữ Liên bang, chứng nhận quyền sở hữu nguồn dự trữ vàng chính thức của Mỹ. Ngoại trừ những chứng chỉ dành cho giáo dục, không có chứng chỉ nào thật sự được phát hành, đây là tín dụng ghi sổ. Khi kho bạc mua vàng và muốn cân bằng số dư dollar, họ sẽ phát hành những chứng chỉ vàng cho Ủy ban Dự trữ Liên bang, được duy trì trong một tài khoản chứng chỉ vàng riêng biệt. Các Ngân hàng Dự trữ Liên bang sẽ dùng những chứng chỉ vàng để giải quyết việc thanh toán giữa các ngân hàng dự trữ, ghi vào sổ sách của tài khoản thanh toán liên khu vực.

Wal-Mart / Tập Đoàn Bán Lẻ Wal-Mart

Walmart là công ty có kỉ lục ba năm liên tiếp dẫn đầu fortune global 500, năm 2007 lại tiếp tục ở vị trí số 1 và còn nhiều năm hơn nữa dẫn đầu các tập đoàn đa quốc gia ở Mỹ, công ty được nhiều người gọi là công ty lớn nhất thế giới. Wal-mart được Sam Walton thành lập năm 1962 (hiện nay chủ tịch hội đồng quản trị của Wal-mart là  S. Robson Walton, con trai lớn nhất của Sam Walton) và bắt đầu được niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán New York năm 1972. Wal-mart là tập đoàn bán lẻ và bán đồ chơi lớn nhất của Mỹ. Ước tính 20% thị phần hàng tiêu dùng và hàng tạp phẩm của Mỹ được bán ra bởi Wal-mart. Các công ty con của Wal-mart cũng có quy mô và thị phần rất lớn ở các nước bao gồm: Walmex ở Mexico, ASDA ở Anh, và The Seiyu Co., ltd ở Nhật Bản. Những công ty 100% vốn của Wal-mart có mặt ở Argentina, Brazil, Canada, Puerto rico, và Anh.   40% hàng hóa bán ra của Wal-mart được người khổng lồ này đặt các công ty chuyên sản xuất làm riêng và dưới nhãn hiệu Wal-mart. Đây là một cách làm rất thông minh của Wal-mart để tạo dựng hình ảnh trong tâm trí khách hàng khi họ nghĩ đến các mặt hàng tiêu dùng hay ý thức về một hãng chuyên bán lẻ. Mỗi tuần có khoảng 100 triệu người đến các trung tâm mua sắm của Wal-mart, hay nói cách khác, 1/3 dân số của Mỹ đi siêu thị Wal-mart mỗi tuần. Và chiến lược dẫn đến thành công của Wal-mart chính là bán hàng giá rẻ, phản ánh đúng slogan của công ty “low prices, always.” các con số thống kê cũng cho thấy rằng, mức thu nhập trung bình của các khách hàng của Wal-mart thấp hơn mức trung bình của dân số Mỹ, và lí do lớn nhất để họ đến với Wal-mart chính là vì giá cả hàng hóa rẻ và đa dạng. Nhưng sang năm 2007, Wal-mart đã có chiến lược toàn diện hơn “không chỉ là giá rẻ,” Wal-mart sẽ phân chia ra thành từng mảng thị phần đó là mảng hàng hóa “dành cho người thu nhập thấp; dành cho người thu nhập cao; và người thu nhập trung bình” để khai thác tốt hơn nguồn doanh thu từ giá và hành vi tiêu dùng của khách hàng. Xếp hạng Wal-mart   Năm Xếp hạng Doanh thu (tr. usd) Lợi nhuận Fortune 500 Fortune global 500 2002 1 1 219 812,0 6 671,0 2003 1 1 246 525,0 8 039,0 2004 1 1 258 681,0 9 054,0 2005 1 1 288 189,0 10 267,0 2006 2 2 315 654,0 11 231,0 2007 1 1 351 139,0 11 284,0   Nguồn: Tổng hợp từ CNN Money qua các năm Walmart và Exxon Mobil liên tục tranh giành nhau danh hiệu thứ nhất trong các bản xếp hạng trong những năm gần đây.

Walmart là công ty có kỉ lục ba năm liên tiếp dẫn đầu fortune global 500, năm 2007 lại tiếp tục ở vị trí số 1 và còn nhiều năm hơn nữa dẫn đầu các tập đoàn đa quốc gia ở Mỹ, công ty được nhiều người gọi là công ty lớn nhất thế giới. Wal-mart được Sam Walton thành lập năm 1962 (hiện nay chủ tịch hội đồng quản trị của Wal-mart là  S. Robson Walton, con trai lớn nhất của Sam Walton) và bắt đầu được niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán New York năm 1972. Wal-mart là tập đoàn bán lẻ và bán đồ chơi lớn nhất của Mỹ. Ước tính 20% thị phần hàng tiêu dùng và hàng tạp phẩm của Mỹ được bán ra bởi Wal-mart. Các công ty con của Wal-mart cũng có quy mô và thị phần rất lớn ở các nước bao gồm: Walmex ở Mexico, ASDA ở Anh, và The Seiyu co., ltd ở Nhật Bản. Những công ty 100% vốn của Wal-mart có mặt ở Argentina, Brazil, Canada, Puerto rico, và Anh.   40% hàng hóa bán ra của Wal-mart được người khổng lồ này đặt các công ty chuyên sản xuất làm riêng và dưới nhãn hiệu Wal-mart. Đây là một cách làm rất thông minh của Wal-mart để tạo dựng hình ảnh trong tâm trí khách hàng khi họ nghĩ đến các mặt hàng tiêu dùng hay ý thức về một hãng chuyên bán lẻ. Mỗi tuần có khoảng 100 triệu người đến các trung tâm mua sắm của Wal-mart, hay nói cách khác, 1/3 dân số của mỹ đi siêu thị wal-mart mỗi tuần. Và chiến lược dẫn đến thành công của Wal-mart chính là bán hàng giá rẻ, phản ánh đúng slogan của công ty “low prices, always.” các con số thống kê cũng cho thấy rằng, mức thu nhập trung bình của các khách hàng của Wal-mart thấp hơn mức trung bình của dân số Mỹ, và lí do lớn nhất để họ đến với Wal-mart chính là vì giá cả hàng hóa rẻ và đa dạng. Nhưng sang năm 2007, Wal-mart đã có chiến lược toàn diện hơn “không chỉ là giá rẻ,” Wal-mart sẽ phân chia ra thành từng mảng thị phần đó là mảng hàng hóa “dành cho người thu nhập thấp; dành cho người thu nhập cao; và người thu nhập trung bình” để khai thác tốt hơn nguồn doanh thu từ giá và hành vi tiêu dùng của khách hàng. Xếp hạng Wal-mart năm xếp hạng doanh thu (tr. usd) lợi nhuận (tr. usd) fortune 500 fortune global 500 2002 1 1 219 812,0 6 671,0 2003 1 1 246 525,0 8 039,0 2004 1 1 258 681,0 9 054,0 2005 1 1 288 189,0 10 267,0 2006 2 2 315 654,0 11 231,0 2007 1 1 351 139,0 11 284,0 Nguồn: Tổng hợp từ CNN Money qua các năm Walmart và Exxon Mobil liên tục tranh giành nhau danh hiệu thứ nhất trong các bản xếp hạng trong những năm gần đây.

Gold Bricking / Hoạt Động Lừa Dối

Sự hạn chế sản lượng do công nhân gây ra trong khuôn khổ HỆ THỐNG THANH TOÁN KHUYẾN KHÍCH để tránh việc áp dụng các tiêu chuẩn nỗ lực làm việc cao hơn trên một đơn vị thanh toán.

Gold Age Growth / Tăng Trưởng "Thời Kỳ Hoàng Kim"

Trong lý thuyết tăng trưởng, đó là một tình huống TĂNG TRƯỞNG CÂN ĐỐI trong đó TỶ LỆ TĂNG TRƯỞNG CÓ BẢO ĐẢM bằng với Tỷ lệ tăng trưởng tự nhiên khi có đủ việc làm.

Crawling Peg / Chế Độ Neo Tỷ Giá Hối Đoái Điều Chỉnh Dần

Là phương pháp tỷ giá hối đoái. Đây là một cụm thuật ngữ chung áp dụng cho bất kỳ một đề nghị nào có đặc trưng NGANG GIÁ - tỷ giá hối đoái chính thức do quỹ tiền tệ quốc tế đưa ra - có thể điều chỉnh theo thời gian, mức thay đổi cần thiết đó có thể phân nhỏ và kéo dà trong suốt một thời kỳ nhất định. Xem DEVALUATION.

Là phương pháp tỷ giá hối đoái. Đây là một cụm thuật ngữ chung áp dụng cho bất kỳ một đề nghị nào có đặc trưng NGANG GIÁ - tỷ giá hối đoái chính thức do quỹ tiền tệ quốc tế đưa ra - có thể điều chỉnh theo thời gian, mức thay đổi cần thiết đó có thể phân nhỏ và kéo dà trong suốt một thời kỳ nhất định. Xem DEVALUATION.

Là phương pháp tỷ giá hối đoái. Đây là một cụm thuật ngữ chung áp dụng cho bất kỳ một đề nghị nào có đặc trưng NGANG GIÁ - tỷ giá hối đoái chính thức do quỹ tiền tệ quốc tế đưa ra - có thể điều chỉnh theo thời gian, mức thay đổi cần thiết đó có thể phân nhỏ và kéo dà trong suốt một thời kỳ nhất định. Xem DEVALUATION.

Going Public / Phát Hành Công Khai Lần Đầu

Quá trình bán cổ phần ra công chúng lần đầu tiên. Cũng giống như "Phát hành lần đầu ra công chúng - IPO".

GNP (Gross National Product) / Tổng Sản Phẩm Quốc Dân

Tổng sản phẩm quốc dân hay Tổng sản phẩm quốc gia là một chỉ tiêu kinh tế đánh giá sự phát triển kinh tế của một đất nước nó được tính là tổng giá trị bằng tiền của các sản phẩm cuối cùng và dịch vụ mà công dân của một nước làm ra trong một khoảng thời gian nào đó, thông thường là một năm tài chính, không kể làm ra ở đâu (trong hay ngoài nước). Sản phẩm cuối cùng là hàng hóa được tiêu thụ cuối cùng bởi những người tiêu dùng chứ không phải là những sản phẩm được sử dụng như là sản phẩm trung gian trong sản xuất những sản phẩm khác. Ví dụ, một chiếc ô tô bán cho người tiêu dùng là một sản phẩm cuối cùng; các thành phần như lốp được bán cho nhà sản xuất ô tô là sản phẩm trung gian. Cũng chiếc lốp đó, nếu bán cho người tiêu dùng thì nó lại là sản phẩm cuối cùng. Chỉ có sản phẩm cuối cùng mới được tính trong thu nhập quốc gia, do việc đưa cả sản phẩm trung gian vào sẽ dẫn tới việc tính kép làm tăng ảo giá trị thực sự của thu nhập quốc gia. Ví dụ, trong trường hợp chiếc lốp được bán cho nhà sản xuất ôtô, giá trị của nó đã được tính khi nó được nhà sản xuất lốp bán cho nhà sản xuất ô tô, nếu sau đó một lần nữa được tính trong giá trị chiếc ô tô khi nhà sản xuất ô tô bán cho người tiêu dùng thì sẽ làm cho giá trị GNP tăng lên. Thu nhập được tính như là một phần của GNP, phụ thuộc vào ai là chủ sở hữu các yếu tố sản xuất chứ không phải là việc sản xuất diễn ra ở đâu. Ví dụ, một nhà máy sản xuất ô tô do chủ sở hữu là công dân Mỹ đầu tư tại Việt Nam thì lợi nhuận sau thuế từ nhà máy sẽ được tính là một phần của GNP của Mỹ chứ không phải của Việt Nam bởi vì vốn sử dụng trong sản xuất (nhà xưởng, máy móc, v.v.) là thuộc sở hữu của người Mỹ. Lương của công nhân người Việt là một phần của GNP của Việt Nam, trong khi lương của công nhân Mỹ làm việc tại đó là một phần của GNP của Mỹ. Có nhiều cách tính tổng sản phẩm quốc dân, dưới đây là cách tính theo quan điểm chi tiêu xã hội: GNP = C + I + G + (X - M) + NR Trong đó: C = Chi phí tiêu dùng cá nhân I = Tổng đầu tư cá nhân quốc nội G = Chi phí tiêu dùng của nhà nước X = Kim ngạch xuất khẩu ròng các hàng hóa và dịch vụ M = Kim ngạch nhập khẩu ròng của hàng hóa và dịch vụ NR= Thu nhập ròng từ các tài sản ở nước ngoài (thu nhập ròng) Còn một chỉ số khác hay được nhắc kèm với GNP đó  là chỉ số GNI_Gross National Income, tức Tổng thu nhập quốc gia hay Tổng thu nhập quốc dân. Giá trị của nó tương đương với giá trị của GNP. Tuy nhiên, người ta phân biệt chúng, do cách thức tiếp cận vấn đề là dựa trên các cơ sở khác nhau. GNP dựa trên cơ sở sản xuất ra sản phẩm mới, còn GNI dựa trên cơ sở thu nhập của công dân. Điều này là quan trọng để tiếp cận các khái niệm NNP và NNI. Khi đó phải tính đến khấu hao và các loại thuế gián tiếp, và NNI sẽ luôn luôn nhỏ hơn NNP một lượng bằng giá trị của thuế gián tiếp.

Crawling Peg / Chế Độ Neo Tỷ Giá Điều Chỉnh Dần

Đây là một phương pháp kiểm soát tỷ giá hối đoái, là cụm thuật ngữ chung áp dụng cho bất kỳ một đề nghị nào có có đặc trưng ngang giá - tỷ giá hối đoái chính thức do Quỹ tiền tệ quốc tế IMF đưa ra - có thể được điều chỉnh qua thời gian, mức thay đổi cần thiết đó có thể phân nhỏ và kéo dài trong suốt một thời kỳ nhất định. Do vậy, ví dụ việc giảm tỷ giá 10% có thể được tiến hành bằng những thay đổi 2% liên tục. Tính ưu việt ở đây là việc thay đổi này có thể được đối trọng bởi sự thay đổi lãi suất trong nước, do vậy giảm khả năng đầu cơ gây bất ổn định. Điều này giống như trượt giá.

Globalization / Toàn Cầu Hóa

Toàn cầu hoá là sự gia tăng quá trình tương tác lẫn nhau giữa con người và khu vực dưới tác động của các tiến bộ trong giao thông, thông tin liên lạc, và công nghệ dẫn đến sự hội tụ về chính trị, kinh tế và văn hóa. Thuật ngữ Toàn cầu hóa có thể đã được sử dụng từ năm 1944. Thuật ngữ được các nhà kinh tế học sử dụng từ năm 1981, tuy nhiên các khái niệm xung quanh vấn đề này không nhận được sự được hiểu biết rộng rãi mãi cho đến nửa sau của thập kỉ 1990. Rất nhiều các nhà nghiên cứu khoa học xã hội đã cố gắng mô tả sự nối tiếp của các xu hướng trong các thời kì trước với thời đại ngày nay. Kỉ nguyên toàn cầu hóa đầu tiên diễn ra trong suốt thế kỉ 19 chính là sự phát triển nhanh chóng trong thương mại giữa Châu Âu, các thuộc địa của Châu Âu và Mỹ. Sau Thế chiến II, toàn cầu hóa lại tiếp diễn và được lái đi bởi các tiến bộ trong công nghệ, dẫn tới giảm thiểu giá của các giao dịch kinh tế. Toàn cầu hoá được xem như một quá trình dài, theo sau sự gia tăng dân số và những tiến bộ của văn minh nhân loại, đã phát triển chóng mặt trong 50 năm qua. Những hình thức đầu tiên của toàn cầu hóa đã tồn tại trong thời kì Đế Chế La Mã, đế chế Parthia, và Vương Triều nhà Hán, khi con đường tơ lụa được bắt đầu ở Trung Quốc, trải dài tới biên giới của Đế chế Parthia, và tiếp tục kéo dài tới Rome. Thời kì vàng kim của Hồi giáo cũng là một ví dụ, khi đó các thương gia người Hồi giáo và các nhà thám hiểm đã thiết lập nên một nền kinh tế toàn cầu thời kì đầu dẫn đến sự phổ biến kĩ thuật nông nghiệp, thương mại, tri thức và công nghệ; và sau đó là trong thời kì mở rộng của Mông Cổ, khi đó có sự giao lưu rộng lớn hơn giữa con người và các vùng đất dọc theo chiều dài của Con đường tơ lụa. Hội nhập toàn cầu tiếp tục thông qua sự mở rộng của thương mại Châu Âu vào thế kỉ thứ 16 và 17, khi đế quốc Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha vươn tới mọi ngõ ngách của thế giới sau khi mở rộng sang các nước ở Châu Mỹ. Tự do hoá ở thế kỉ 19 đôi khi cũng được gọi là Kỉ nguyên đầu tiên của toàn cầu hoá, một thời kì đánh dấu sự phát triển nhanh chóng trong thương mại và đầu tư quốc tế giữa Châu Âu, các lục địa của Châu âu và Mỹ. Kỉ nguyên đầu tiên của toàn cầu hóa bắt đầu tan vỡ với sự bắt đầu của Thế chiến I, và sau đó là sụp đổ dưới thời kì Sụp đổ của chế độ bản vị vàng cuối những năm 20 đầu những năm 30. Toàn cầu hoá sau Thế chiến II là kết quả của những chiến lược của các nhà kinh tế, và chính trị gia, những người nhận ra sự gia tăng chi phí dưới tác động của bảo hộ và suy giảm hội nhập kinh tế. Những kế hoạch của họ dẫn tới hội nghị Bretton Woods và thành lập một số tổ chức quốc tế nhằm mục đích giám sát các quá trình toàn cầu hóa, thúc đẩy tăng trưởng và điều chỉnh các hậu quả không như mong đợi. Đó là Ngân hàng quốc tế về phục hồi và phát triển (Ngân hàng thế giới) và Quỹ tiền tệ quốc tế. Toàn cầu hoá đã được tạo điều kiện thuận lợi bởi sự phát triển về công nghệ dẫn đến giá giao dịch giảm, và các vòng đàm phán thương mại mởi đầu với GATT, dẫn tới một loạt các hiệp định nhằm dỡ bỏ rào cản thương mại. Vòng đàm phán Uruguay từ 1984-1995 dẫn tới một hiệp ước nhằm thành lập Tổ chức thương mại thế giới để giải quyết các tranh chấp thương mại và thành lập một sân chơi thống nhất về thương mại. Và hàng loạt các hiệp ước thương mại song phương và đa phương khác như Hiệp ước Maastricht của Châu âu, Hiệp ước NAFTA cũng được kí nhằm mục đích giảm thiểu thuế quan và các rào cản thương mại. Những quan điểm ủng hộ thương mại tự do cho rằng toàn cầu hóa làm gia tăng mức độ sung túc cũng như cơ hội, đặc biệt là đối với các quốc gia đang phát triển, làm tăng cường các quyền tự do và dẫn tới phân bổ nguồn lực tự nhiên hiệu quả hơn (dựa trên lợi thế tương đối). Những người phản đối toàn cầu hoá thì cho rằng toàn cầu hóa dẫn đến nguy hại cho hành tinh dưới góc độ phát triển không bền vững gây ảnh hưởng xấu tới sinh quyển, làm gia tăng nghèo đói, bất bình đẳng, bất công bằng, và xói mòn trong văn hoá truyền thống dưới kết quả của sự giao lưu kinh tế liên quan đến toàn cầu hóa.

Sự phụ thuộc lẫn nhau của người mua và người bán vào các công cụ tài chính trong các trung tâm tài chính toàn thê giới. Hiện tượng này có nguyên nhân chính là những nhân tố sau: 1) Sự bão hòa của thị trường ĐỒNG TIỀN CHÂU ÂU từ những năm 1960; 2) những thay đổi đáng kể về công nghệ giao dịch thương mại trong vài năm gần đây, giúp cho những người hoạt động thị trường nhanh chóng tiếp cận được các thông tin thị trường về hàng hóa và công cụ tài chính; 3) các tổ chức tài chính mong muốn mở rộng hoạt động khác vượt khỏi ranh giới địa lý; 4) mong muốn kiểm soát rủi ro bảng cân đối tài sản thông qua hợp đồng HOÁN ĐỔI LÃI SUẤT cùng nhiều thỏa thuận hoán đổi tài chính khác. Ví dụ, việc sử dụng ngày càng nhiều các công cụ nợ trên thị trường tài chính quốc tế, chủ yếu trên thị trường TRÁI PHIẾU CHÂU ÂU, trái với hoạt động cho vay truyền thống của ngân hàng, như một phương tiện tài trợ cho những công ty và chính quyền muốn vay nợ. Thương phiếu châu Âu đẵ bắt đầu sử dụng vào đầu thập niên 1980, và đã phát triển nhiều nhờ thị trường thứ cấp mạnh trong hoạt động tài trợ bằng trái phiếu châu Âu. Cả ngân hàng thương mại và ngân hàng đầu tư đều tham gia vào thị trường này. Bên ngoài nước Mỹ, các ngân hàng thương mại của Mỹ không bị giới hạn bởi luật Glass - Steagall về bảo lãnh chứng khoán, là những thành viên tham gia chủ động trên thị trường trái phiếu châu Âu. Những tiến bộ về CÔNG NGHỆ THÔNG TIN cho phép các thương nhân giao dịch trên thị trường ngoại hối và các công cụ thị trường tiền tệ khác, để quản lý vị thế trên cơ sở 24 giờ, thông qua việc di chuyển sổ sách giao dịch tới một trung tâm tài chính khác vào lúc khóa sổ giao dịch. Thực tiễn này gọi là chuyển sổ sách, cho phép các tổ chức tài chính giai dịch thị trường New York, Luân Đôn hay Tokyo, để duy trì một sổ sách giao dịch duy nhất liệu kê các vị thế, giới hạn và mức rủi ro cho toàn doanh nghiệp, thay vì duy trì các sổ sách riêng rẽ ở mỗi trung tâm giao dịch.

Wall Street / Phố Wall

Tên phổ biến cho khu vực tài chính tại thành phố New York nơi đặt trụ sở giao dịch của Sở Giao dịch Chứng khoán New York, Sở giao dịch chứng khoán Mỹ, các công ty chứng khoán hàng đầu và một vài ngân hàng và các công ty bảo hiểm lớn. Theo nghĩa phổ biến hơn, thuật ngữ này có phạm vi rộng hơn, đề cập ngành ngân hàng đầu tư và môi giới chứng khoán, không xét đến trụ sở thực sự của các công ty ở đâu.

Tên phổ biến cho khu vực tài chính tại thành phố New York nơi đặt trụ sở giao dịch của Sở Giao dịch Chứng khoán New York, Sở giao dịch chứng khoán Mỹ, các công ty chứng khoán hàng đầu và một vài ngân hàng và các công ty bảo hiểm lớn. Theo nghĩa phổ biến hơn, thuật ngữ này có phạm vi rộng hơn, đề cập ngành ngân hàng đầu tư và môi giới chứng khoán, không xét đến trụ sở thực sự của các công ty ở đâu.

Global Industry Classification Standard ( GICS) / Tiêu Chuẩn Phân Loại Các Ngành Công Ngiệp Toàn Cầu

Global Industry Classification Standard ( GICS) được phát triển bởi Morgan Stanley Capital International (MSCI) và Standard & Poor's vào năm 1999. GICS được đưa ra nhằm thiết lập một tiêu chuẩn chung cho việc phân loại các công ty vào các ngành và nhóm ngành có liên quan với nhau. GICS được xây dựng theo các tiêu chí: - Universal (Toàn cầu) - Accurate (chính xác) - Flexible (linh hoạt) - Elvolving (phát triển) Hiện nay, GICS bao gồm 10 nhóm ngành chính (sectors), 24 nhóm ngành (industry groups), 67 ngành (industries) và 147 ngành con (sub-industries). 10 nhóm ngành chính của GICS bao gồm: Energy - Năng lượng: bao gồm các công ty thăm dò, khai thác, chế biến, vận tải ... các sản phẩm dầu khí, tha đá, nhiên liệu chất đốt. Meterials - Nguyên vật liệu: đây là một nhóm ngành rộng bao gồm các công ty hoá chất, vật liệu xây dựng, kính, giấy, lâm sản; các công ty khai mỏ và luyện kim; các cty sản xuất các sản phẩm bao bì đóng gói (gồm cả bao bì giấy, kim loại, thuỷ tinh). Industrials - Công nghiệp: gồm các cty chế tạo các loại máy móc công nghiệp, thiết bị điên; công nghiệp quốc phòng, xây dựng, giao thông vận tải cùng các dịch vụ liên quan. Consumer Discretionary - Hàng tiêu dùng không thiết yếu. Gồm những nhóm hàng tiêu dùng nhạy cảm với chu kì của nền kinh tế như: xe hơi, hàng gia dụng lâu bền (đồ điện tử gia dụng), hàng may mặc và các thiết bị giải trí, giáo dục. Nhóm dịch vụ bao gồm khách sạn, nhà hàng, trung tâm giải trí, truyền thông. Consumer Staples - hàng tiêu dùng thiết yếu bao gồm các công ty sản xuất và phân phối lương thực, thực phẩm, nước giải khát, thuốc lá và các sản phẩm gia dụng ko lâu bền, các vật dụng cá nhân. Nó cũng bao gồm các siêu thị, trung tâm bán lẻ thực phẩm và thuốc. Health Care - Chăm sóc sức khoẻ : bao gồm các cty cung cấp các dịch vụ, thiết bị chăm sóc sức khoẻ và các công ty nghiên cứu, phát triển sản xuất dược phẩm và các sản phẩm công nghệ sinh học. Financials - Tài chính: gồm các ngân hàng, cty bảo hiểm, các quỹ đầu tư tài chính và bất động sản, các công ty cung cấp các dịch vụ tài chính khác. Information Technology - Công nghệ thông tin : bao gồm các công ty nghiên cứu và sản xuất phần mềm cùng các dịch vụ liên quan và các công ty sản xuất các thiết bị công nghệ phần cứng cùng các công ty sản xuất chất bán dẫn và thiết bị bán dẫn. Telecommunications Services - Dịch vụ viễn thông : gồm các công ty cung cấp các dịch vụ viễn thông như: dịch vụ viễn thông cố định, không dây, băng thông rộng... Utilities - Dịch vụ Điện nước: gồm các công ty sản xuất và phân phối điện năng, các cty quản lý hệ thống nước, gas sinh hoạt.

Wagner's Law / Định Luật Wagner

Một giả thuyết, do nhà kinh tế học Đức Adolph Wagner xây dựng vào cuối thế kỷ XIX, nói rằng sự phát triển của nền kinh tế công nghiệp hoá sẽ đi đôi với việc tăng phần chi tiêu công cộng trong tổng sản phẩm quốc dân.

Wages Structure / Cấu Trúc Tiền Công

Các thứ hạng tiền lương của các nhóm công nhân phân theo ngành, địa điểm làm việc theo nhóm nghề nghiệp hoặc chủng tộc.

Glejser Test / Kiểm Định Glejser

Phép kiểm định được sử dụng để nhận dạng vấn đề phương sai KHÔNG THUẦN NHẤT trong Số dư của một phương trình hồi quy.

Give Up / Giao Dịch Nhượng Quyền Mua

Give up (hay viết là give-up) là một thuật ngữ dùng để mô tả một giao dịch giữa ba bên môi giới mà một trong số đó không sử dụng họ tên của mình tham gia giao dịch. Ví dụ, người môi giới 1 nhận được một lệnh mua nhưng quá bận rộn để xử lý. Người môi giới 1 yêu cầu người môi giới 2 xử lý các đơn lệnh. Người môi giới 2 sẽ mua cổ phiếu từ người môi giới 3 với tư cách là khách hàng của người môi giới 1. Giao dịch này sẽ được ghi lại rằng người môi giới 1 chưa bao giờ liên quan đến giao dịch này (người đó đã "từ bỏ" - give up), mặc dù lệnh ban đầu đã được đặt với người môi giới 1.

Wages Councils / Các Hội Đồng Tiền Công

Các cơ quan pháp quy được chính phủ giao nhiệm vụ đề xuất về lương và số giờ lao động trong một số ngành ở nước Anh.

Giro System / Hệ Thống Chuyển Khoản Giro

Một hệ thống thanh toán thông qua chuyển khoản các khoản tiền gửi "ghi sổ", có thể thương thích với hệ thống SEC ngân hàng truyền thống nhưng khác về cơ cấu.

Wage-Push Inflation / Lạm Phát Do Tiền Công Đẩy

Một biểu hiện của lạm phát do chi phí đẩy, coi nguyên nhân của quá trình lạm phát là do áp lực của nghiệp đoàn với thị trường lao động.

Gini Coefficient / Hệ Số Gini

Chỉ số về mức bất bình đẳng (thường là) của phân phối thu nhập.

Wage-Price Spiral / Vòng Xoáy Tiền Công-Giá

Khái niệm cho rằng sự tăng lương sẽ dẫn tới sự tăng giá do chi phí sản xuất tăng và lại gây ảnh hưởng đến tiền lương bởi vì công nhân muốn duy trì sức mua của đồng tiền.

Sách Combo 4 Cuốn : Tư Duy Ngược + Tư Duy Mở + Biến Mọi Thứ Thành Tiền Chuột không dây Ugreen M751 với con lăn vô cực Máy chơi game retro Powkiddy X55