Thuật Ngữ Kinh Tế

A B C D E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Z Tất cả

General Union / Các Nghiệp Đoàn

Nghiệp đoàn là tổ chức tập hợp công nhân ở các ngành và bao gồm nhiều nghề nghiệp khác nhau.

Wage Boards / Ban Điều Hành Tiền Công

Các cơ quan pháp quy tương tự như các hội đồng lương quản lý điều hành và điều kiện lao động trong ngành nông nghiệp.

General Price Level / Mức Giá Chung

Mức giá chung của tất cả hàng hoá trong nền kinh tế.

General Obligation Bond / Trái Phiếu Nghĩa Vụ Chung

Là một loại trái phiếu tiểu bang hay trái phiếu đô thị( trái phiếu G-O) được bảo lãnh bởi tín chấp và quyền đánh thuế của nhà phát hành. Trái phiếu nghĩa vụ chung thường được phát hành nhằm huy động tài chính cho những dự án hoạt động phi doanh thu, như trường học, đường sá, công trình công cộng, mặc dù một số dự án G-O thật sự có tọa doanh thu, chẳng hạn như trái phiếu huy động tài chính cho các nhà máy và xử lý chất thải. Một trái phiếu không giới hạn số tiền chịu thuế hay thuế suất, có thể được đánh giá để tính khoản thanh nợ đối với người giữ trái phiếu, được gọi là trái phiếu thuế không giới hạn. Tuy nhiên, thường chính quyền địa phương vẫn bị hạn chế bởi những quy định địa phương hay tiểu bang, giới hạn mức thuế tài sản có thể được sử dụng để thực hiện việc thanh toán vốn gốc và tiền lãi cho trái phiếu, những trái phiếu như thế gọi là trái phiếu thuế có giới hạn. Xem PRIVATE PURPOSE BOND, PUBLIC PURPOSE BOND, REVENUE BOND.

Là một loại trái phiếu tiểu bang hay trái phiếu đô thị (trái phiếu G-O) được bảo lãnh bởi tín chấp và quyền đánh thuế của nhà phát hành. Trái phiếu nghĩa vụ chung thường được phát hành nhằm huy động tài chính cho những dự án hoạt động phi doanh thu, như trường học, đường sá, công trình công cộng, mặc dù một số dự án G-O thật sự có tạo ra doanh thu, chẳng hạn như trái phiếu huy động tài chính cho các nhà máy nước và xử lý chất thải. Một trái phiếu không giới hạn số tiền chịu thuế hay thuế suất, có thể được đánh giá để tính khoản thanh toán nợ đói với người giữ trái phiếu, được gọi là trái phiếu thuế không giới hạn. Tuy nhiên, thường chính quyền địa phương vẫn bị hạn chế, bởi những quy định địa phương hay tiểu bang, giới hạn mức thuế tài sản có thể được dùng để thanh toán vốn gốc và tiền lãi cho trái phiếu, những trái phiếu như thế gọi là trái phiếu thuế có giới hạn.  Xem PRIVATE PURPOSE BOND; PUBLIC PURPOSE BOND; REVENUE BOND.

General Linear Model (GLM) / Mô Hình Tuyến Tính Tổng Quát

Dạng hàm số được sử dụng phổ biến nhất trong phân tích kinh tế lượng, nó đặc biệt coi biến phụ thuộc là một hàm tuyến tính của tập hợp các biến độc lập.

General Human Capital / Vốn Nhân Lực Mang Đặc Điểm Chung; Vốn Nhân Lực Chung Chung

Vốn nhân lực mang đặc điểm chung; vốn nhân lực chung chung.

General Equilibrium / Cân Bằng Chung; Cân Bằng Tổng Thể

Tình huống trong đó tất cả các thị trường trong nền kinh tế đồng thời ở trạng thái cân bằng, nghĩa là giá cả và số lượng không đổi.

General Classification Of Economic Activities In Europe / Sự Phân Loại Chung Về Các Hoạt Động Kinh Tế Trong Cộng Đồng Châu Âu

Sự phân loại công nghiệp của các hoạt động kinh tế trong Cộng đồng châu Âu là cách khác của sự phân loại công nghiệp theo tiêu chuẩn quốc tế.

General Agreement On Tariffs And Trade (GATT) / Hiệp Định Chung Về Thuế Quan Và Thương Mại

GATT - tiền thân của Tổ chức Thương mại Thế giới ngày nay (WTO) - là một hiệp định thương mại đa phương giữa các thực thể kinh tế độc lập (không nhất thiết phải là các quốc gia) hướng tới mục tiêu mở rộng thương mại quốc tế như là một phương tiện để nâng cao phúc lợi của thế giới. GATT được ký kết năm 1947 với tư cách là một hiệp định tạm thời. Nó đã được thế giới thừa nhận là tổ chức quốc tế chủ yếu trong các cuộc đàm phán thương mại đa phương từ khi Hạ viện Mỹ chắc chắn sẽ không thông qua Hiến chương La Habana năm1948 - hiến chương nhằm thiếp lập một Tổ chức Thương mại Quốc tế (ITO) với tư cách là một Cơ quan Chuyên trách của Liên hợp quốc, tương tự như Quĩ Tiền tệ quốc tế (IMF) hay Ngân hàng Thế giới (WB). Ủy ban Lâm thời ITO (ICITO) được thành lập để thúc đẩy tiến trình thành lập ITO, nhưng sau đó đã chuyển thành Ban Thư ký của GATT. Các điều khoản của GATT được áp dụng theo nguyên tắc có đi có lại giữa các bên thành viên để hạn chế sự bất ổn trong giao dịch thương mại giữa các nước. Trọng tâm của GATT trước đây là điều khoản tối huệ quốc (Điều 1 của Hiệp định chung). Nhưng trong những năm 1970 và 1980, các hệ thống ưu đãi thương mại khu vực và ưu đãi khác đã trở nên phổ biến, làm giảm vai trò của GATT trong việc bảo đảm sự xâm nhập thị trường bình đẳng giữa các thành viên. "GATT" còn dùng để chỉ trụ sở của tổ chức đặt tại Geneva, đây là cơ quan giúp cho các nước thành viên trao đổi về các vấn đề nảy sinh hàng ngày liên quan đến việc áp dụng các điều khoản của GATT. Cơ quan này còn lên chương trình cho các cuộc đàm phán - được gọi là các "Vòng đàm phán" - tại đó các nước thành viên đàm phán để đi đến giảm thuế quan và các hàng rào thương mại khác và một cơ chế hướng dẫn có thể được các chính phủ áp dụng để tìm cách bảo vệ lợi ích thương mại của mình. Qua hai vòng đàm phán Tokyo và Uruguay, trọng tâm của tự do hóa thương mại chuyển từ giảm thuế quan sang loại bỏ hàng rào thương mại phi thuế. Mới đây, GATT có 103 thành viên (CP), chiếm 85% thương mại thế giới, ngoài ra có khoảng 30 quốc gia và các nước phụ thuộc áp dụng các điều khoản của GATT một cách không chính thức và có thể họ sẽ sớm trở thành thành viên chính thức. Chính sách thương mại của Mỹ chủ yếu chiếu theo các quy định của GATT. Sự phối hợp giữa GATT và Hoa Kỳ được thực hiện thông qua hay bởi một pháp lệnh hành pháp chứ không phải là một nghĩa vụ theo hiệp định. Việc Mỹ có tuân thủ các điều khoản của GATT hay không phụ thuộc và sự phê chuẩn của quốc hội cho phép thi hành và vào định hướng chính sách của tổng thống. Từ năm 1995, GATT trở thành WTO theo các điều lệ mới, và vòng đàm phán hiện tại mang tên Nghị sự Phát triển Doha (Qatar). Việc Việt Nam gia nhập WTO vào 7-11-2006 đã đưa tổng số thành viên WTO lên con số 150.

General Agreement Of Tariffs And Trade (GATT) / Hiệp Định Chung Về Thuế Quan Và Thương Mại

Hiệp định được ký tại Hội nghị Geneva năm 1947 và có hiệu lực từ ngày 1/1/1948. Đây là một hiệp định thương mại đa phương đề ra các quy tắc tiến hành các quan hệ thương mại quốc tế và cung cấp một diễn đàn cho sự đàm phán đa phương về các giải pháp cho các vấn đề thương mại và giảm dần THUẾ QUAN và các ràng buộc khác đối với thương mại.

X-Efficiency / Hiệu Quả X

Là một tình huống, trong đó tổng chi phí của một hãng không thể giảm đến mức tối thiểu vì sản lượng thực tế từ các đầu vào xác định nhỏ hơn mức khả thi lớn nhất.

Hiệu Quả X (X-Efficiency) là một thuật ngữ trong tài chính. Nó mô tả khái niệm, cơ chế hoặc quy trình cụ thể, được sử dụng trong phân tích, định giá, giao dịch và quản trị rủi ro. Ví dụ: Hiệu Quả X (X-Efficiency) có thể dùng trong phân tích báo cáo tài chính hoặc định giá doanh nghiệp, tùy ngữ cảnh. Ứng dụng: hỗ trợ lập báo cáo, phân tích, thẩm định và ra quyết định tài chính. Khi áp dụng, cần lưu ý đến bối cảnh pháp lý và thị trường để hiểu đúng.

General Accepted Accounting Principles (GAAP) / Các Nguyên Tắc Kế Toán Chấp Nhận Chung

Là những nguyên tắc và những thông lệ kế toán được chấp nhận trong thực tiễn khi chuẩn bị các báo cáo tài chính. Cơ quan tiêu chuẩn kế toán tài chính (FASB), một tổ chức tự điều hành độc lập là nguồn gốc ban đầu của những nguyên tắc kế toán được tuân thủ bởi các kiểm toán viên và kế toán viên. Mục tiêu của những nguyên tắc kế tonas GAAP là tạo tính thống nhất cho các báo cáo tài chính.

Gearing Ratio / Tỷ Số Ăn Khớp

Tỷ số của tài chính nợ với tổng số của nợ và tài chính vốn cổ phiếu thông thường.

Yield To Maturity / Lợi Suất Khi Đáo Hạn

Lợi nhuận phần trăm hàng năm của trái phiếu nắm giữ cho đến ngày đáo hạn quy định. Đây là một phương pháp thường được chấp nhận để so sánh lợi suất trên trái phiếu với phiếu lãi suất các chứng khoán khác nhau, bởi vì nó giả định thu nhập tiền lãi sẽ được tái đầu tư với lợi suất hiện tại, và có xét đến bất kỳ điều chỉnh nào về phần bù hay chiết khấu trái phiếu. Vì lý do này mà nó khác với lợi suất hiện tại, có thể cao hơn hoặc thấp hơn.  Niêm yết lợi suất khi đáo hạn cũng có thể khác với lợi suất thực sự của nhà đầu tư khi đáo hạn, bởi chúng giả định luôn tái đầu tư tiền lãi với lợi suất niêm yết hiện tại. Điều này có thể chính xác hoặc không, nếu trái phiếu được bán với mức giá cao hơn hoặc thấp hơn giá danh nghĩa hoặc mệnh giá. Để tiện tham khảo, lợi suất khi đáo hạn của trái phiếu nào đó có thể tìm thấy trong các bảng trái phiếu được phát hành bởi các nhà xuất bản về tài chính. Một số loại máy tính có chức năng lập trình có thể được sử dụng để tính toán lợi suất đáo hạn. Còn được gọi là lợi suất hiệu quả (effective rate of return) Xem BOND EQUIVALENT YIELD; DURATION; YIELD TO AVERAGE LIFE; YIELD TO CALL.

Yield / Lợi Suất Đầu Tư

Lợi suất đầu tư là số phần trăm được tính toán theo thu nhập bằng tiền của người sở hữu chứng khoán. Thuật ngữ này có nhiều nghĩa, tùy thuộc vào ngữ cảnh của nó. Lợi suất đầu tư có thể được tính như một tỉ lệ hoặc như tỉ suất hoàn vốn nội bộ. Với trái phiếu, lợi suất trái phiếu tức được tính bằng cách lấy tổng trái tức năm chia cho mệnh giá trái phiếu. Lợi suất hiện tại được tính trên giá thị trường của trái phiếu. Lợi suất đáo hạn chính là tỉ suất hoàn vốn nội bộ trên các dòng tiền của trái phiếu: giá mua, trái tức đã thanh toán, giá gốc khi đáo hạn. Lợi suất gọi mua là tỉ suất hoàn vốn nội bộ hoàn vốn nội bộ tính trên các dòng tiền của trái phiếu, với giả định rằng nó sẽ được gọi mua trước khi đáo hạn. Lợi suất trái tức của trái phiếu luôn biến động ngược chiều với giá trái phiếu: nếu giá tăng thì lợi suất trái tức giảm và ngược lại. Với cổ phiếu ưu đãi, cũng giống như trái phiếu cổ phiếu ưu đãi cũng trả cổ tức định kì cho nhà đầu tư. Lợi suất cổ tức là tỉ lệ giữa thu nhập cổ tức hàng năm với giá vốn bỏ ra mua của cổ phiếu ưu đãi. Lợi suất cổ tức hiện tại được tính theo thị giá cổ phiếu. Lợi suất cổ tức đáo hạn cũng được tính tóan tương tự lợi suất trái tức đáo hạn. Cổ phiếu phổ thông, mỗi cổ phiếu thường bao giờ cũng được chia cổ tức bằng một phần thu nhập của nó. Lợi suất cổ tức phổ thông là tổng số tiền được thanh toán mỗi năm cho 1 cổ phiếu chia cho thị giá cổ phiếu. Ví dụ: vào thời điểm chia cổ tức, giá cổ phiếu E là $150, thu nhập của cổ phiếu đó được xác định là $30, và 50% số thu nhập này được sử dụng để chia cổ tức. Vậy lợi suất cổ tức E này là: 50% x 30/150 = 10%Từ công thức trên có thể nhận thấy P/E của một cổ phiếu bao giờ cũng biến động ngược chiều với lợi suất cổ tức Làm cách nào để đánh giá được lợi suất đầu tư? Trên thị trường tài chính, tất cả các công cụ tài chính đều cạnh tranh với nhau. Lợi suất là 1 phần trong toàn bộ thu nhập từ việc nắm giữ một chứng khoán. Lợi suất càng cao thì nhà đầu tư càng sớm thu hồi vốn, và giảm thiểu rủi ro. Nhưng mặt khác, lợi suất quá cao lại làm cho giá thị trường của chứng khoán đó giảm xuống và rủi ro tăng lên. Mức lợi suất đầu tư thay đổi chủ yếu do dự kiến về lạm phát. Nếu thị trường lo ngại lạm phát gia tăng trong tương lai thì chắc chắn nhà đầu tư sẽ đòi hỏi lợi suất hiện tại cao hơn. Thời gian đáo hạn của một công cụ tài chính sẽ quyết định mức độ rủi ro của nó. Mối quan hệ giữa lợi suất và thời gian đáo hạn của các công cụ tài chính có mức độ tin cậy tín dụng tương tự nhau, được mô tả bằng đường lợi suất. Công cụ tài chính có thời hạn dài bao giờ cũng có mức lợi suất có hơn công cụ có thời hạn ngắn hơn. Lợi suất của các công cụ ghi nợ luôn gắn với mức độ tin cậy tín dụng và khả năng vi phạm nghĩa vụ trả nợ của công ty phát hành. Rủi ro vi phạm nghĩa vụ trả nợ càng cao, thì lợi suất càng phải cao.

GDP Implicit Price Deflator / Hệ Số Khử Lạm Phát Tính Theo GDP

Trong kỹ thuật kinh tế, thuật ngữ Hệ số khử lạm phát tính theo GDP dùng để khử lạm phát, bằng cách so sánh Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) tính theo giá dollar hiện hành và giá dollar cố định như một tỷ số. Tỷ số này loại trừ những sự thay đổi về giá của hàng hóa và dịch vụ - những yếu tố cấu thành nên GDP và làm thay đổi cơ cấu của GDP.

Yield Gap / Chênh Lệch Lợi Tức

Mức khác biệt giữa lợi tức trung bình đối với cổ phần và tỷ lệ thu hồi tương ứng đối với các chứng khoán dài hạn có lãi suất cố định.

GDP Deflator / Hệ Số Giảm Phát

Hệ số giảm phát GDP (GDP deflator) được tính trên cơ sở so sánh giá trị GDP tính theo giá hiện hành, và GDP danh nghĩa. Nghĩa là đo lường mức tăng và giảm giá trên tất cả các loại hàng hoá dịch vụ tính trong GDP.Cách tính toán hệ số lạm phát không dựa vào các “rổ” hàng hóa và dịch vụ cố định như cách tính toán của các chỉ số khác. Chiếc “rổ” này có thể thay đổi theo mức tiêu dùng của người dân và các loại hình đầu tư. Do đó khi có xuất hiện các loại chi phí mới thì đều được phản ánh vào trong hệ số giảm phát này để thể hiện phản ứng của người tiêu dùng trước những thay đổi của giá cả. Sự thuận tiện của cách tiếp cận này là nó cập nhật được các loại chi phí mới nhất khi có biến động về giá cả. Ví dụ nếu giá của 1kg thịt gà tăng trong khi giá của 1kg thịt bò không thay đổi thì dĩ nhiên là người tiêu dùng có khuynh hướng chuyển sang dùng thịt bò nhiều hơn. Nếu tính cứng nhắc như cách tính của vài chỉ số khác là chỉ dùng những “rổ” hàng cố định thì sẽ không phản ánh kịp thời sự thay đổi này.

Yield / Lợi Tức

Tỷ lệ thu hàng năm đối với một chứng khoán được tính bằng tỷ lệ % so với thị giá hiện tại.

Gauging Money Supply / Đo Lượng Cung Tiền

Nếu bạn theo dõi kỹ càng lượng cung tiền cá nhân, bạn sẽ biết chẳng hạn bao nhiêu tiền mặt trong ví và bao nhiêu tiền trong tài khoản. Ban cũng có thể biết bao nhiêu lương sẽ tới, cũng như những khoản đầu tư nào có thể trở thành tiền mặt một cách nhanh chóng.  Tương tự vậy, các nhà kinh tế và người ra chính sách theo dõi chặt chẽ lượng cung tiền công cộng sử dụng các số đo gọi là M1, M2 và M3.  3 loại M này được gọi là tổng tiền, hoặc các phương pháp nhóm tài sản nhân dân sử dụng theo cách tương tự nhau. M1 chẳng hạn tính đến tài sản thanh khoản cao, như là tiền mặt.  Mục tiêu là tách tiền tiết kiệm khỏi tiền đang được chi tiêu để dự báo nhưng thay đổi trong nền kinh tế. L là số đo của các tài sản cũng rất thanh khoản, và cộng thêm một số loại trái phiếu ngắn hạn, chứng khoán ngắn hạn và trái phiếu tiết kiệm, chẳng hạn thành M3. M1 : hay còn gọi là tiền hẹp, bao gồm tiền ở tất cả các dạng có thể chi tiêu ngay lập tức : tiền mặt và tiền ở tài khoản séc. M2 : hay còn gọi tiền rộng, bao gồm M1 nhưng cộng thêm tiết kiệm và tiền trong tài khoản tiết kiệm dài hạn.  Khoản tiết kiệm dài hạn không thể trực tiếp tiêu ngay được, nhưng có thể chuyển thành tiền mặt rất dễ dàng. M3 : thước đo tiền rộng nhất. Nó bao gồm cả M1 và M2, cộng thêm các tài sản và trách nhiệm tài chính của các tổ chức tài chính, kể cả tiền gửi dài hạn, dạng này khó có thể chuyển ngay thành dạng tiêu được. Đọc các biểu đồ Các báo cáo của FED về chi tiết tài chính của lượng cung tiền phát hành hàng tuần. Nó được cày xới nhiều giai đoạn để chỉ ra cả thay đổi ngắn hạn lẫn xu hướng dài hạn. Số lượng trung bình hàng ngày (tính trên tỷ đô-la) được cung cấp cho từng thước đo tiền M1, M2 và M3 và được in trên tờ Nhật báo phố Wall (Wall Street Journal) thành các tổng cung tiền. Số M3, rộng nhất, luôn là số lớn nhất và M1 đương nhiên là nhỏ nhất. Thêm vào đó, một tóm tắt các tổng cung dự trữ xuất hiện 2 tuần mọt lần, cung cấp thêm các số liệu thống kê tài chính bổ sung. Các thông số điều chỉnh định kỳ luôn được tính và so sánh với các con số không cần điều chỉnh. Các điều chỉnh định kỳ thời gian (mùa vụ) phản ánh luồng tiền thay đổi vào và ra khỏi các tài khoản ngân hàng. Vào mùa xuân, chẳng hạn, các khoản thoái thuế có xu hướng tăng vào các tài khoản trước đó đã trống rỗng sau mùa đông nhân dân chi tiêu cho lễ hội, nghỉ ngơi. Thay đổi thước đo Đầu thập niên 1990, FED không sử dụng thứoc đo quen thuộc là M2 nữa vì lẽ nhân dân giữ tiền trong các tìa khoản quỹ tương hỗ, mà xưa nay không tính trong M2. FED nhận thấy rằng con số M2 này chưa đủ tin cậy để chỉ ra mức tăng trưởng kinh tế. Vì thế, thay vì điều chỉnh lãi suất để kiểm soát cung tiền như là phản ứng với thay đổi M2, phương pháp mới là đặt ra lãi suất thực ngắn hạn (lãi suất ngắn hạn hiện hành trừ đi tỷ lệ lạm phát) ở mức độ FED tin rằng có thể phát sinh tăng trưởng mà không cần gây lạm phát.

Sách Combo 4 Cuốn : Tư Duy Ngược + Tư Duy Mở + Biến Mọi Thứ Thành Tiền Chuột không dây Ugreen M751 với con lăn vô cực Máy chơi game retro Powkiddy X55