Thuật Ngữ Kinh Tế

A B C D E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Z Tất cả

Good Money / Tiền Có Sẵn

Quỹ sẵn có hay QUỸ LIÊN BANG. Thuật ngữ này được sử dụng trong chuyển tiền liên ngân hàng bằng hệ thống vô tuyến Fed của Cục Dự trữ Liên bang, dành cho hoạt động rút tiền trong cùng ngày, trái với CLEARINGHOUSE FUNDS, phải mất ít nhất 1-2 ngày để thanh toán.

Goldfeld - Quandt / Kiểm Định Goldfeld - Quandt

Tên của một phép kiểm định được sử dụng để nhận dạng vấn đề Phương sai không thuần nhất trong Số dư của một phương trình Hồi quy.

Ways And Means Advances / Tạm Ứng

Tạm ứng tiền của ngân hàng Trung ương Anh cho chính phủ để đáp ứng nhu cầu chi tiêu của các bộ, ngành trong ngắn hạn.

Golden Share / Cổ Phiếu Đặc Biệt

Cổ phiếu đặc biệt (hay còn gọi là cổ phiếu vàng) là loại cổ phiếu thường nhưng chủ sở hữu có quyền biểu quyết mạnh hơn các cổ đông khác trong một số tình huống cụ thểNgày 4 tháng 7 năm 2001, Tòa án Hiến pháp châu Âu đã ra chỉ thị chống lại các cổ phiếu vàng, quy định rằng, chúng chỉ được phép tồn tại trong những hoàn cảnh được xác định chặt chẽ. ủy ban châu Âu lý luận rằng, cổ phiếu vàng đã hạn chế sự vận động tự do của dòng vốn trong phạm vi Liên minh châu Âu và tuyên bố rằng, các nước như Đức và Italy sẽ bị đưa ra tòa xét xử vì chính phủ các nước này vẫn nắm giữ cổ phiếu vàng trong các công ty niêm yết.

Golden Rule Of Accumulation / Nguyên Tắc Vàng Về Tích Luỹ; Quy Tắc Vàng Của Tích Luỹ

Con đường tăng trưởng cân đối trong đó mỗi một thế hệ tiết kiệm thế hệ mai sau phần thu nhập mà các thế hệ trước đó đã tiết kiệm được.

Watered Stock / Cổ Phiếu No Nước

Cổ phiếu no nước là thuật ngữ giới đầu tư hay sử dụng vào thế kỷ XIX, chỉ loại cổ phiếuđược các công ty phát hành với một trị giá lạm phát, tức là xa với giá trị ghi sổ của nó. Cần lưu ý là giá trị lạm phát này không phải tạo ra từ thị trường mà là từ chính công ty niêm yết cổ phiếu đó vào lần đầu tiên phát hành ra công chúng (IPO). Cổ phiếu no nước đã được niêm yết với giá khống ngay từ thị trường sơ cấp nên ảnh hưởng rất nhiều đến tình hình cung cầu trên thị trường trên thị trường thứ cấp do gây ra sự sai lệch khi đánh giá trị giá và triển vọng của cổ phiếu. Ở thế kỷ trước, thường người ta lợi dụng sự thiếu hiểu biết và khan hiếm về thông tin để bán các cổ phiếu no nước cho các cổ đông chưa có kinh nghiệm. Từ ngữ no nước được mượn từ cách buôn gia súc trước đây: cho gia súc ăn thật nhiều muối trên đường đi đến chợ, chúng sẽ khát nước rồi cho chúng uống thật nhiều nước ngay trước khi cân để gia tăng trọng lượng một cách giả tạo. Cổ phiếu no nước cũng vậy, chẳng hạn một doanh nhân không lương thiện có thể chỉ trả 500 triệu đồng để mua một công ty, rồi phát hành các cổ phần trị giá một tỷ đồng. Ông ta có thể bán hết các cổ phần cho người khác, và bỏ túi 500 triệu lợi nhuận mà chưa hề kinh doanh sản xuất gì hoặc có thể ông ta chỉ bán phân nửa số cổ phần theo giá giả tạo như thế để thu hồi vốn đã bỏ ra, còn vẫn giữ lại cho mình nửa tổng số cổ phần còn lại. Như thế ông ta sẽ được chia phân nửa tổng số lãi cổ phần của công ty mà thực ra không phải tốn đồng xu cắc bạc nào mua cổ phiếu. Nhờ đề cao đạo đức kinh doanh, đồng thời nhờ các qui định chặt chẽ của nhà nước, ngày nay các kiểu làm ăn như trên hầu như không còn tồn tại nữa. Mọi công ty niêm yết đều phải công bố bản cáo bạch tới cơ quan chứng khoán có thẩm quyền và tới công chúng, nên ít nhất phần nào các nhà đầu tư cũng có thể tính toán được trị giá gốc của cổ phiếu. Khi đã đuợc đưa vào mua bán thì giống như giá cả của hầu hết tất cả mọi hàng hoá khác trên thế giới, giá cổ phiếu đó sẽ phần lớn do qui luật cung cầu trên thị trường quyết định - thể hiện kỳ vọng về khả năng sinh lời của cổ phiếu trong tương lai.  Vậy, nói cho cùng, điều quan trọng nhất khi mua cổ phiếu là khả năng sinh lợi và các triển vọng tăng trưởng của công ty, chứ không phải tổng trị giá nhà xưởng và máy móc thiết bị của nó. Cổ phiếu của đa số công ty lớn thường được bán với một giá cao hơn nhiều so với giá trị ghi sổ của nó - đôi khi cao gấp đôi hay gấp ba lần thì đây không được gọi là cổ phiếu no nước, không được coi là lạm phát giá trị vì nó hàm chứa trong đó tiềm năng sinh lời cao trong tương lai. Ngược lại có những công ty đòi hỏi phải đầu tư lớn vài tài sản cố định, như các công ty đường sắt, giá cổ phiếu bán ra thường thấp hơn giá ghi sổ rất nhiều vì suất sinh lời thường thấp.

Golden Rule / Nguyên Tắc Vàng; Quy Tắc Vàng

Con đường tăng trưởng tối ưu đưa ra mức tiêu dùng đầu người là bền vững và tối đa trong một nền kinh tế.

Golden Parachute / Phụ Cấp Thôi Việc

Golden Parachute có nghĩa là chiếc dù vàng, nhưng đồng thời là một thuật ngữ kinh tế. Nó được dùng để chỉ một thỏa thuận, hợp đồng được kí kết về việc bồi thường cho các giám đốc khoản tiền khi hợp đồng kết thúc và những lợi nhuận khác vì quyết định để họ thôi việc sớm so với hợp đồng, vì các lý do như sự thay đổi quyền quản lý sau khi diễn ra việc hợp tác.Các thành viên ban quản trị đưa ra yêu cầu về “Phụ cấp thôi việc” dựa trên các văn bản luật quy định về các công ty sau khi sát nhập, có thể yêu cầu thêm sự ủng hộ của các cổ đông. Phụ cấp thôi việc sẽ được áp dụng khi họ từ chức hoặc bắt buộc phải từ chức khi có sự thay đổi quyền sở hữu khi công ty diến ra việc sát nhập. Một vài yêu cầu “Phụ cấp thôi việc” vẫn được đưa ra khi quyền điều hành công ty vẫn không thay đổi hoàn toàn, những “Phụ cấp thôi việc” như vậy nhằm hưởng một tỷ lệ phần trăm nhất định trong số cổ phần hợp tác."Phụ cấp thôi việc" có thể là số tiền phải thanh toán sau khi kết thúc hợp đồng, tiền thưởng, hay cổ phiếu,...“Phụ cấp thôi việc” được chấp nhận là một thỏa thuận, hợp đồng thỏa đáng vì 3 lý do:Thứ nhất, sau khi nhận được các khoản phụ cấp này, các giám đốc này có thể giúp các nhà quản trị mới trong việc thuê và giữ lại các nhân viên chất lượng cao trong khi không phải miễn cưỡng làm việc cho họ.Thứ hai, “Phụ cấp thôi việc” sẽ được tính vào chi phí sát nhập. Chính vì vậy, “Phụ cấp thôi việc” sẽ làm cho việc sát nhập và mua lại trở nên tốn kém hơn. Đây cũng được coi là một trong những biện pháp nhằm ngăn cản việc sát nhập.Cuối cùng, với phụ cấp thôi việc, các giám đốc này có thể đưa ra những ý kiến tốt về hình ảnh nhà quản trị mới với các cổ đông. Nếu không, họ sẽ chống lại nhà quản trị mới, gây sự quan tâm của các cổ đông, quyết giành lại được công việc cũng như các lợi ích khác của mình.Hiện nay, chúng ta vẫn thường hiểu "Phụ cấp thôi việc" như một khoản tiền nhằm giúp đỡ những người buộc phải thôi việc vì các lý do như cắt giảm biên chế, lao động mất sức,... Bài viết này dịch "Golden Parachute" là "Phụ cấp thôi việc" có thể sẽ gây một số nhầm lẫn, nhưng hi vọng mọi người hiểu rõ ý nghĩa của từ này.

Waste / Chất Thải

Một thứ sản phẩm không thể tránh khỏi của hoạt đông kinh tế.

Golden Handshake / Điều Khoản "Cái Bắt Tay Vàng"

“Golden handshake” là một điều khoản trong hợp đồng lao động đối với các nhân sự quản trị cao cấp, điều khoản này đảm bảo cho nhà quản trị một khoản bù đắp gián đoạn đủ lớn trong trường hợp bị sa thải, nghỉ việc do tái cấu trúc doanh nghiệp hoặc bị về hưu. Khoản đền bù này có thể nằm ở dạng tiền mặt, cổ phần hoặc những lợi ích khác và thường được đi kèm với việc được hưởng quyền chọn mua cổ phiếu lớn . “Golden handshakes” thông thường chỉ được đề xuất cho những vị trí quản trị viên cao cấp bởi các công ty lớn và có thể có giá trị hàng triệu đôla. “Golden handshakes” được đưa vào để đền bù cho những rủi ro vốn có khi nhận một công việc mới, bởi vì các quản trị viên cao cấp thường có xu hướng dễ bị sa thải và bởi vì việc công ty thuê một người ngoài đảm nhận vị trí cao như thế có thể chỉ là một vị trí tạm thời trong mảng tài chính. Việc này làm một số nhà đầu tư lo lắng vì họ không xác định được nhà quản trị đó liệu sẽ đảm nhận thành công vai trò của mình đến mức độ nào. Đã có nhiều trường hợp, nhà quản trị vẫn nhận tiền, trong khi dưới cương vị quản lý của mình, công ty bị mất hàng triệu đô-la và hàng ngàn công nhân bị sa thải.

Warrants / Chứng Khế

Từ này có nghĩa khác nhau khi sử dụng cho chứng khoán và hàng hóa. Ðối với hàng hóa thì đây là biên nhận ám chỉ quyền sở hữu đối với một lô hàng cụ thể nào đó. Ðối với chứng khoán thì đây là một công cụ phái sinh có ngày hết hạn và giá thực hiện cùng với một số điều kiện khác. Chứng khế thường được phát hành gắn liền với một loại chứng khoán khác. Nó cho phép người sở hữu được quyền mua cổ phiếu thường hoặc chuyển đổi chứng khoán thành cổ phiếu thường theo một giá định trước trong một thời hạn nhất định. Giá ước định trên chứng khế và thời hạn của nó thường cao hơn thị giá cổ phiếu tại thời điểm phát hành chứng khế và thời hạn của nó thường dài hơn thời hạn của quyền mua rất nhiều.Các chứng khế thường được phát hành kèm với trái phiếu hoặc cổ phiếu ưu đãi. Đây là điều kiện hấp dẫn đối với các nhà đầu tư và nó có thể làm giảm chi phí phát hành sẽ trở thành hàng hóa, vận động độc lập với chứng khoán gốc và chịu tác động của quy luật cung-cầu trên thị trường.

Warranted Rate Of Growth / Tốc Độ Tăng Trưởng Đảm Bảo

Tốc độ tăng trưởng của thu nhập quốc dân duy trì được sự cân bằng giữa tiết kiệm tự định và đầu tư tự định theo thời gian, bằng cách đó phát triển ý tưởng của Keynes về thu nhập cân bằng sang trạng thái sôi động.

Warrant / Chứng Quyền

Chứng quyền là một loại chứng khoán cho phép người nắm giữ có thể mua được cổ phần của công ty phát hành ra nó với giá xác định trong một khoảng thời gian nhất định. Chứng quyền thường đi kèm với Trái phiếu hoặc cổ phần ưu đãi cho phép công ty phát hành chỉ phải trả lãi hoặc cổ tức thấp hơn mức bình thường. Thông thường những loại chứng quyền này có thể được tách riêng ra và được bán riêng không liên quan đến Trái phiếu và cổ phần. Chứng quyền rất giống với hợp đồng quyền chọn mua (xem CALL OPTIONS), nhưng chứng quyền được phát hành và bảo đảm bởi công ty, còn hợp đồng quyền chọn là công cụ không được phát hành bởi công ty. Thời gian hiệu lực của chứng quyền kéo dài hàng năm còn các hợp đồng quyền chọn chỉ được tính theo tháng. Có 3 loại chứng quyền: 1. Truyền thống (traditional) Chứng quyền truyền thống được phát hành để đi kèm với Trái phiếu (còn được gọi là warrant-linked bond), và đại diện cho quyền được mua cổ phiếu của tổ chức phát hành Trái phiếu trên. Nói cách khác, công ty phát hành chứng quyền truyền thống cũng là công ty phát hành cổ phiếu. Chứng quyền có tác dụng như "chất xúc tác" để việc bán Trái phiếu trở nên dễ dàng hơn, và làm giảm tỷ lệ lãi suất mà công ty bán Trái phiếu sẽ phải dành cho khách hàng. 2. Chứng quyền không có Trái phiếu đi kèm (Naked warrants) Được phát hành mà không cần phải có Trái phiếu đi kèm, và giống như chứng quyền truyền thống, naked warrants cũng được giao dịch trên Sở giao dịch Chứng khoán. Loại chứng quyền này thường được phát hành bởi ngân hàng hay các công ty Chứng khoán. 3. Chứng quyền do Chính phủ phát hành Khi một cơ quan Nhà nước phát hành Séc mà lại không có khả năng trả bằng tiền mặt (do thiếu tiền mặt), nhưng cơ quan đó lại có thể được trong tương lai cùng với một mức lãi suất nhất định, thì loại Séc như thế cũng được gọi là chứng quyền.

War Chest / Hòm Chiến Tranh

Trong kinh tế, war chest là một món tiền được cất riêng nhằm dự trù cho những thay đổi bất thường trong môi trường kinh doanh, hoặc để sử dụng khi có cơ hội mở rộng doanh nghiệp.

Gold Standard System / Chế Độ Bản Vị Vàng

Chế độ bản vị vàng - Gold Standard SystemChế độ bản vị vàng là chế độ tiền tệ mà pháp luật quy định dùng vàng để đúc tiền vàng. Trong quá trình phát triển, chế độ này tiến triển dưới hình thức của 3 chế độ khác nhau: bản vị tiền vàng, bản vị vàng thỏi và bản vị hối đoái vàng.Lịch sử phát triểnTính chất không ổn định của chế độ hai bản vị đã kìm hãm sự phát triển nhanh của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, nhưng trong thời kỳ đầu của chủ nghĩa tư bản chưa có đủ điều kiện khách quan để thực hiện một chế độ bản vị đơn vàng, vì lượng vàng khai thác ra chưa thể đáp ứng yêu cầu lưu thông tiền tệ bằng vàng, do đó, phải đúc tiền bạc để đưa vào lưu thông.Mãi tới thế kỷ 18 sang thế kỷ 19, do công nghiệp khai thác vàng phát triển, các nước mới có đủ điều kiện chuyển từ chế độ hai bản vị sang chế độ bản vị vàng. Anh là nước có nền kinh tế và thương mại phát triển nhất lúc bầy giờ, là nước đầu tiên thực hiện chế độ bản vị vàng, spng cũng phải trải qua một hời kỳ chuyển tiếp lâu dài từ 1717 đến 1821. Pháp lệnh của nhà nước Anh công bố thực hiện chế độ bản vị vàng vào năm 1816 nhưng mãi tới năm 1821 mới được thi hành.

Gold Points / Các Điểm Vàng

Các mức tỷ giá trao đổi mà tại đó khi một đồng tiền ở một BẢN VỊ VÀNG, thì việc mua vàng từ Ngân hàng trung ương và xuất khẩu vàng (điểm xuất khẩu vàng) hay nhập khẩu và bán nó cho ngân hàng trung ương (điểm nhập khẩu vàng) là có lợ nhuận.

Creating Money / Tạo Ra Tiền

Để tạo ra tiền, FED New York mua các chứng khoán chính phủ từ ccs ngân hàng và công ty môi giới chứng khoán.  Tiền trả cho chứng khoán trước đó chưa tồn tại trong nền kinh tế, nhưng có giá trị, bởi lẽ các chứng khoán FED đã mua vào có giá trị.  Tiền được tạo ra nhiều hơn khi ngân hàng và các nhà môi giới cho vay tiền họ thu được từ bán chứng khoán chính phủ tới các khách hàng, người sẽ tiêu dùng vào hàng hoá và dịch vụ.  Các bước đơn giản hoá dưới đây minh hoạ phần nào chu trình hoạt động. Bước 1- FED viết séc 100 triệu đô-la mua chứng khoán từ một nhà môi giới chứng khoán.  Nhà môi giới này gửi tiền vào ngân hàng (A), tăng số lượng tiền mặt của ngân hàng. Bước 2- Ngân hàng A có thể cho vay khách hàng khoảng 90 triệu trên tổng số 100 triệu này sau khi đã xếp riêng ra khoản 10%.  FED yêu cầu tất cả các ngân hàng phải giữ lại 10% tổng tiền gửi vào dự trữ.  Một cặp vợ chồng trẻ vay 100.000 đô-la để mua một ngôi nhà mới.  Người bán lại gửi số tiền bán được vào ngân hàng (B) của họ. Bước 3- Ngân hàng B hiện lại có 90.000 để cho vay mà trước đó không hề có. Một phụ nữ vay 10.000 từ ngân hàng B này để mua một xe ô-tô, và người bán ô-tô lại gửi số tiền thu được vào ngân hàng C. Bước 4- Ngân hàng C hiện lại có 9.000 đô-la để cho vay. Một xê-ri hoạt động như vừa thấy tạo ra lượng tiền 190.099.000 đô-la chỉ trong 4 bước.  Thông qua việc lặp lại các quá trình cho vay liên quan tới nhiều ngân hàng và khách hàng, 100 triệu đô-la mà FED lúc đầu tung vào tăng tổng cung tiền về lý thuyết có thể tạo thêm ra được một lượng tiền mới có giá trị khoảng 900 triệu đô-la.

Want Creation / Tạo Ra Mong Muốn Tiêu Dùng

Việc các công ty xác định ra những nhu cầu của người tiêu dùng còn tiềm tàng và việc biến nó thành mong muốn tiêu dùng có ý thức bằng việc tiếp thị mạnh mẽ các sản phẩm được chế tạo nhằm đáp ứng những nhu cầu tiềm ẩn của người tiêu dùng.

Gold Market / Thị Trường Vàng

Thị trường buôn bán vàng kim loại, tiền vàng hay vàng nén.

Walras' Law / Định Luật Walras

Hình thái chung của định luật Walras là cho n thị trường, nếu n-1 thị trường đạt trạng thái cân bằng thị trường còn lại cũng phải đạt trạng thái cân bằng bởi vì không thể có sự dư thừa ròng cung hay cầu cho hàng hoá (kể cả tiền tệ).

Sách Combo 4 Cuốn : Tư Duy Ngược + Tư Duy Mở + Biến Mọi Thứ Thành Tiền Chuột không dây Ugreen M751 với con lăn vô cực Máy chơi game retro Powkiddy X55