Wharton Model / Mô Hình Wharton
Một mô hình gồm 76 phương trình về nền kinh tế Mỹ phát triển từ mô hình KLEIN-GOLDBERGER (K-G) nhưng có 4 điểm khác biệt: 1.Mô hình này sử dụng dữ liệu tính toán trên cơ sở quý, Mô hìn K-G tính trên cơ sở năm. 2.Mô hình này được thiết kế chủ yếu được dùng để dự đoán hành vi kinh tế cụ thể là thu nhập quốc dân và mức việc làm. 3.Mô hình này được phân tán tới một mức độ lớn hơn nhiều và có một khu vực tiền tệ phát triển hơn nhiều. 4.Hàm sản xuất được thiết lập dựa trên các hàm kiểu COBB-DOUGLAS.
Good-This-Month Order (GTM) / Lệnh Đến Cuối Tháng
Thuật ngữ này được dùng khi lệnh mua hay bán chứng khoán trái phiếu (thường với giá giới hạn hay giá ngưng do khách hàng định) có giá trị đến cuối tháng. Trong trường hợp giá giới hạn, khách hàng chỉ thị cho broker hoặc là mua với giá giới hạn hoặc giá cao hơn. Trong trường hợp giá ngưng, khách hàng chỉ thị broker đăng ký thị một khi có một dịch vụ mua bán chứng khoán thực hiện theo giá ngừng đã ấn định.
Well-Behaved / Có Hành Vi Tốt
Một thuộc tính của hàm sản xuất và độ thoả dụng. Nó đòi hỏi sản xuất (độ thoả dụng) bằng 0 nếu một trong những đầu vào (hàng hoá) bằng 0 và nó cũng đòi hỏi sản phẩm biên (độ thoả dụng luôn luôn dương nhưng giảm dần khi những lượng của một yếu tố sản xuất (hàng hoá) đã cho nào đó tăng dần.
Goods Traded On Financial Futures Market / Các Loại Hàng Hóa Giao Dịch Trên Thị Trường Futures Tài Chính
Các hợp đồng futures tài chính trong thị trường luôn luôn hoạt động. Giống như các hàng hoá khác, các hợp đồng này được giao dịch trên các thị trường đặc biệt, nơi chúng là một trong những sản phẩm được giao dịch năng động nhất. Hợp đồng lãi suất Trái phiếu kho bạc Mỹ dài hạn của Chicago Board, hay hợp đồng lãi suất Eurodollar của Sở giao dịch thương mại Chicago có thể là những ví dụ điển hình. Nói chung, các hợp đồng thường được chia ra thành ba loại: Các loại tiền tệ Các chỉ số cổ phiếu Các lãi suất Giao dịch các loại tiền tệ có lịch sử lâu đời nhất trên thị trường futures, có niên đại từ những năm 1970. Các hợp đồng giao dịch futures lãi suất thì bắt đầu được giao dịch năm 1975, và các hợp đồng chỉ số cổ phiếu được bổ sung thêm từ năm 1982. Với khả năng phản ánh quy mô quốc tế của các giao dịch futures tài chính, rất nhiều hợp đồng mà Tạp chí phố Wall theo dõi được giao dịch tại các sở giao dịch nước ngoài, bao gồm các Sở giao dịch Futures Tài chính Quốc tế London (LIFFE), Sở giao dịch Futures Sydney (SFE) và Sở giao dịch Tiền tệ Quốc tế Singapore (SIMEX).
Welfare State / Nhà Nước Phúc Lợi
Thường được hiểu là một quốc gia có chính phủ đóng một vai trò tích cực trong việc chú trọng phát triển phúc lợi xã hội.
Welfare Economics / Kinh Tế Học Phúc Lợi
Cụm thuật ngữ chung để chỉ khía cạnh chuẩn tắc của kinh tế học. Những giả định cơ bản của kinh tế phúc lợi là các đánh giá chủ quan mà bất kỳ một nhà kinh tế học nào cũng có thể chấp nhận hoặc bác bỏ.
Kinh Tế Học Phúc Lợi (Welfare Economics) là một thuật ngữ trong tài chính. Nó mô tả khái niệm, cơ chế hoặc quy trình cụ thể, được sử dụng trong phân tích, định giá, giao dịch và quản trị rủi ro. Ví dụ: Kinh Tế Học Phúc Lợi (Welfare Economics) có thể dùng trong phân tích báo cáo tài chính hoặc định giá doanh nghiệp, tùy ngữ cảnh. Ứng dụng: hỗ trợ lập báo cáo, phân tích, thẩm định và ra quyết định tài chính. Khi áp dụng, cần lưu ý đến bối cảnh pháp lý và thị trường để hiểu đúng.
Goods / Các Hàng Hoá Tốt
Các hàng hoá hữu hình có đóng góp tích cực vào PHÚC LỢI KINH TẾ. Phân biệt với hàng xấu.
Goodness Of Fit / Mức Độ Phù Hợp
Một cụm thuật ngữ chung mô tả mức độ phù hợp số liệu của một phương trình kinh tế lượng đựơc ước lượng.
Weighted Least Squares / Bình Phương Gia Quyền Nhỏ Nhất
Một phiên bản của bình phương thông thường nhỏ nhất trong đó mọi biến số được nhân với một hệ số nào đó, có thể là một hàm của một trong những biến số trong phương trình.
Weighted Average / Bình Quân Gia Quyền
Bình quân trong đó mỗi hạng được nhân với một hệ số trước khi tính toán và tổn các hệ số này là một đơn vị.
Weight Average Cost Of Capital - WACC / WACCC: Công Thức
WACC là chi phí sử dụng vốn được doanh nghiệp tính toán dựa trên tỷ trọng các loại vốn mà doanh nghiệp sử dụng. Vốn của doanh nghiệp bao gồm: cổ phần thường, cổ phần ưu đãi, trái phiếu và các khoản nợ dài hạn khác. WACC được tính toán như sau: WACC = (E/V)*Re + (D/V)*Rd *(1-Tc) Trong đó: Re = chi phí sử dụng vốn cổ phầnRd = chi phí sử dụng nợ E = giá trị thị trường của tổng vốn cổ phầnD = giá trị thị trường của tổng nợ của doanh nghiệpV = Tổng vốn dài hạn của doanh nghiệpTc = thuế thu nhập doanh nghiệp.Nói rộng hơn, tài sản của doanh nghiệp được tài trợ dù bằng vốn cổ phần hay bằng nợ thì WACC là chi phí sử dụng vốn bình quân của các khoản tài trợ của doanh nghiệp. Bằng việc tính toán chỉ số WACC, chúng ta biết được doanh nghiệp phải tốn bao nhiều chi phí cho mỗi đồng tiền tài trợ cho doanh nghiệp. WACC của doanh nghiệp còn được gọi là tỷ suất sinh lợi đòi hỏi tối thiểu mà doanh nghiệp phải đạt được khi quyết định thực hiện một dự án mở rộng nào đó, hoặc quyết định mua lại doanh nghiệp khác. WACC được sử dụng như một tỷ lệ chiết khấu thích hợp đối với các dòng tiền từ các dự án có mức rủi ro tương tự mức độ rủi ro của doanh nghiệp. Còn nếu dự án có mức độ rủi ro cao hơn thì tỷ lệ chiết chấu sẽ đòi hỏi 1 tỷ lệ cao hơn tương ứng với mức rủi ro của dự án đó. Và ngược lại.
Weekend Effect / Hiệu Ứng Cuối Tuần
Hiệu ứng cuối tuần là một thuật ngữ dùng để diễn tả sự một hiệu ứng lan truyền trên thị trường tài chính khi chứng khoán được giao dịch trở lại vào Thứ Hai thường có mức giá thấp hơn đáng kể so với các mức giá vào ngày Thứ Sáu trước đó. Hiệu ứng cuối tuần có các nét đặc trưng thường thấy trong các mẫu hình phân tích kỹ thuật kinh doanh chứng khoán trong nhiều năm qua. Đã có một số lượng lớn các lý thuyết để giải thích cho hành vi thị trường. Một số lý thuyết đã cho rằng sở dĩ có hiệu ứng cuối tuần bởi các công ty thường có khuynh hướng công bố các thông tin xấu vào ngày thứ Sáu sau khi thị trường đã đóng cửa ngừng giao dịch và do vậy giá chứng khoán vào ngày thứ Hai bị giảm xuống đáng kể. Một số lý thuyết khác lại cho rằng hiệu ứng cuối tuần có thể liên quan đến việc bán khống. Bán khống sẽ tác động đến giá chứng khoán với những vị thế bán có khả năng sinh lời nhiều. Hoặc, hiệu ứng có thể đơn giản được giải thích là kết quả của sự giảm sút trong cái nhìn lạc quan giữa Thứ Sáu và Thứ Hai của nhà kinh doanh ngắn hạn (trader).
Web 2.0 / Web 2.0
Trong nghiên cứu và quảng bá công nghệ Web, cụm từ Web 2.0 được hiểu là thế hệ thứ 2 của website và các dịch vụ hosting, ví dụ những mạng xã hội (youtube,Myspace, Facebook...), các phần mềm wiki (ví dụ wikipedia)..., với mục đích tạo điều kiện thuận lợi cho sự sáng tạo, hợp tác và chia sẻ giữa những người sử dụng. Thuật ngữ được gọi như vậy từ sau cuộc hội thảo đầu tiên về Web 2.0 của công ty truyền thông O'Reilly Media năm 2004. Mặc dù thuật ngữ nhắc đến một phiên bản mới của World Wide Web, nhưng nó không đề cập đến việc phát triển kĩ thuật mới nào cả, mà chỉ là sự thay đổi trong cách sử dụng website của các nhà phát triển phần mềm và người dùng dùng. Theo Tim O'Reilly (người sáng lập của O'Reilly Media, người ủng hộ phần mềm miễn phí và phần mềm mã nguồn mở): "Web 2.0 là một cuộc cách mạng kinh doanh trong ngành công nghiệp máy tính được tạo ra từ quan niệm coi Internet là sân chơi và những nỗ lực trong việc hiểu các quy tắc để đi tới thành công trong sân chơi đó." Đặc điểm của Web 2.0 Web 2.0 cho phép người sử dụng làm được nhiều việc hơn là chỉ tìm kiếm thông tin. Họ có thể xây dựng trên những ứng dụng của Web 1.0 để tạo ra sân chơi, cho phép người sử dụng chạy các phần mềm ứng dụng hoàn toàn qua một browser. Người sử dụng có thể sở hữu dữ liệu trên một website 2.0 và kiểm soát dữ liệu qua đó. Những website này có thiết kế cho phép tham gia, vì vậy khuyến khích người sử dụng tăng thêm giá trị khi họ sử dụng. Kinh tế học và Web 2.0 Việc phân tích các ứng dụng kinh tế của Web 2.0 và công nghệ liên kết như Wiki, blog, mạng xã hội, mã nguồn mở, nội dung mở, share file... đã giành được sự chú ý của giới học thuật. Mảng nghiên cứu này chuyên nghiên cứu những ứng dụng của Web 2.0 đối với mộtnền kinh tế và các quy tắc kinh tế liên quan đến Web 2.0. Don Tapscott và Anthony D. Williams đã nhận định trong cuốn sách của mình Wikinomics: How mass collaboration changes everything (2006) cho rằng nền kinh tế của thế hệ website mới phụ thuộc vào tính hợp tác. Tapscott và Williams cho rằng điều này là rất cần thiết đối với các công ty truyền thông để tìm ra cách tạo ra lợi nhuận với sự giúp đỡ của Web 2.0. Triển vọng của nền kinh tế dựa trên Internet phụ thuộc vào các quy tắc của tính mở, tìm kiếm, chia sẻ, và hành động mang tính toàn cầu. Các tổ chức cũng có thể tận dụng các quy tắc và mô hình này để phát triển dựa trên các ứng dụng tương tự Web 2.0. "Các công ty có thể thiết kế và lắp ráp sản phẩm cùng với khách hàng, và trong một số trường hợp khách hàng có thể là người tạo ra phần lớn giá trị."
Goodhart's Law / Luật Goodhart
Một quy luật mang tên nhà kinh tế Goodhart cho rằng bất cứ tổng lượng tiền nào được chọn làm biến mục tiêu thì cũng đều bị bóp méo bởi chính những hành động vào mục tiêu đó.
Good 'Til Canceled/GTC / Hiệu Lực Cho Đến Khi Kết Thúc
Một lệnh mua hoặc bán chứng khoán với một giá xác định trước và có hiệu lực cho đến khi nhà đầu tư quyết định dừng lệnh hoặc cho đến khi giao dịch được thực hiện. Nếu một lệnh không có chỉ dẫn "Hiệu lực cho đến khi kết thúc" thì lệnh đó sẽ hết hiệu lực vào cuối ngày giao dịch mà lệnh được đưa ra. Trong hầu hết các trường hợp, các lệnh GTC bị các công ty môi giới hủy sau 30-90 ngày. Những lệnh kiểu này thường được đặt ở mức giá khác xa so với mức giá cổ phiếu ở thời điểm đặt lệnh. Ví dụ, một cổ phiếu bạn đang giữ có giá hiện tại là 40 đôla, nhưng bạn tin rằng giá của nó sẽ lên mức 50 đôla vào thời điểm bạn bán ra vì vậy bạn sẽ sử dụng lệnh GTC. Một khi lệnh bán GTC đã được đặt nếu giá của cổ phiếu ở mức 50 đôla ở một thời điểm bất kì trong các tháng tiếp theo thì các cổ phiếu của bạn sẽ được bán ra.
Weath Tax / Thuế Của Cải
Thuế đánh vào giá trị của cải ròng. Nó thường đánh vào những thời kỳ đều đặn - thường là một năm trên những tài sản ròng của các cá nhân, mặc dù ở một số nước như Nauy thuế này cũng được do công ty trả.
Good 'Til Canceled/GTC / Lệnh GTC
GTC là một lệnh mua hoặc bán một loại chứng khoán tại một mức giá đã định sẵn. Lệnh này có hiệu lực cho đến khi nhà đầu tư quyết định huỷ lệnh hoặc lệnh đã được thực hiện xong. Nếu như một nhà đầu tư đặt lệnh mà không đưa ra chỉ dẫn GTC thì lệnh này sẽ hết hiệu lực vào cuối của ngày đặt lệnh. Trong hầu hết các trường hợp, công ty chứng khoán sẽ huỷ lệnh GTC trong vòng từ 30 đến 90 ngày. Lệnh GTC thường được đưa ra khi nhà đầu tư kì vọng mức giá thị trường trong tương lai sẽ đạt tới mức anh ta mong đợi. Ví dụ : nếu bạn nắm giữ cổ phiếu có giá bán hiện tại trên thị trường là 40 đôla và bạn tin rằng giá cổ phiếu sẽ nhanh chóng tăng đến 50 đôla_ mức giá mà bạn sẵn sàng bán. Khi đó bạn nên đặt lệnh bán GTC. Khi đã đặt lệnh, nếu giá cổ phiếu đạt mức 50 đôla vào bất cứ thời điểm nào trong một vài tháng tiếp theo, lệnh của bạn sẽ được thực hiện. Tuy nhiên quá thời gian quy định bởi các công ty môi giới mà lệnh của bạn vẫn không thể thực hiện được (tức là mức giá không thể đạt mức 50 đôla trong thời gian quy định) thì lệnh của bạn sẽ bị huỷ. Ngoài lệnh GTC, bạn cũng có thể đặt lệnh thị trường, lệnh dừng, lệnh giới hạn hay lệnh dừng giới hạn.
Weath Effect / Hiệu Ứng Của Cải
Sự gia tăng trong tổng chi tiêu do mức giá cả hoặc lãi suất giảm xuống. Người ta cho rằng, bất cứ một sự giảm xuống của tổng cầu sẽ được đảo ngược lại do các tác động gây ra khi mức giá cả hoặc lãi suất giảm xuống.
Wealth / Của Cải
Bất kể cái gì có giá trị thị trường và có thể đổi lấy tiền hoặc hàng hoá đều có thể coi là của cải.
Good Through / Lệnh Suốt
Lệnh suốt là lệnh mua hay bán chứng khoán trái phiếu hay hàng hoá theo giá đã ấn định trước vào thời khoảng đã định, trừ khi huỷ bỏ, thực hiện hay thay đổi. Nó là loại lệnh có giới hạn và có thể là GTW đã xác định, GTW trong thời khoảng ngắn hơn dài hơn.






