Taxable Equivalent Yield / Suất Thu Lợi Tương Đương Chịu Thuế
Tổng thu nhập, bao gồm thu nhập kiếm được từ chứng khoán miễn thuế (trái phiếu đô thị). Suất thu lợi này thể hiện lại thu nhập không chịu thuế trong danh mục đầu tư trên cơ sở có tính tương xứng với thu nhập chịu thuế trước khi thực sự nộp thuế, không bao gồm trái phiếu mục đích riêng hiện không còn được miễn thuế hoàn toàn.
Target Rate / Lãi Suất Mục Tiêu
Lãi suất thiết lập bởi Ủy ban Tài sản – Nợ phải trả của ngân hàng như mục tiêu mong muốn trong định lại giá các khoản tiền gửi hoặc khoản cho vay đáo hạn. Xem REPRICING OPPORTUNITY; RUNOFF. Internal rate of return, còn được biết đến là lãi suất ngưỡng (hurdle rate) (chi phí vốn) trong hoạch định vốn.
Target Balance / Số Dư Mục Tiêu
Số dư mong muốn trong một tài khoản tiền gửi đáp ứng tiêu chuẩn tối thiểu để có khả năng sinh lãi hoặc lợi suất hòa vốn. Có nhiều công thức khác nhau trong định giá tài khoản tiền gửi để trang trải chi phí dịch vụ. Nếu một tài khoản séc được định giá riêng rẽ cho các tài khoản tiền gửi khác, thì một ngân hàng có thể đòi hỏi khách hàng giữ số dư tối thiểu trong tài khoản bất kỳ lúc nào, thí dụ như $1,500, để đủ điều kiện cho dịch vụ séc miễn phí. Một ngân hàng có thể bỏ qua phí dịch vụ cho những khách hàng có tài khoản tiết kiệm với số dư cao, ví dụ, chứng chỉ thị trường tiền tệ $10,000, hoặc kết hợp các tài khoản được giữ trong tiền ký gửi, hoặc số dư bù trừ nắm giữ bởi một công ty.
Tandem Loan / Khoản Cho Vay Được Trợ Cấp
Chương trình cầm cố được trợ cấp theo đó bên mua tài sản cầm cố cao hơn giá thị trường hợp lý, và bán lại thông qua hiệp hội cầm cố được trợ cấp quốc gia liên bang (Fannie Mae). Chương trình cung cấp sự hỗ trợ tài chính cho những tổ chức phát triển dự án nhà ở công chúng phi lợi nhuận. Ginnie Mae trả mức chênh lệch - chiết khấu giữa giá trả bởi Fannie Mae và giá mà Ginnie Mae mua tài sản cầm cố, sử dụng xếp hạng tín dụng của nó để bảo đảm mức chiết khấu, mà các cơ quan về nhà ở công chúng không đủ khả năng đảm nhận, và chấp nhận thu lỗ giới hạn trong giao dịch.
Gold Card / Thẻ vàng
Là thẻ tín dụng Visa và Mastercard với mức tín dụng tối thiểu là $5000, và thường cao hơn. Những thẻ này có mức phí hàng năm cao hơn thẻ tín dụng tiêu chuẩn ngân hàng, và được đưa ra thị trường tới khách hàng có thu nhập trên trung bình. Đôi khi chúng được gọi là thẻ đặc quyền hay thẻ thưởng. Thẻ vàng American Express khác với các thẻ do ngân hàng phát hành. American Express phát hành thẻ, nhưng mức tín dụng được thỏa thuận riêng bởi một ngân hàng, có vai trò như đại lí cho nhà phát hành thẻ, và thay đổi khác nhau giữa các ngân hàng. Công ty Dịch vụ Du lịch của American Express phát hành những thẻ vàng đầu tiên vào năm 1966, và đề nghị ưu tiên sở hữu tên gọi này, nhưng yêu cầu không được tòa án xác nhận.
Take The Offer / Nhận Giá Chào
Thuật ngữ thể hiện người mua sẵn lòng chấp nhận giá chào của bên bán đã niêm yết. Trái với HID THE BID.
Take-Out Loan / Cho Vay Dài Hạn Có Thế Chấp
Cung cấp tài chính thường xuyên, thường được cơ cấu như một khoản cầm cố, thanh toán dần với các khoản cố định, trên phát triển văn phòng, dự án nhà ở, hoặc tài sản tạo ra thu nhập sử dụng hỗn hợp. Cải tiến gần đây là cầm cố không phiếu lãi, mà tiền lãi đến hạn và phải trả bằng một khoản tiền trọn gói (lump installment, baloon payment) một lần khi đáo hạn.
Take-Out Lender / Tổ Chức Cho Vay Dài Hạn
Định chế tài chính gia hạn vay cầm cố dài hạn về bất động sản để thay thế tài trợ giữa kỳ, hoặc khoản vay xây dựng được thu xếp bởi một định chế tiết kiệm và cho vay, một ngân hàng hoặc một ngân hàng cầm cố. Định chế vay gia hạn khoản cho vay dài hạn, hoặc cung cấp tài chính lâu dài, thường là một công ty bảo hiểm, hoặc một nhà đầu tư định chế sẵn sàng đầu tư dài hạn trong tài sản tạo thu nhập, ghi nhận một khoản lợi nhuận vốn từ việc bán tài sản sau cùng, ngoài dòng tiền mặt từ thanh toán tiền thuê của bên thuê bất động sản.
Take-Out Commitment / Cam Kết Nhận Mua Cầm Cố
Thỏa thuận giữa ngân hàng cầm cố và nhà đầu tư dài hạn, theo đó nhà đầu tư đồng ý mua một cầm cố vào một ngày cụ thể trong tương lai. Nhà đầu tư, gọi là bên cho vay mua cầm cố (take-out lender), thường là một công ty bảo hiểm hoặc một định chế tài chính khác. Xem TAKE-OUT LENDER; TAKE-OUT LOAN.
Take-Out / Nhận Được, Mua Thâu Tóm
Lợi nhuận giao dịch từ bán một lượng chứng khoán và mua một lượng chứng khoán khác với mức giá thấp hơn. Mức chênh lệch có thể được tái đầu tư hoặc tính như lợi nhuận. Giá chào mua đối với người bán chứng khoán, dự định mua thâu tóm vị thế của người bán. Xem LOCKED MARKET. Trong cho vay, để trả hết cho một chủ nợ khác của bên vay, bằng cách thay thế một khoản vay ngắn hạn với một khoản vay có ngày đáo hạn dài hơn, nhận từ bên cho vay kia. Xem TAKE-OUT COMMITMENT.
Take Down / Tạm Ứng Trước, Giá Chiết Khấu, Số Chứng Khoán Mua Trước
Ngân hàng. Tạm ứng tiền cho một người vay trong thỏa thuận tín dụng hoặc cam kết cho vay. Một người vay rút $20,000 trong $70,000 hạn mức tín dụng tuần hoàn đã tạm ứng trước số tiền sử dụng. Trái phiếu đô thị. Giá, được chiết khấu so giá danh nghĩa mà các thành viên của tập đoàn bảo lãnh chào bán. Mức chệnh lệch là lợi nhuận của bên bảo lãnh. Bảo lãnh phát hành. Phần của đợt chào bán chứng khoán mà mỗi thành viên của tập đoàn bảo lãnh mua để bán lại cho các nhà đầu tư. Cũng đề cập giá được trả bởi các bên bảo lãnh trong một đợt chào bán chứng khoán mới.
Going Short / Vị thế dự phòng bán khống
Chiến lược phòng ngừa rủi ro qua đó ngân hàng đạt được cam kết kì hạn hoặc cam kết dự phòng từ người mua của thị trường thứ cấp, về việc mua các khoản vay trước khi chúng thực sự được giao. Bằng việc có được cam kết, người cho vay có thể chốt lãi suất cầm cố nếu lãi suất kì vọng tăng hoặc giảm. Trong ngành chứng khoản, để chỉ việc bán chứng khoán không thực sự sở hữu bởi nhà đầu tư - việc bán khống khi dự kiến vị thế mở tạo ra bởi việc bán có thể bị đóng lại khi chứng khoán được mua sau đó với giá thấp hơn.
Take A Position / Giữ Một Vị Thế
Thuật ngữ phổ biến dùng cho các hoạt động của một người đầu cơ trong thị trường, với kỳ vọng kiếm lợi nhuận. Một vị thế có thể trường (long) hoặc đoản (short) vào cuối ngày giao dịch. Một nhà giao dịch mua chứng khoán, ngoại hối hoặc các công cụ của thị trường tiền tệ để dự trữ, với kỳ vọng bán ra sau này để kiếm lời. Nếu giữ cho các định chế hoặc cho khách hàng khác, thì các chứng khoán đó được liệt kê như một phần của tài sản trong tài khoản giao dịch của ngân hàng. Còn được gọi là Taking a view.
Tail / Mức Chênh Lệch, Đuôi
Trong đấu giá Kho bạc Hoa lỳ, chênh lệch giá giữa giá chào cạnh tranh trung bình [và giá bán chấp nhận thấp nhất (stopout price)] của hối phiếu, tín phiếu và trái phiếu được bán trong đấu giá Kho bạc. Thuật ngữ của thị trường tiền tệ dùng cho một công cụ tài chính được tài trợ một phần bởi thỏa thuận mua lại. Ví dụ, một nhà giao dịch mua Trái phiêu Kho bạc 90 ngày và bán thỏa thuận mua lại 30 ngày. Sự khác nhau về ngày đáo hạn giữa hai công cụ này là mức chênh lệch. Tài chính. Các con số xuất hiện sau dấu chấm thập phân trong bản yết giá trái phiếu. Ví dụ, trong giá chào bán $95.3712, đuôi là .3712. Giá trái phiếu cũng được niêm yết bằng đồng dollar cộng với 32/100 của một dollar. Di sản. Tài sản được thừa kế bởi người nối dõi trực tiếp, ví dụ, con hoặc cháu của người đã qua đời. Gọi là estate in tail.
Systemic Risk / Rủi Ro Hệ Thống
Khả năng thất bai của một ngân hàng trong dàn xếp các giao dịch ròng với các ngân hàng khác sẽ kích hoạt một phản ứng dây chuyền, loại bỏ các ngân hàng quỹ khác và thay vào đó ngăn chặn họ khóa các vị thế. Nếu diễn ra theo đúng logic, có khả năng là các định chế không có giao dịch kinh doanh với ngân hàng phá sản, cuối cùng cũng sẽ chịu tác động bởi sự khóa sổ của hoạt động thanh lý và thanh toán thông thường, một tình huống được biết đến như sự nghẽn mạng (gridlock) của hệ thống thanh toán. Các mạng lưới thanh toán số tiền lớn có các nguyên tắc đặc biệt được thiết kế để ngăn chặn sự thất bại thanh toán trên toàn hệ thống. Xem FEDERAL WIRE; NET SETTLEMENT; OVERDRAFT CAP
Synthetic Security / Chứng Khoán Tổng Hợp
Sự kết hợp các công cụ tài chính dẫn đến một công cụ thị trường có thể đạt được các đặc điểm khác biệt, ví dụ, lợi suất cao, khả năng thanh toán tốt, hay bảo vệ lãi suất. Những chứng khoán này bắt chước các công cụ tài chính truyền thống mà các nhà đầu tư có thể tiếp cận hoặc không. Hầu hết các giao dịch như thế là các đầu tư nhân có liên quan đến hai nhà đầu tư, và thường được tạo ra thông qua hoán đổi lãi suất, ví dụ, tạo ra tín phiếu lãi suất thả nổi tổng hợp, bằng cách kết hợp trái phiếu có lãi suất cố định và hoán đổi lãi suất. Xem ASSET SWAP.
Going Long / Vị thế đầu tư
Cấp phát khoản vay cầm cố ban đầu không có mục cam kết chắc chắn từ một nhà đầu tư của thị trường thứu cấp. Nếu lãi suất ổn định, người cho vay có thể duy trì những khoản vay này trong danh mục đầu tư, hoặc cố gắng giao chúng cho bên mua vào thời hạn trễ hơn. Trong ngành chứng khoán, để chỉ việc mua chứng khoán cho đầu tư hay đầu cơ, và không có kế hoạch báo lại ngay.
Go-Around / Thăm dò
Là quá trình các doanh nghiệp đưa ra các yết giá cạnh tranh khi Ủy ban thị trường mở Liên bang mua (hoặc bán ) trên thị trường chứng khoán mở, khi thực hiện chính sách tiền tệ của Cục dự trữ Liên bang. The Go-Around là một nghiên cứu bằng điện thoại của Phòng thị trường mở tại Ngân hàng dự trữ liên bang của New York, báo hiệu ý định của Cục dự trữ Liên bang, giao dịch với những trung tâm giao dịch chứng khoán của chính phủ trên thị trường sơ cấp. Việc mua chứng khoán sẽ làm tăng dự trữ của ngân hàng, tăng nguồn vốn để cho vay của ngân hàng , còn việc bán sẽ có những tác động ngược lại.
Swingline / Hạn Mức Tạm Thời
Hạn mức hỗ trợ Tín dụng ngắn hạn có thể được thu hồi với thông báo rất ngắn, và thường được thỏa thuận bởi một ngân hàng của công ty phát hành thương phiếu. Hạn mức hỗ trợ cung cấp sự tài trợ khi cần, để trang trải sự thiếu hụt tiềm năng có thể diễn ra, nếu tiền thu được từ kinh doanh không đủ để thu hồi nợ phát sinh khi phát hành thương phiếu, hay nếu công ty phát hành không thể tái tục một thương phiếu sắp đáo hạn
Swap Transfering Risk With Participating Elements (STRIPE) / Hoán Đổi Quyền Rủi Ro Với Yếu Tố Tham Gia
Kỹ thuật phòng ngừa kết hợp hoán đổi lãi suất và mức lãi suất tối đa. Một tỉ lệ phần trăm trên số tiền được tài trợ, thí dụ 50%, được vay theo lãi suất cố định, phần còn lại được tài trợ theo lãi suất thả nổi với mức trần đã thỏa thuận. Nếu lãi suất giảm, người vay sẽ tham gia một nửa lợi ích do việc giảm lãi suất trên 50% được trang trải bởi mức tối đa. Người vay cũng được bảo vệ khỏi sự biến động tăng lãi suất bởi mức tối đa trên phần của khoản nợ có lãi suất thả nổi. Người vay cũng không trả phí thỏa thuận hoán đổi; thay vào đó, người cho vay định giá phần khoản vay có lãi suất cố định trên lãi suất mà người vay có được trong hoán đổi lãi suất trực tiếp. Xem CAP; COLLAR; FLOOR






